
Ga-la-ti 4
Ga-la-ti 4 cung cấp một cái nhìn sâu hơn về chủ đề tự do đối lập với sự nô lệ dưới luật pháp, khi Phao-lô so sánh địa vị trước kia của các tín hữu dưới giao ước cũ với mối quan hệ giao ước mới của họ qua Đấng Christ. Ông dùng những lời kêu gọi cá nhân và hình bóng về Ha-ga và Sa-ra để cho thấy rằng đức tin nơi Đấng Christ đã giải cứu các tín hữu khỏi sự nô lệ của luật pháp và đem họ vào địa vị làm con. Luật pháp mà Phao-lô nói đến ở đây bao gồm toàn bộ hệ thống luật pháp, cả phương diện đạo đức lẫn nghi lễ, đặc biệt khi luật pháp được dùng như phương tiện để đạt được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Dưới giao ước cũ, luật pháp vận hành như văn tự—một chức vụ bên ngoài, bày tỏ tội lỗi, kết án tội nhân, và giữ dân sự của Đức Chúa Trời dưới sự giám hộ cho đến khi Đấng Christ đến. Nhưng trong giao ước mới, Đấng Christ là thực tại sống động mà luật pháp đã chỉ đến, và các tín hữu hiện nay phục vụ “trong sự mới mẻ của Thánh Linh, chứ không trong sự cũ kỹ của văn tự” (Rô-ma 7:6). Phao-lô nhấn mạnh rằng các tín hữu không còn là nô lệ nhưng là con cái của Đức Chúa Trời và là người thừa kế qua Đấng Christ, vì họ đã nhận lãnh Thần Linh của Con Ngài trong lòng mình. Vì vậy, ông kêu gọi các tín hữu Ga-la-ti hãy ở lại trong sự tự do mà Đấng Christ đã ban cho họ, được hướng dẫn bởi Thánh Linh của Đấng Christ, và không quay trở lại các thực hành luật pháp hoặc bất cứ loại việc làm nào như một phương tiện để kiếm được ân huệ của Đức Chúa Trời hoặc bảo đảm sự cứu rỗi.
Ga-la-ti 4:1–3
1 Tôi nói rằng người thừa kế, khi còn là trẻ con, thì chẳng khác gì nô lệ, dù người ấy là chủ của mọi sự,
2 nhưng vẫn ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý cho đến thời điểm người cha đã định.
3 Cũng vậy, khi chúng ta còn là trẻ con, chúng ta bị nô lệ dưới các yếu tố sơ đẳng của thế gian.
Phân đoạn này dùng hình ảnh một người thừa kế khi còn là trẻ con, tuy là chủ của mọi sự nhưng chưa có sự tự do hơn một đầy tớ, vì còn ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý cho đến thời điểm người cha đã định (Ga-la-ti 4:1–2). Phao-lô so sánh điều này với tình trạng thuộc linh của Y-sơ-ra-ên trước khi Đấng Christ đến, khi họ bị ràng buộc dưới “các yếu tố sơ đẳng của thế gian” (Ga-la-ti 4:3). Những “yếu tố” này có thể chỉ cả những nguyên tắc đạo đức căn bản, như Mười Điều Răn, vốn điều khiển nỗ lực của con người hướng đến sự công bình, cũng như các luật nghi lễ được ban cho Y-sơ-ra-ên để chỉ về Đấng Christ. Tuy nhiên, điểm chính của Phao-lô ở đây là dưới giao ước cũ, cả hai phương diện này, dù được Đức Chúa Trời thiết lập, vẫn hoạt động như “các yếu tố sơ đẳng của thế gian” theo nghĩa chúng là những hình thức bên ngoài, không thể đem lại sự trưởng thành thuộc linh thật hoặc sự tự do thật. Cũng như nhân loại nói chung bị nô lệ dưới các hệ thống tôn giáo dựa trên việc làm, sự nương cậy của Y-sơ-ra-ên nơi luật pháp để đạt được sự công bình đã giữ họ trong tình trạng thơ ấu thuộc linh cho đến khi Đấng Christ đến. Phân đoạn này cho thấy đức tin nơi Đấng Christ giải phóng các tín hữu khỏi cách tiếp cận sự cứu rỗi dựa trên việc làm và ban cho họ đầy đủ đặc quyền làm con, như những người thừa kế lời hứa của Đức Chúa Trời.
Ga-la-ti 4:4–6
4 Nhưng khi kỳ hạn đã trọn, Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến, sinh bởi một người nữ, sinh dưới luật pháp,
5 để chuộc những người ở dưới luật pháp, hầu cho chúng ta nhận được quyền làm con nuôi.
