
Ga-la-ti 3
Ga-la-ti 3 giải thích sự khác biệt giữa luật pháp và đức tin. Phao-lô nhắc các tín hữu Ga-la-ti rằng họ đã bắt đầu đời sống Cơ Đốc bằng cách nhận lãnh Thánh Linh qua đức tin, chứ không bởi việc làm của luật pháp. Vì vậy, bây giờ họ không nên cố gắng trở nên trọn vẹn bằng cách nương cậy xác thịt, nỗ lực của con người, hoặc cách cũ của giao ước cũ trong việc liên hệ với luật pháp như văn tự. Luật pháp mà Phao-lô nói đến ở đây bao gồm toàn bộ hệ thống luật pháp, cả phương diện đạo đức lẫn nghi lễ, đặc biệt khi luật pháp được dùng như phương tiện để đạt được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Phao-lô dùng Áp-ra-ham làm ví dụ, cho thấy sự công bình luôn luôn đến bởi đức tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời, chứ không bởi sự giữ luật. Luật pháp có một mục đích, nhưng mang tính tạm thời. Luật pháp bày tỏ tội lỗi, kiềm chế sự vi phạm, và hành động như người giám hộ để dẫn con người đến với Đấng Christ. Nhưng nay Đấng Christ đã đến, người giám hộ đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Các tín hữu được xưng công bình bởi đức tin, trở thành con cái Đức Chúa Trời qua việc nhận lãnh Thánh Linh, và được kể là dòng dõi Áp-ra-ham cùng là người thừa kế theo lời hứa. Vì vậy, Ga-la-ti 3 cho thấy rằng chúng ta không còn tìm kiếm sự công bình qua việc làm của luật pháp hoặc sự cũ kỹ của văn tự, nhưng sống bởi đức tin nơi Đấng Christ, phục vụ Đức Chúa Trời “trong sự mới mẻ của Thánh Linh, chứ không trong sự cũ kỹ của văn tự” (Rô-ma 7:6).
Ga-la-ti 3:1–5
1 Hỡi người Ga-la-ti ngu muội! Ai đã mê hoặc anh em để không vâng theo lẽ thật, trong khi Giê-su Christ chịu đóng đinh đã được bày tỏ rõ ràng trước mắt anh em?
2 Tôi chỉ muốn biết điều này từ anh em: Anh em đã nhận lãnh Thánh Linh bởi việc làm của luật pháp, hay bởi nghe và tin?
3 Anh em thật ngu muội sao? Anh em đã bắt đầu bởi Thánh Linh, nay lại muốn được làm cho trọn vẹn bởi xác thịt sao?
4 Anh em đã chịu nhiều điều như vậy cách vô ích sao—nếu quả thật là vô ích?
5 Vậy, Đấng ban Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ giữa anh em, Ngài làm điều đó bởi việc làm của luật pháp, hay bởi nghe và tin?
Phao-lô nói cách mạnh mẽ với các tín hữu Ga-la-ti vì họ đang quay khỏi lẽ thật mà họ đã nhận lúc ban đầu. Đấng Christ chịu đóng đinh đã được trình bày rõ ràng cho họ, và họ đã nhận lãnh Thánh Linh bởi đức tin, chứ không bởi việc làm của luật pháp (Ga-la-ti 3:1–2). Phao-lô hỏi tại sao họ đã bắt đầu bởi Thánh Linh mà nay lại muốn được làm cho trọn vẹn bởi xác thịt (Ga-la-ti 3:3). Điều này có nghĩa là họ đang cố gắng lớn lên trong sự công bình bằng nỗ lực của con người, bằng sự quy định bên ngoài, và bằng sự nương cậy luật pháp. Nhưng họ đã tiếp nhận Đấng Christ bằng cách nào thì cũng phải tiếp tục bước đi bằng cách ấy—bởi đức tin và bởi sự hành động của Thánh Linh. Sự thánh khiết thật không đến từ văn tự được viết ra hoặc từ việc cố gắng nhiều hơn trong xác thịt, nhưng đến từ việc tin cậy Đấng Christ, nhìn xem Ngài, cứ ở trong Ngài, và để Thánh Linh của Ngài biến đổi tấm lòng. Ý của Phao-lô rất rõ ràng: đời sống Cơ Đốc bắt đầu bởi đức tin và phải tiếp tục bởi đức tin, qua sự sống và quyền năng của Thánh Linh đang ngự bên trong.
