
Công Vụ 2
Công Vụ 2 ghi lại sự ứng nghiệm lời hứa của Giê-su về việc ban Thánh Linh và đánh dấu sự khởi đầu đầy quyền năng của Hội Thánh Cơ Đốc. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và bắt đầu nói bằng những ngôn ngữ khác, khiến những người từ nhiều quốc gia khác nhau có thể nghe về những việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Sau đó, Phi-e-rơ giảng rằng sự tuôn đổ này làm ứng nghiệm lời tiên tri của Giô-ên, rằng Giê-su đã bị đóng đinh, được Đức Chúa Trời khiến sống lại từ kẻ chết, được tôn cao bên hữu Đức Chúa Trời, và được lập làm Chúa và Đấng Christ. Nhiều người được cáo trách trong lòng, ăn năn, chịu báp-têm, nhận lãnh lời hứa về Thánh Linh, và khoảng ba ngàn người được thêm vào Hội Thánh. Chương này kết thúc bằng việc mô tả các tín hữu đầu tiên sống trong sự dạy dỗ, thông công, cầu nguyện, hiệp một, rộng rãi, ngợi khen, và tăng trưởng mỗi ngày.
Công Vụ 2:1-4
1 Khi ngày Lễ Ngũ Tuần đến, tất cả họ đều đồng lòng nhóm lại một chỗ.
2 Thình lình, có một tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi mạnh, đầy khắp cả nhà nơi họ đang ngồi.
3 Rồi có những lưỡi như lửa hiện ra, phân chia ra và đậu trên mỗi người trong họ.
4 Tất cả đều được đầy dẫy Thánh Linh và bắt đầu nói các thứ tiếng khác, theo như Thánh Linh ban cho họ nói.
Các môn đồ, hiệp một trong mục đích và sự cầu nguyện, đã kinh nghiệm một sự kiện siêu nhiên sâu sắc vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Tiếng gió mạnh tượng trưng cho Thần Linh của Đức Chúa Trời đang vận hành giữa họ, trong khi những lưỡi lửa hữu hình tượng trưng cho sự hiện diện và sự ban quyền năng từ trời. Được đầy dẫy Thánh Linh, họ bắt đầu nói bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, giúp họ truyền đạt phúc âm cho những người từ các quốc gia khác nhau đang nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem. Giây phút này đánh dấu sự ứng nghiệm lời hứa của Giê-su về quyền năng của Thánh Linh để làm chứng.
Công Vụ 2:5-13
5 Bấy giờ có những người Do Thái đạo đức từ mọi quốc gia dưới trời đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.
6 Khi tiếng ấy vang ra, đoàn dân đông tụ họp lại và đều bối rối, vì mỗi người đều nghe họ nói bằng chính ngôn ngữ của mình.
7 Họ đều kinh ngạc và ngạc nhiên, nói với nhau: “Kìa, tất cả những người đang nói đó chẳng phải là người Ga-li-lê sao?
8 Vậy làm sao mỗi chúng ta lại nghe họ nói bằng ngôn ngữ quê hương của mình?
9 Người Bạt-thê, người Mê-đi, người Ê-lam, những người ở Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê và Ca-ba-đốc, Bông và A-si,
10 Phi-ri-gi và Bam-phi-ly, Ai Cập và các vùng Ly-bi gần Sy-ren, những khách từ Rô-ma, cả người Do Thái lẫn người cải đạo,
11 người Cơ-rết và người A-rập — chúng ta đều nghe họ nói bằng tiếng của chúng ta về những việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời.”
12 Tất cả đều kinh ngạc và bối rối, nói với nhau: “Điều này có nghĩa gì?”
13 Nhưng có những người khác chế nhạo rằng: “Họ say rượu mới.”
Những người Do Thái từ nhiều quốc gia đang có mặt tại Giê-ru-sa-lem, và khi họ nghe tiếng ấy, một đoàn dân đông tụ họp lại. Họ kinh ngạc vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói bằng chính ngôn ngữ của mình. Đây không phải là những âm thanh vô nghĩa, nhưng là những ngôn ngữ thật mà những người từ các vùng khác nhau có thể hiểu được. Các môn đồ đang công bố những việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời, cho thấy phúc âm được dành cho mọi dân tộc. Một số người kinh ngạc và muốn hiểu điều gì đang xảy ra, trong khi những người khác chế nhạo và cáo buộc họ say rượu. Điều này cho thấy cùng một công việc của Đức Chúa Trời có thể đem đến đức tin trong một số lòng người, nhưng cũng bị người khác khước từ vì không tin.
