
2 Tê-sa-lô-ni-ca 2
2 Tê-sa-lô-ni-ca 2 cảnh báo các tín hữu đừng để bị lừa dối về sự đến của Chúa. Một số người đã làm rối trí người Tê-sa-lô-ni-ca bằng cách tuyên bố rằng Ngày của Chúa đã đến rồi. Phao-lô sửa lại sự hiểu lầm này và giải thích rằng một số sự kiện phải xảy ra trước. Sẽ có một sự bội đạo lớn, tức là sự lìa bỏ lẽ thật, và “người tội lỗi” hay “kẻ vô luật pháp” sẽ được bày tỏ. Chương này nói về sự bội đạo, sự lừa dối, quyền lực chống Đấng Christ, và chiến thắng cuối cùng của Đấng Christ trên sự vô luật pháp.
2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-10
1 Hỡi anh em, về sự đến của Chúa Giê-su Christ chúng ta và việc chúng ta được nhóm lại cùng Ngài, chúng tôi nài xin anh em,
2 đừng vội bị lay động trong tâm trí hoặc bối rối, dù bởi thần linh, lời nói, hay thư từ nào dường như là từ chúng tôi, như thể ngày của Đấng Christ đã đến rồi.
3 Đừng để ai lừa dối anh em bằng bất cứ cách nào; vì ngày ấy sẽ không đến nếu trước hết chưa có sự bội đạo, và người tội lỗi được bày tỏ, là con của sự hư mất,
4 kẻ chống nghịch và tự tôn mình lên trên mọi điều được gọi là Đức Chúa Trời hoặc được thờ phượng, đến nỗi nó ngồi như Đức Chúa Trời trong đền thờ của Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời.
5 Anh em không nhớ rằng khi tôi còn ở với anh em, tôi đã nói với anh em những điều này sao?
6 Và bây giờ anh em biết điều gì đang ngăn trở, để nó được bày tỏ đúng thời điểm của nó.
7 Vì sự mầu nhiệm của sự vô luật pháp đã đang hành động rồi; chỉ có Đấng hiện đang ngăn trở sẽ tiếp tục ngăn trở cho đến khi Ngài được cất khỏi đường.
8 Bấy giờ kẻ vô luật pháp sẽ được bày tỏ, là kẻ Chúa sẽ tiêu diệt bằng hơi thở của miệng Ngài và hủy diệt bởi sự sáng láng khi Ngài đến.
9 Sự đến của kẻ vô luật pháp là theo hoạt động của Sa-tan, với mọi quyền năng, dấu kỳ, và phép lạ giả dối,
10 cùng với mọi sự lừa dối bất chính giữa những kẻ hư mất, vì họ đã không tiếp nhận lòng yêu mến lẽ thật để được cứu.
Phao-lô nói về một sự bội đạo lớn, tức là sự lìa bỏ lẽ thật, và sự trỗi dậy của “người tội lỗi.” Quyền lực này tự tôn mình lên trên Đức Chúa Trời, chống lại lẽ thật thần thượng, và lừa dối người ta bằng sự giả dối. Phân đoạn này có thể được hiểu là không chỉ nói về một cá nhân riêng lẻ, nhưng về một tổ chức hay hệ thống tôn giáo, đặc biệt là hệ thống giáo hoàng, vì nhiều lý do. Thứ nhất, “người tội lỗi” tiếp tục tồn tại trong một thời gian dài. Phao-lô nói rằng “sự mầu nhiệm của sự vô luật pháp” đã đang hành động trong thời của ông, nhưng về sau sẽ được bày tỏ đầy đủ và tiếp tục cho đến khi Đấng Christ hủy diệt nó lúc Ngài tái lâm. “Sự mầu nhiệm của sự vô luật pháp” có nghĩa là tinh thần phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời đã âm thầm hoạt động trong Hội Thánh đầu tiên, ngay cả trước khi “người tội lỗi” được bày tỏ đầy đủ. Nó chưa phát triển cách công khai, nhưng hạt giống đã có sẵn: sự kiêu ngạo, thẩm quyền loài người thay thế thẩm quyền của Đức Chúa Trời, giáo lý sai lạc đi vào Hội Thánh, và người ta dùng danh Đấng Christ trong khi dần dần lìa bỏ lẽ thật của Đấng Christ. Sự vô luật pháp này không xuất hiện chủ yếu như chủ nghĩa vô thần công khai, nhưng như sự bại hoại ẩn giấu bên trong tôn giáo. Theo thời gian, tinh thần vô luật pháp ẩn giấu này lớn lên thành một hệ thống tôn giáo hữu hình, tôn cao truyền thống loài người trên lời Đức Chúa Trời, tuyên bố thẩm quyền thuộc về Đức Chúa Trời, và chống lại lẽ thật trong khi vẫn mang hình thức Cơ Đốc. Ảnh hưởng lịch sử lâu dài này phù hợp với một hệ thống hay tổ chức hơn là một cá nhân phàm nhân. Thứ hai, lời tiên tri Kinh Thánh thường dùng một hình ảnh biểu tượng để đại diện cho một quyền lực hay vương