Ga-la-ti 3:6–9
6 Cũng như Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và điều đó được kể cho ông là công bình.”
7 Vậy hãy biết rằng những ai thuộc về đức tin thì là con cái của Áp-ra-ham.
8 Kinh Thánh thấy trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công bình cho dân ngoại bởi đức tin, nên đã rao truyền phúc âm trước cho Áp-ra-ham rằng: “Trong ngươi, mọi dân tộc sẽ được phước.”
9 Vậy, những ai thuộc về đức tin thì được phước cùng với Áp-ra-ham là người có đức tin.
Phao-lô dùng Áp-ra-ham để cho thấy sự công bình luôn luôn được nhận bởi đức tin, chứ không bởi việc làm của luật pháp. Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và đức tin của ông được kể cho ông là công bình. Điều này có nghĩa là con cái thật của Áp-ra-ham không chỉ là dòng dõi theo xác thịt, nhưng là những người có cùng đức tin như ông (Ga-la-ti 3:7). Đức Chúa Trời đã hứa trước rằng mọi dân tộc sẽ được phước qua Áp-ra-ham, cho thấy phúc âm đã bao gồm dân ngoại ngay từ ban đầu (Ga-la-ti 3:8). Vì vậy, sự cứu rỗi không bao giờ được dự định chỉ giới hạn cho một dân tộc hoặc dựa trên bản sắc Do Thái. Những ai tin nơi Đấng Christ thì được phước cùng với Áp-ra-ham là người có đức tin, nhận lãnh sự công bình và cơ nghiệp bởi đức tin (Ga-la-ti 3:9).
Ga-la-ti 3:10–12
10 Vì hết thảy những ai cậy việc làm của luật pháp đều ở dưới sự rủa sả; vì có lời chép rằng: “Đáng bị rủa sả là mọi kẻ không tiếp tục làm theo mọi điều đã chép trong sách luật pháp.”
11 Nhưng rõ ràng không ai được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời bởi luật pháp, vì “người công bình sẽ sống bởi đức tin.”
12 Nhưng luật pháp không dựa trên đức tin, mà nói rằng: “Ai làm những điều ấy thì sẽ sống bởi chúng.”
Phao-lô giải thích rằng bất cứ ai nương cậy việc làm của luật pháp để được xưng công bình thì ở dưới sự rủa sả, vì luật pháp đòi hỏi sự vâng phục trọn vẹn và liên tục (Ga-la-ti 3:10). Nếu một người cố gắng đứng công bình trước mặt Đức Chúa Trời bằng sự giữ luật, thì chỉ một lần thất bại cũng đem đến sự kết án. Sau đó, Phao-lô cho thấy từ Kinh Thánh rằng không ai được xưng công bình bởi luật pháp, vì “người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Ga-la-ti 3:11). Luật pháp hoạt động theo nguyên tắc làm, trong khi đức tin nương cậy vào lời hứa của Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 3:12). Vì vậy, luật pháp không bao giờ được ban làm con đường để kiếm được sự cứu rỗi. Luật pháp bày tỏ tội lỗi và cho thấy nhu cầu của nhân loại về Đấng Christ, nhưng sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin, chứ không bởi sự vâng phục mang tính luật pháp hay nỗ lực của con người.
Ga-la-ti 3:13–14
13 Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, khi trở nên sự rủa sả vì chúng ta—vì có lời chép rằng: “Đáng bị rủa sả là mọi kẻ bị treo trên cây gỗ”—
14 để phước lành của Áp-ra-ham đến với dân ngoại trong Đấng Christ Giê-su, hầu cho chúng ta bởi đức tin nhận được lời hứa về Thánh Linh.