Công Vụ 2:14-15
14 Nhưng Phi-e-rơ đứng lên cùng với mười một sứ đồ, cất tiếng nói với họ rằng: “Hỡi người Giu-đê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi.
15 Những người này không say như các ông tưởng đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba trong ngày.
Phi-e-rơ đứng lên cùng với mười một sứ đồ và bắt đầu giải thích điều đang xảy ra. Trước hết, ông trả lời lời cáo buộc rằng các môn đồ say rượu, bằng cách chỉ ra rằng lúc ấy mới là giờ thứ ba trong ngày, tức khoảng 9 giờ sáng. Câu trả lời của ông bình tĩnh và hợp lý, cho thấy sự kiện này không phải là sự hỗn loạn hay say sưa, nhưng là một công việc nghiêm túc của Đức Chúa Trời. Đây là phần mở đầu cho bài giảng đầy quyền năng của Phi-e-rơ trước đoàn dân.
Công Vụ 2:16-20
16 Nhưng đây là điều đã được tiên tri Giô-ên nói đến:
17 “Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Linh Ta trên mọi xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, thanh niên các ngươi sẽ thấy khải tượng, người già các ngươi sẽ thấy chiêm bao.
18 Trong những ngày ấy, Ta cũng sẽ đổ Thần Linh Ta trên các đầy tớ trai và đầy tớ gái của Ta; và họ sẽ nói tiên tri.
19 Ta sẽ bày tỏ những điều kỳ diệu trên trời cao và những dấu lạ dưới đất thấp: máu, lửa, và luồng khói.
20 Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, mặt trăng sẽ trở nên máu, trước khi ngày lớn và đáng kính sợ của Chúa đến.”
Phi-e-rơ giải thích rằng sự tuôn đổ Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần là sự khởi đầu của việc ứng nghiệm lời tiên tri của Giô-ên. Đức Chúa Trời đã hứa đổ Thần Linh Ngài trên mọi xác thịt, không chỉ trên một số tiên tri hay lãnh đạo, nhưng trên mọi tín hữu — nam và nữ, trẻ và già, đầy tớ trai và đầy tớ gái. Sự tuôn đổ này ban cho các môn đồ quyền năng, sự dạn dĩ, sự hiểu biết, và các ân tứ thuộc linh để rao truyền phúc âm. Lễ Ngũ Tuần có thể được hiểu là mưa đầu mùa, khởi đầu công việc phúc âm trong quyền năng, trong khi Kinh Thánh cũng chỉ về một cơn mưa cuối mùa trước khi Đấng Christ trở lại. Lời tiên tri của Giô-ên chưa hoàn tất trọn vẹn tại Lễ Ngũ Tuần, vì lời ấy cũng nói đến các dấu lạ trên trời và dưới đất trước ngày lớn của Chúa. Vì vậy, Lễ Ngũ Tuần vừa là sự khởi đầu thật của lời tiên tri Giô-ên, vừa là hình ảnh báo trước công việc cuối cùng mà Đức Chúa Trời sẽ làm qua dân Ngài trước khi Giê-su tái lâm.
Công Vụ 2:21
21 Và ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu.
Phi-e-rơ kết thúc lời tiên tri của Giô-ên bằng lời hứa rằng ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Điều này cho thấy sự cứu rỗi được ban cho tất cả những ai quay về với Đức Chúa Trời trong đức tin. Sự cứu rỗi không bị giới hạn bởi một dân tộc, giai cấp, tuổi tác, hay nhóm người nào. Bất cứ ai đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời, ăn năn, và tin cậy nơi Chúa đều có thể nhận được sự cứu rỗi.
Công Vụ 2:22-24
22 “Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe những lời này: Giê-su người Na-xa-rét là người đã được Đức Chúa Trời chứng nhận giữa các ông bằng những phép lạ, việc kỳ diệu, và dấu lạ mà Đức Chúa Trời đã làm qua Ngài giữa các ông, như chính các ông đã biết.
23 Ngài đã bị nộp theo ý định chắc chắn và sự biết trước của Đức Chúa Trời; các ông đã dùng tay những kẻ gian ác mà đóng đinh Ngài và giết đi.
24 Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, giải thoát Ngài khỏi sự đau đớn của sự chết, vì sự chết không thể giữ Ngài được.”