6 Và vì anh em là con, Đức Chúa Trời đã sai Thần Linh của Con Ngài vào lòng anh em, kêu lên rằng: “A-ba! Cha!”
Phân đoạn này dạy rằng khi Đấng Christ đến vào thời điểm đã định, Ngài đã chuộc chúng ta khỏi sự cai trị và sự kết án của luật pháp, làm cho chúng ta có thể được nhận làm con trai và con gái của Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 4:4–5). Sự nhận làm con này không chỉ là một lời tuyên bố pháp lý; nó đem lại sự biến đổi qua Thánh Linh, được gọi ở đây là “Thần Linh của Con Ngài” (Ga-la-ti 4:6). Chúng ta nhận lãnh Thần Linh này khi tiếp nhận Đấng Christ bởi đức tin, đánh dấu sự khởi đầu của kinh nghiệm giao ước mới. Trong giao ước mới này, chúng ta không còn chỉ được hướng dẫn bởi văn tự của luật pháp, là điều trong giao ước cũ đã bày tỏ tội lỗi nhưng không thể thay đổi tấm lòng. Thay vào đó, như được giải thích trong 2 Cô-rinh-tô 3, Thánh Linh viết các nguyên tắc đạo đức của luật pháp Đức Chúa Trời trong lòng chúng ta, ban năng quyền để chúng ta sống theo ý muốn của Ngài từ bên trong, chứ không bởi sự ép buộc bên ngoài. “Cách sống mới” này cho thấy sự chuyển đổi từ chức vụ của sự kết án và sự chết, đặc trưng bởi giao ước cũ tập trung vào các nghi lễ và sự tuân giữ bên ngoài, sang chức vụ của sự công bình và sự sống, nơi các tín hữu sống hòa hợp với luật pháp Đức Chúa Trời bởi quyền năng của Thánh Linh. Thánh Linh không chỉ cáo trách chúng ta về tội lỗi, nhưng cũng ban cho chúng ta sự khôn ngoan, sự phân biệt, và sức mạnh để sống theo các nguyên tắc yêu thương, công lý, và thánh khiết của Đức Chúa Trời trong đời sống hằng ngày. Sự biến đổi này phản ánh mối quan hệ mật thiết mà chúng ta hiện có với Đức Chúa Trời, khi chúng ta gọi Ngài là “A-ba! Cha!” và bước đi trong đức tin, được Thánh Linh hướng dẫn và ban năng quyền, chứ không bởi văn tự đơn thuần của luật pháp.
Ga-la-ti 4:7–10
7 Vì vậy, anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con; nếu là con, thì cũng là người thừa kế của Đức Chúa Trời qua Đấng Christ.
8 Nhưng trước kia, khi anh em chưa biết Đức Chúa Trời, anh em phục vụ những thần vốn không phải là thần.
9 Nhưng nay, sau khi anh em đã biết Đức Chúa Trời, hay đúng hơn là được Đức Chúa Trời biết đến, sao anh em lại quay trở lại với các yếu tố yếu đuối và nghèo nàn ấy, mà anh em lại muốn làm nô lệ một lần nữa?
10 Anh em giữ ngày, tháng, mùa, và năm.
Phân đoạn này nhấn mạnh sự tương phản giữa sự tự do trong Đấng Christ và sự nô lệ khi quay trở lại chủ nghĩa luật pháp. Phao-lô nhắc các tín hữu rằng họ không còn là nô lệ, nhưng là con và là người thừa kế của Đức Chúa Trời qua Đấng Christ (Ga-la-ti 4:7). Tuy nhiên, ông bày tỏ sự lo lắng rằng họ đang quay trở lại với “các yếu tố yếu đuối và nghèo nàn” (Ga-la-ti 4:9). Những “yếu tố” này chỉ về các thực hành sơ đẳng, bên ngoài được dùng dưới giao ước cũ, như các luật nghi lễ, các ngày lễ, và các nghi thức, vốn không bao giờ được định để ban sự cứu rỗi, nhưng để chỉ về Đấng Christ. Những điều này “yếu đuối” vì chúng không có quyền năng biến đổi tấm lòng, và “nghèo nàn” vì chúng không đem lại sự giàu có thuộc linh thật so với ân điển dư dật được tìm thấy trong Đấng Christ. Cụm từ “những thần vốn không phải là thần” chỉ về sự thờ hình tượng trước kia của các tín hữu Ga-la-ti là dân ngoại (Ga-la-ti 4:8). Trước khi biết Đức Chúa Trời, họ đã thờ các thần giả và đi theo các tập tục ngoại giáo. Phao-lô cảnh báo rằng quay sang việc tuân giữ các nghi lễ Do Thái cách luật pháp để cố đạt được sự công bình thì chẳng khác gì quay trở lại ngoại giáo; đó là một hình thức nô lệ thuộc linh khác. Dù là sự thờ phượng ngoại giáo hay chủ nghĩa luật pháp, cả hai đều là sự quay trở lại với nỗ lực của bản thân và sự nô lệ, thay vì sống trong sự tự do và mối quan hệ gần gũi của những người làm con Đức Chúa Trời, được Thánh Linh của Ngài hướng dẫn dưới giao ước mới.
Ga-la-ti 4:11
11 Tôi lo sợ cho anh em, e rằng tôi đã lao nhọc vì anh em cách vô ích.
Phao-lô bày tỏ sự lo lắng sâu sắc rằng những nỗ lực của ông trong việc dạy dỗ các tín hữu Ga-la-ti về phúc âm có thể trở nên vô ích nếu họ tiếp tục quay trở lại các thực hành luật pháp. Nỗi sợ của ông là họ chưa thật sự hiểu đầy đủ sự tự do được ban qua Đấng Christ.