Phao-lô giải thích rằng Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp bằng cách mang lấy hậu quả của tội lỗi và gánh chịu sức nặng của nó trên thập tự giá (Ga-la-ti 3:13). Sự rủa sả của luật pháp là sự kết án mà tội lỗi đem đến, vì tội lỗi phân cách chúng ta khỏi Đức Chúa Trời và dẫn đến sự chết (Ê-sai 59:2; Rô-ma 6:23). Đấng Christ, dù vô tội, đã chịu đựng thập tự giá và cảm nhận sức nặng khủng khiếp của tội lỗi cùng sự rút lui của sự hiện diện của Cha Ngài, khi Ngài kêu lên: “Đức Chúa Trời của Con, Đức Chúa Trời của Con, sao Ngài lìa bỏ Con?” (Ma-thi-ơ 27:46). Ellen White giải thích rằng Đấng Christ không thể nhìn xuyên qua các cửa mộ và lo sợ rằng tội lỗi có thể phân cách Ngài khỏi Cha mãi mãi (Nguyện Ước Thời Đại, trang 753). Tuy nhiên, Ngài vẫn trung tín, hoàn toàn tin cậy Cha và phó chính mình trong tình yêu trọn vẹn (Lu-ca 22:42). Qua sự hy sinh quên mình này, Đấng Christ mở đường để phước lành của Áp-ra-ham đến với dân ngoại, hầu cho tất cả những ai tin có thể nhận lãnh lời hứa về Thánh Linh bởi đức tin (Ga-la-ti 3:14).
Ga-la-ti 3:15–16
15 Thưa anh em, tôi nói theo cách loài người: dù chỉ là giao ước của loài người, nhưng khi đã được xác nhận, thì không ai hủy bỏ hoặc thêm gì vào được.
16 Các lời hứa đã được ban cho Áp-ra-ham và Dòng Dõi của ông. Kinh Thánh không nói: “Và cho các dòng dõi,” như nói về nhiều người, nhưng nói về một người: “Và cho Dòng Dõi ngươi,” tức là Đấng Christ.
Phao-lô giải thích rằng ngay cả một giao ước của loài người, khi đã được xác nhận, cũng không thể bị hủy bỏ hoặc thay đổi (Ga-la-ti 3:15). Cũng vậy, lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham không thể bị luật pháp đến sau đó hủy bỏ. Sau đó, Phao-lô cho thấy lời hứa được ban cho Áp-ra-ham và “Dòng Dõi” của ông, và ông xác định Dòng Dõi ấy chính là Đấng Christ (Ga-la-ti 3:16). Điều này có nghĩa là lời hứa ban phước cho mọi dân tộc cuối cùng được làm trọn qua Giê-su, chứ không phải chỉ qua dòng dõi theo xác thịt hoặc qua việc giữ luật pháp. Kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời luôn luôn tập trung nơi Đấng Christ và được nhận bởi đức tin nơi lời hứa của Ngài.
Ga-la-ti 3:17–18
17 Tôi nói điều này: luật pháp, là điều đến bốn trăm ba mươi năm sau, không thể hủy bỏ giao ước đã được Đức Chúa Trời xác nhận trước trong Đấng Christ, để làm cho lời hứa trở nên vô hiệu.
18 Vì nếu cơ nghiệp đến bởi luật pháp, thì không còn bởi lời hứa nữa; nhưng Đức Chúa Trời đã ban cơ nghiệp ấy cho Áp-ra-ham bởi lời hứa.