Bây giờ Phi-e-rơ hướng đoàn dân đến Giê-su. Đức Chúa Trời đã chứng nhận Giê-su bằng các phép lạ, việc kỳ diệu, và dấu lạ, là những điều nhiều người trong họ đã biết. Tuy nhiên, Giê-su đã bị đóng đinh bởi tay những kẻ gian ác. Phi-e-rơ cho thấy cả hai mặt: sự chết của Giê-su xảy ra theo ý định chắc chắn và sự biết trước của Đức Chúa Trời, nhưng con người vẫn chịu trách nhiệm vì đã khước từ và đóng đinh Ngài. Nhưng sự chết không thể giữ Giê-su được. Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết, chứng minh rằng Ngài là Đấng Mê-si-a và quyền năng của Đức Chúa Trời lớn hơn tội lỗi và sự chết.
Công Vụ 2:25-28
25 Vì Đa-vít nói về Ngài rằng: “Tôi hằng thấy Chúa ở trước mặt tôi, vì Ngài ở bên phải tôi, để tôi không bị rúng động.
26 Vì vậy lòng tôi vui mừng, lưỡi tôi hân hoan; hơn nữa, thân xác tôi cũng sẽ nghỉ yên trong hy vọng.
27 Vì Ngài sẽ không để linh hồn tôi trong âm phủ, cũng không để Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát.
28 Ngài đã cho tôi biết con đường sự sống; Ngài sẽ làm cho tôi đầy dẫy niềm vui trong sự hiện diện của Ngài.”
Phi-e-rơ trích lời Đa-vít để cho thấy Kinh Thánh đã nói trước về sự phục sinh của Đấng Mê-si-a. Đa-vít nói rằng Đức Chúa Trời sẽ không để Đấng Thánh của Ngài ở trong âm phủ, cũng không để Ngài thấy sự hư nát. Điều này không thể ứng nghiệm trọn vẹn nơi chính Đa-vít, vì Đa-vít đã chết và thân thể ông đã hư nát. Lời ấy chỉ về Đấng Christ, Đấng mà thân thể không thấy sự hư nát vì Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết. Lời tiên tri này cho thấy niềm hy vọng, sự vui mừng, và chiến thắng của sự sống phục sinh trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Công Vụ 2:29-35
29 “Thưa anh em, tôi có thể nói rõ với anh em về tổ phụ Đa-vít rằng ông đã chết và được chôn, mộ của ông vẫn còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay.
30 Vì ông là tiên tri, và biết rằng Đức Chúa Trời đã thề với ông rằng một Đấng từ dòng dõi ông theo xác thịt sẽ được dựng lên để ngồi trên ngai ông,
31 nên ông thấy trước và nói về sự phục sinh của Đấng Christ, rằng linh hồn Ngài không bị bỏ trong âm phủ, và thân xác Ngài không thấy sự hư nát.
32 Chính Giê-su này Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và tất cả chúng tôi đều là nhân chứng về điều đó.
33 Vậy, sau khi được tôn cao bên hữu Đức Chúa Trời, và đã nhận từ Cha lời hứa về Thánh Linh, Ngài đã đổ ra điều mà các ông hiện thấy và nghe đây.
34 Vì Đa-vít không lên trời, nhưng chính ông nói: “Chúa phán cùng Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải Ta,
35 cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của Con làm bệ dưới chân Con.”
Phi-e-rơ giải thích rằng lời tiên tri của Đa-vít thật ra nói về Đấng Christ. Đa-vít đã chết và được chôn, nên những lời về việc không thấy sự hư nát không thể cuối cùng chỉ về ông. Là một tiên tri, Đa-vít biết rằng Đức Chúa Trời đã hứa một Đấng từ dòng dõi ông sẽ ngồi trên ngai ông. Phi-e-rơ nói điều này đã được ứng nghiệm nơi Giê-su, Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại từ kẻ chết, và các sứ đồ là nhân chứng về điều đó. Sau đó Giê-su được tôn cao bên hữu Đức Chúa Trời. Từ Cha, Ngài nhận lời hứa về Thánh Linh và đổ ra điều mà dân chúng đang thấy và nghe tại Lễ Ngũ Tuần. Điều này cho thấy Cha đã ban Thánh Linh cho Con được tôn cao của Ngài, và Con đã đổ Thánh Linh ấy trên dân Ngài. Phi-e-rơ cũng trích Thi Thiên 110 để cho thấy Đa-vít nhận biết một Chúa cao trọng hơn, tức Đấng Christ, Đấng hiện đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời cho đến khi các kẻ thù của Ngài bị đặt làm bệ dưới chân Ngài.
Công Vụ 2:36
36 Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên phải biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã lập Giê-su này, Đấng mà các ông đã đóng đinh, làm Chúa và Đấng Christ.”