quốc lớn hơn. Ví dụ, trong Đa-ni-ên 7, “sừng nhỏ” đại diện cho một quyền lực tôn giáo-chính trị, chứ không chỉ là một người. Cũng vậy, “người tội lỗi” có thể đại diện cho cả một hệ thống và giới lãnh đạo của hệ thống đó. Thứ ba, “người tội lỗi” ngồi “trong đền thờ của Đức Chúa Trời,” tự xưng mình là Đức Chúa Trời. Đền thờ của Đức Chúa Trời có thể được hiểu theo nghĩa biểu tượng là Hội Thánh, chứ không phải một tòa nhà đền thờ theo nghĩa đen. Điều này chỉ đến một quyền lực nổi lên bên trong Cơ Đốc giáo, tuyên bố thẩm quyền tôn giáo trên dân sự Đức Chúa Trời. Hệ thống giáo hoàng phù hợp với mô tả này vì nó tuyên bố thẩm quyền trên Hội Thánh, dạy giáo lý về sự bất khả ngộ của giáo hoàng, tuyên bố quyền tha tội qua hàng giáo phẩm, và nhận lấy thẩm quyền trong những vấn đề chỉ thuộc về Đức Chúa Trời. Thứ tư, hàng giáo phẩm Công giáo La Mã tuyên bố có thẩm quyền tha tội qua sự xưng tội, nói rằng thẩm quyền này được truyền lại từ Đấng Christ cho các sứ đồ và những người kế vị họ. Tuy nhiên, Kinh Thánh dạy rằng chỉ Đức Chúa Trời mới có thể tha tội theo nghĩa tối hậu. Ngoài ra, giáo hoàng dùng những danh hiệu như “Đức Thánh Cha” và “Đại Diện của Đấng Christ,” là những danh hiệu gợi ý rằng ông đứng thay chỗ của Đức Chúa Trời hoặc Đấng Christ trên đất. Điều này phù hợp với mô tả của Phao-lô về một quyền lực ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời và tự trình bày mình như có thẩm quyền thần thượng. Thứ năm, về mặt lịch sử, hệ thống giáo hoàng phát triển dần dần khi Hội Thánh và nhà nước bắt đầu liên kết trong những thế kỷ đầu. Nó đạt được quyền lực tôn giáo và chính trị mạnh mẽ sau sự suy tàn của Đế quốc La Mã. Điều này phù hợp với lời của Phao-lô rằng có một điều gì đó đang ngăn trở sự bày tỏ đầy đủ của quyền lực này cho đến đúng thời điểm. Nhiều nhà giải nghĩa Tin Lành theo quan điểm lịch sử hiểu quyền lực ngăn trở đó là La Mã ngoại giáo, phải bị dời đi trước khi La Mã giáo hoàng có thể nổi lên đến địa vị tối cao. Thứ sáu, Phao-lô nói rằng kẻ vô luật pháp sẽ hành động với sự lừa dối, dấu kỳ, và phép lạ giả dối. Điều này chỉ đến sự lừa dối tôn giáo, chứ không phải chủ nghĩa vô thần công khai. Hệ thống giáo hoàng đã đưa vào nhiều giáo lý và thực hành không có trong Kinh Thánh, như việc tôn ngày Chủ nhật thay cho ngày Sa-bát, tôn kính các thánh, ân xá, và những truyền thống khác khiến người ta lìa khỏi lẽ thật đơn sơ của lời Đức Chúa Trời. Thứ bảy, hệ thống giáo hoàng tôn cao thẩm quyền loài người trên Đức Chúa Trời bằng cách tuyên bố quyền định nghĩa giáo lý và thay đổi luật pháp của Đức Chúa Trời. Điều này đặc biệt thấy rõ trong sự thay đổi từ ngày Sa-bát thứ bảy sang Chủ nhật, và trong cách Mười Điều Răn thường được trình bày trong giáo lý Công giáo. Những tuyên bố như vậy phù hợp với mô tả về một quyền lực tự tôn mình lên trên Đức Chúa Trời và chống lại lẽ thật của Ngài. Thứ tám, “người tội lỗi” tiếp tục tồn tại cho đến sự tái lâm của Đấng Christ, khi Chúa sẽ hủy diệt nó bởi sự sáng láng khi Ngài đến. Điều này một lần nữa chỉ đến một hệ thống tôn giáo-chính trị tồn tại lâu dài cho đến thời kỳ cuối cùng, hơn là một cá nhân chỉ sống trong một thế hệ. Theo cách giải thích này, “người tội lỗi” chỉ về hệ thống giáo hoàng như một tổ chức đã ảnh hưởng đến Cơ Đốc giáo qua nhiều thế kỷ, đưa vào các giáo lý sai lạc, và đặt thẩm quyền loài người vào nơi mà thẩm quyền của Đức Chúa Trời phải đứng. Những tuyên bố của hệ thống ấy về quyền tha tội của hàng giáo phẩm, thẩm quyền giáo hoàng, và sự thay đổi luật pháp Đức Chúa Trời phù hợp với lời tiên tri của Phao-lô về một quyền lực tự tôn mình chống lại Đức Chúa Trời và tiếp tục lừa dối cho đến khi Đấng Christ trở lại.