Phao-lô nhấn mạnh rằng luật pháp được ban tại núi Si-na-i đến 430 năm sau lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham và không thể hủy bỏ hoặc thay thế lời hứa ấy (Ga-la-ti 3:17). Lời hứa dựa trên ân điển và sự thành tín của Đức Chúa Trời, chứ không dựa trên việc làm của luật pháp. Luật pháp phục vụ một mục đích khác: bày tỏ tội lỗi và chỉ con người đến nhu cầu về một Đấng Cứu Rỗi. Áp-ra-ham được kể là công bình vì ông tin Đức Chúa Trời, chứ không phải vì ông giữ luật pháp Môi-se (Sáng-thế Ký 15:6). Vì vậy, cơ nghiệp không thể phụ thuộc vào luật pháp, vì nếu vậy thì nó không còn dựa trên lời hứa nữa (Ga-la-ti 3:18). Đức Chúa Trời đã ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham bởi lời hứa, và lời hứa đó được làm trọn trong Đấng Christ.
Ga-la-ti 3:19
19 Vậy luật pháp dùng để làm gì? Luật pháp được thêm vào vì sự vi phạm, cho đến khi Dòng Dõi đến, là Đấng đã được ban lời hứa; và luật pháp được truyền qua các thiên sứ bởi tay một người trung gian.
Phao-lô trả lời câu hỏi: nếu lời hứa đến bởi đức tin, thì tại sao luật pháp được ban? Luật pháp được thêm vào vì sự vi phạm, nghĩa là luật pháp bày tỏ tội lỗi, kiềm chế điều sai trái, và cho thấy con người cần Đấng Christ (Ga-la-ti 3:19). Luật pháp không được ban làm con đường cứu rỗi, nhưng như một biện pháp tạm thời cho đến khi Dòng Dõi đã được hứa, tức là Đấng Christ, đến. Phao-lô cũng nói rằng luật pháp được truyền qua các thiên sứ bởi tay một người trung gian, cho thấy sự trang nghiêm của việc ban luật pháp tại Si-na-i (Phục-truyền Luật-lệ Ký 33:2; Công vụ 7:53; Hê-bơ-rơ 2:2). Môi-se đóng vai trò là người trung gian giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên. Nhưng lời hứa dành cho Áp-ra-ham là trực tiếp và dựa trên chính sự thành tín của Đức Chúa Trời, cho thấy lời hứa lớn hơn luật pháp.
Ga-la-ti 3:20
20 Người trung gian không phải là người trung gian của chỉ một bên, nhưng Đức Chúa Trời là một.
Phao-lô giải thích rằng người trung gian cần có khi có hai bên liên quan, như trong giao ước tại Si-na-i giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên. Môi-se đứng giữa Đức Chúa Trời và dân sự, và giao ước ấy bao gồm những điều kiện mà Y-sơ-ra-ên đã đồng ý vâng theo. Nhưng lời hứa dành cho Áp-ra-ham thì khác. Lời hứa ấy không phụ thuộc vào người trung gian theo cùng một cách, vì chính Đức Chúa Trời đã ban lời hứa và tự chịu trách nhiệm làm trọn lời hứa ấy. Câu “Đức Chúa Trời là một” nhấn mạnh rằng lời hứa đến trực tiếp từ mục đích hiệp nhất và sự thành tín của Đức Chúa Trời. Luật pháp liên quan đến các điều kiện và sự vâng phục của con người, nhưng lời hứa dựa trên ân điển của Đức Chúa Trời và được làm trọn trong Đấng Christ.
Ga-la-ti 3:21–22
21 Vậy luật pháp có nghịch lại các lời hứa của Đức Chúa Trời không? Chắc chắn không! Vì nếu có một luật pháp nào được ban có thể ban sự sống, thì sự công bình chắc hẳn đã đến bởi luật pháp.