Phi-e-rơ kết luận bằng cách tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã lập Giê-su làm Chúa và Đấng Christ. Chính Giê-su mà họ đã khước từ và đóng đinh đã được Đức Chúa Trời khiến sống lại, tôn cao, và xác nhận là Đấng Mê-si-a đã hứa. Đây là một lời kêu gọi mạnh mẽ để dân Y-sơ-ra-ên nhận biết sự thật về Giê-su và đáp lại bằng sự ăn năn cùng đức tin.
Công Vụ 2:37-38
37 Khi nghe những lời ấy, họ đau nhói trong lòng và nói với Phi-e-rơ cùng các sứ đồ khác rằng: “Thưa anh em, chúng tôi phải làm gì?”
38 Phi-e-rơ nói với họ: “Hãy ăn năn, mỗi người trong anh em hãy chịu báp-têm trong danh Giê-su Christ để được tha tội; rồi anh em sẽ nhận lãnh ân tứ của Thánh Linh.”
Khi dân chúng nghe sứ điệp của Phi-e-rơ, họ đau nhói trong lòng. Điều này có nghĩa là họ bị cáo trách sâu sắc, đặc biệt về việc đã khước từ Giê-su là Đấng Mê-si-a. Câu hỏi của họ: “Chúng tôi phải làm gì?” cho thấy lòng khao khát chân thành muốn đáp lại cách đúng đắn. Phi-e-rơ bảo họ hãy ăn năn, nghĩa là quay khỏi tội lỗi và quay về với Đức Chúa Trời, nhìn nhận Giê-su là Đấng Christ. Ông cũng bảo họ chịu báp-têm trong danh Giê-su Christ, bày tỏ đức tin, sự ăn năn, và sự công khai đồng nhất mình với Ngài. Báp-têm chỉ về sự thanh tẩy, sự tha thứ, sự chết đối với đời sống cũ, và một đời sống mới dưới quyền của Đấng Christ. Phi-e-rơ cũng hứa rằng họ sẽ nhận lãnh ân tứ của Thánh Linh, tức sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời cư ngụ trong các tín hữu.
Công Vụ 2:39-47
39 Vì lời hứa này dành cho anh em, cho con cái anh em, và cho tất cả những người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, sẽ kêu gọi.”
40 Phi-e-rơ còn dùng nhiều lời khác để làm chứng và khuyên bảo họ rằng: “Hãy tự cứu mình khỏi thế hệ gian tà này.”
41 Vậy, những người vui lòng tiếp nhận lời ông đều chịu báp-têm; và trong ngày đó, có khoảng ba ngàn linh hồn được thêm vào.
42 Họ bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công, sự bẻ bánh, và sự cầu nguyện.
43 Mọi người đều kính sợ, và nhiều việc kỳ diệu cùng dấu lạ được thực hiện qua các sứ đồ.
44 Tất cả những người tin đều ở với nhau và có mọi vật làm của chung.
45 Họ bán tài sản và của cải mình, rồi phân phát cho mọi người tùy theo nhu cầu của mỗi người.
46 Hằng ngày, họ đồng lòng tiếp tục nhóm lại trong đền thờ, bẻ bánh từ nhà này sang nhà khác, dùng bữa với lòng vui mừng và đơn sơ,
47 ngợi khen Đức Chúa Trời và được lòng toàn dân. Mỗi ngày Chúa thêm vào Hội Thánh những người đang được cứu.
Phi-e-rơ giải thích rằng lời hứa về sự cứu rỗi và ân tứ Thánh Linh dành cho họ, cho con cái họ, và cho tất cả những người ở xa — tức là bao nhiêu người mà Chúa kêu gọi. Ông khuyên họ hãy được cứu khỏi thế hệ gian tà ấy. Những người vui lòng tiếp nhận lời ông đều chịu báp-têm, và trong ngày đó có khoảng ba ngàn linh hồn được thêm vào Hội Thánh. Các tín hữu mới bền lòng trong lời dạy của các sứ đồ, sự thông công, sự bẻ bánh, và sự cầu nguyện. Đời sống của họ được đánh dấu bởi lòng kính sợ, các dấu kỳ phép lạ, sự hiệp một, lòng rộng rãi, sự thông công mỗi ngày, niềm vui, lòng đơn sơ, và sự ngợi khen Đức Chúa Trời. Họ chăm sóc nhu cầu của nhau và sống như một cộng đồng thuộc linh đầy tình yêu thương. Kết quả là mỗi ngày Chúa thêm vào Hội Thánh những người đang được cứu.