2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11-12
11 Vì lý do này, Đức Chúa Trời sẽ gửi đến họ sự mê hoặc mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá,
12 hầu cho tất cả những ai không tin lẽ thật nhưng vui thích trong sự bất chính đều bị định tội.
Phao-lô giải thích điều xảy ra cho những người khước từ lẽ thật. Vì họ từ chối yêu mến và tiếp nhận lẽ thật, Đức Chúa Trời cho phép họ rơi vào sự mê hoặc mạnh mẽ. Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời ép họ tin lời dối trá trái với ý muốn của họ. Đúng hơn, vì họ chọn bóng tối thay vì lẽ thật, Đức Chúa Trời cho phép họ đi theo sự lừa dối mà họ đã ưa thích. Họ tin “điều dối trá” vì họ không muốn lẽ thật và vui thích trong sự bất chính. Đây là một lời cảnh báo nghiêm trọng: khi người ta liên tục khước từ lẽ thật của Đức Chúa Trời, lòng họ có thể trở nên cứng cỏi đến nỗi sự giả dối bắt đầu trông giống như lẽ thật đối với họ.
2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-17
13 Nhưng hỡi anh em, là những người được Chúa yêu thương, chúng tôi phải luôn cảm tạ Đức Chúa Trời về anh em, vì Đức Chúa Trời từ ban đầu đã chọn anh em để được cứu, qua sự thánh hóa bởi Thánh Linh và niềm tin nơi lẽ thật,
14 là điều Ngài đã kêu gọi anh em qua phúc âm của chúng tôi, để nhận lấy vinh hiển của Chúa Giê-su Christ chúng ta.
15 Vậy, hỡi anh em, hãy đứng vững và giữ chặt những sự dạy dỗ mà anh em đã được truyền dạy, dù bằng lời nói hay bằng thư của chúng tôi.
16 Nguyện chính Chúa Giê-su Christ chúng ta, và Đức Chúa Trời là Cha chúng ta, Đấng đã yêu thương chúng ta và bởi ân điển ban cho chúng ta sự an ủi đời đời cùng niềm hy vọng tốt lành,
17 an ủi lòng anh em và làm cho anh em vững lập trong mọi lời nói và việc làm tốt lành.
Bây giờ Phao-lô đối chiếu những người bị lừa dối với các tín hữu trung tín. Thay vì khước từ lẽ thật, người Tê-sa-lô-ni-ca đã tin lẽ thật và đang được thánh hóa bởi Thánh Linh. Phao-lô cảm tạ Đức Chúa Trời về họ vì họ được Chúa yêu thương và được kêu gọi đến sự cứu rỗi qua phúc âm. Niềm hy vọng của họ là được dự phần trong vinh hiển của Chúa Giê-su Christ. Vì vậy, Phao-lô khuyên họ hãy đứng vững và giữ chặt những sự dạy dỗ họ đã nhận, dù được Phao-lô trực tiếp nói ra hay viết trong thư của ông. Ông kết thúc bằng lời cầu nguyện xin Chúa Giê-su Christ và Đức Chúa Trời là Cha, Đấng đã yêu thương họ và bởi ân điển ban cho họ sự an ủi đời đời cùng niềm hy vọng tốt lành, an ủi lòng họ và làm cho họ vững lập trong mọi lời nói và việc làm tốt lành. Điều này cho thấy các tín hữu được giữ vững không phải chỉ bởi nỗ lực của con người, nhưng bởi ân điển, lẽ thật, và quyền năng của Đức Chúa Trời đang hành động trong họ.