22 Nhưng Kinh Thánh đã nhốt mọi sự dưới tội lỗi, để lời hứa bởi đức tin nơi Giê-su Christ được ban cho những ai tin.
Phao-lô hỏi liệu luật pháp có nghịch lại các lời hứa của Đức Chúa Trời không, và ông trả lời: “Chắc chắn không!” Luật pháp và lời hứa không phải là kẻ thù của nhau; chúng chỉ phục vụ những mục đích khác nhau. Nếu một luật pháp có thể ban sự sống, thì sự công bình đã đến qua luật pháp. Nhưng luật pháp không thể ban sự sống. Thay vào đó, Kinh Thánh cho thấy mọi người đều ở dưới tội lỗi, để lời hứa có thể được nhận bởi đức tin nơi Giê-su Christ. Luật pháp bày tỏ nhu cầu của chúng ta, nhưng Đấng Christ cung cấp câu trả lời. Vì vậy, luật pháp khiến chúng ta quay khỏi sự tự xưng công bình và dẫn chúng ta đến chỗ nương cậy lời hứa của Đức Chúa Trời qua đức tin.
Ga-la-ti 3:23–25
23 Nhưng trước khi đức tin đến, chúng ta bị giữ dưới luật pháp, bị giữ cho đến khi đức tin sau này được bày tỏ.
24 Vì vậy, luật pháp là người giám hộ của chúng ta để dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta được xưng công bình bởi đức tin.
25 Nhưng sau khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới người giám hộ nữa.
Phao-lô giải thích rằng trước khi đức tin nơi Đấng Christ được bày tỏ trọn vẹn, luật pháp hành động như một người canh giữ hoặc người giám hộ (Ga-la-ti 3:23–24). Luật pháp phơi bày tội lỗi, kiềm chế sự vi phạm, ban sự hướng dẫn bên ngoài, và cho thấy con người cần Đấng Christ. Luật pháp có thể cho thấy sự công bình đòi hỏi điều gì, nhưng không thể ban sự sống hoặc tạo nên một tấm lòng mới. Một khi một người đến với Đấng Christ và được xưng công bình bởi đức tin, người ấy không còn ở dưới luật pháp như một người giám hộ kết án nữa. Điều này liên hệ đến sự khác biệt giữa giao ước cũ và giao ước mới. Dưới giao ước cũ, con người được cai quản bởi văn tự của luật pháp, nhưng dưới giao ước mới, Đức Chúa Trời viết luật pháp của Ngài trong lòng. Phao-lô nói rằng các tín hữu nay phục vụ “trong sự mới mẻ của Thánh Linh chứ không trong sự cũ kỹ của văn tự” (Rô-ma 7:6). Điều này không hủy bỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, nhưng cho thấy rằng sự vâng phục nay tuôn chảy từ Đấng Christ sống bên trong bởi Thánh Linh của Ngài. Đây là lý do Phao-lô nói “văn tự làm cho chết, nhưng Thánh Linh ban sự sống” (2 Cô-rinh-tô 3:6), và “nơi nào có Thánh Linh của Chúa, nơi đó có sự tự do” (2 Cô-rinh-tô 3:17). Sự tự do này không phải là tự do để phạm tội, nhưng là tự do khỏi sự kết án, sợ hãi, sự vâng phục bằng sức riêng, và sự nô lệ dưới văn tự của giao ước cũ.
Nguyên tắc này rất quan trọng trong đời sống hằng ngày. Một người chỉ sống theo văn tự có thể bị điều khiển bởi sự sợ hãi về những chi tiết nhỏ bên ngoài, trong khi bỏ lỡ mục đích lớn hơn của luật pháp Đức Chúa Trời. Ví dụ, luật pháp nói về những điều sạch và không sạch, y phục, thức ăn, và sự ô uế theo nghi lễ. Nếu một người chỉ tập trung vào những chi tiết kỹ thuật, người ấy có thể trở nên lo lắng về từng vấn đề nhỏ, ngay cả khi không có sự nổi loạn thật sự chống lại Đức Chúa Trời. Người tin trưởng thành phải hỏi không chỉ: “Văn tự nói gì?” nhưng cũng phải hỏi: “Mục đích của Đức Chúa Trời là gì? Điều gì bày tỏ bản tính của Ngài? Điều gì thể hiện tình yêu thương, lòng thương xót, sự thánh khiết, sự khôn ngoan, và đức tin?”
Điều này không có nghĩa là chúng ta vứt bỏ sự vâng phục, sự thánh khiết, sức khỏe, hoặc lòng tôn kính Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là chúng ta hiểu nguyên tắc cao hơn đằng sau sự vâng phục. Một số người có thể lên án người khác về thức ăn, y phục, lựa chọn y tế, hoặc những xác tín cá nhân, nhưng lại thiếu sự nhịn nhục, lòng thương xót, và lòng trắc ẩn. Những người khác có thể giữ các tiêu chuẩn bên ngoài rất cẩn thận nhưng nói năng gay gắt, làm tổn thương gia đình, hoặc khiến các linh hồn nản lòng không đến với Đấng Christ. Đây không phải là tinh thần của giao ước mới. Dưới giao ước mới, Đấng Christ viết luật pháp trong lòng, để sự vâng phục tuôn chảy từ tình yêu thương, sự khôn ngoan, lòng thương xót, và đức tin. Chúng ta vẫn tôn trọng các điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta không sống như nô lệ dưới văn tự kết án. Chúng ta sống như con cái của lời hứa, được Thánh Linh dẫn dắt, với Đấng Christ ngự trong chúng ta. Mục tiêu không phải là sự sợ hãi mang tính luật pháp, nhưng là sự công bình trưởng thành—sự sống của Đấng Christ được tái hiện trong người tin.
Ga-la-ti 3:26–27
26 Vì tất cả anh em đều là con cái Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Đấng Christ Giê-su.
27 Vì tất cả anh em là những người đã được báp-têm vào Đấng Christ đều đã mặc lấy Đấng Christ.
Sau khi giải thích rằng các tín hữu không còn ở dưới luật pháp như một người giám hộ, Phao-lô bây giờ cho thấy danh tính mới của họ: họ là con cái Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Đấng Christ Giê-su (Ga-la-ti 3:26). Mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời không còn dựa trên sự nô lệ, sợ hãi, và văn tự bên ngoài, nhưng dựa trên đức tin, quyền làm con, và sự hiệp nhất với Đấng Christ. Phép báp-têm tượng trưng cho việc bước vào trong Đấng Christ—trong sự chết, sự chôn, và sự sống lại của Ngài—và công khai nhận mình thuộc về Ngài (Ga-la-ti 3:27; Rô-ma 6:3–4). “Mặc lấy Đấng Christ” có nghĩa là được bao phủ bởi sự sống, sự công bình, bản tính, và Thánh Linh của Ngài. Người tin không còn đứng trước Đức Chúa Trời trong sự tự xưng công bình hoặc dưới sự kết án, nhưng trong Đấng Christ.
Ga-la-ti 3:28–29
28 Không còn phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ; vì tất cả anh em đều là một trong Đấng Christ Giê-su.
29 Và nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, và là người thừa kế theo lời hứa.
Phao-lô cho thấy rằng trong Đấng Christ, các sự phân biệt của giao ước cũ và của thế gian không quyết định địa vị của một người trước mặt Đức Chúa Trời. Người Do Thái và người Hy Lạp, nô lệ và tự do, nam và nữ vẫn tồn tại trong đời sống thực tế, nhưng không điều nào trong những điều này đem lại sự vượt trội hoặc bất lợi thuộc linh trong sự cứu rỗi. Tất cả các tín hữu đều đến với Đức Chúa Trời bằng cùng một con đường—qua đức tin nơi Đấng Christ—và tất cả đều là một trong Ngài. Vì vậy, nếu chúng ta thuộc về Đấng Christ, thì chúng ta là dòng dõi của Áp-ra-ham và là người thừa kế theo lời hứa. Cơ nghiệp không được nhận qua luật pháp như một hệ thống nô lệ, nhưng qua đức tin nơi Đấng Christ, là Dòng Dõi đã được hứa.