Ga-la-ti 4:12–16
12 Thưa anh em, tôi nài xin anh em hãy trở nên như tôi, vì tôi cũng đã trở nên như anh em. Anh em không làm hại gì tôi cả.
13 Anh em biết rằng vì sự yếu đuối trong thân thể mà lần đầu tôi đã rao giảng phúc âm cho anh em.
14 Và sự thử thách trong thân xác tôi, anh em đã không khinh dể hay từ chối, nhưng đã tiếp nhận tôi như một thiên sứ của Đức Chúa Trời, thậm chí như chính Đấng Christ Giê-su.
15 Vậy phước lành anh em đã vui hưởng ở đâu rồi? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng nếu có thể, anh em đã móc mắt mình ra mà cho tôi.
16 Vậy tôi đã trở thành kẻ thù của anh em vì nói sự thật với anh em sao?
Phao-lô nhắc các tín hữu Ga-la-ti về tình yêu và sự tôn trọng mà họ đã bày tỏ với ông khi ông lần đầu rao giảng phúc âm cho họ. Dù ông đến với họ trong sự yếu đuối hoặc bệnh tật về thể xác, họ đã không khinh dể hay từ chối ông (Ga-la-ti 4:13–14). Trái lại, họ đã tiếp nhận ông như sứ giả của Đức Chúa Trời, thậm chí như họ sẽ tiếp nhận chính Đấng Christ. Tình yêu của họ dành cho Phao-lô từng mạnh mẽ đến mức họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giúp ông. Khi Phao-lô nói rằng họ có thể đã “móc mắt” mình ra mà cho ông, điều đó gợi ý rằng sự yếu đuối thể xác của ông có thể liên quan đến thị lực của ông, điều này cũng liên hệ với ý tưởng về “cái dằm trong xác thịt” của ông (Ga-la-ti 4:15; 2 Cô-rinh-tô 12:7). Nhưng bây giờ Phao-lô đau buồn vì thái độ của họ đối với ông đã thay đổi. Khi hỏi: “Vậy tôi đã trở thành kẻ thù của anh em vì nói sự thật với anh em sao?” ông cho thấy rằng sự sửa dạy trung tín đôi khi có thể bị hiểu lầm là thù địch (Ga-la-ti 4:16). Phân đoạn này dạy rằng tình yêu thật phải tiếp nhận lẽ thật, ngay cả khi lẽ thật ấy sửa dạy hoặc thách thức chúng ta.
Ga-la-ti 4:17–20
17 Họ nhiệt thành tìm cách lấy lòng anh em, nhưng không phải vì điều tốt; thật vậy, họ muốn tách anh em ra, để anh em nhiệt thành theo họ.
18 Nhưng nhiệt thành trong điều tốt thì luôn luôn là điều tốt, chứ không chỉ khi tôi có mặt với anh em.
19 Hỡi các con bé nhỏ của tôi, vì các con mà tôi lại chịu đau đớn như người mẹ sinh con, cho đến khi Đấng Christ được thành hình trong các con.
20 Tôi ao ước được có mặt với anh em bây giờ và thay đổi giọng nói của mình, vì tôi đang bối rối về anh em.
Phao-lô bày tỏ nỗi đau buồn vì các tín hữu Ga-la-ti đã bị ảnh hưởng bởi những giáo sư giả, là những người nhiệt thành lấy lòng họ, nhưng không phải vì lợi ích của họ, mà để giành lấy lòng trung thành của họ và tách họ khỏi lẽ thật. Phao-lô giải thích rằng sự nhiệt thành có thể là điều tốt khi hướng về điều đúng, chứ không chỉ khi ông có mặt với họ. Ông mong muốn sự trưởng thành thuộc linh của họ, so sánh chính mình với một người mẹ đang chịu đau đớn sinh con cho đến khi “Đấng Christ được thành hình” trong họ. Mối quan tâm của ông không chỉ mang tính giáo lý, nhưng cũng rất sâu sắc về mặt tình cảm và mục vụ. Ông ao ước họ được biến đổi nên giống Đấng Christ, thoát khỏi sự nô lệ đối với các nghi lễ và chủ nghĩa luật pháp. Phao-lô nhấn mạnh rằng mục tiêu của đức tin là một mối quan hệ từ tấm lòng với Đấng Christ, chứ không phải các sự tuân giữ bên ngoài.
Ga-la-ti 4:21–31
21 Hãy nói cho tôi biết, anh em là những người muốn ở dưới luật pháp, anh em không nghe luật pháp sao?
22 Vì có lời chép rằng Áp-ra-ham có hai con trai: một người bởi nữ nô lệ, một người bởi người nữ tự do.
23 Nhưng người con bởi nữ nô lệ thì sinh ra theo xác thịt, còn người con bởi người nữ tự do thì sinh ra bởi lời hứa.
24 Những điều này có ý nghĩa hình bóng. Vì đây là hai giao ước: một giao ước từ núi Si-na-i, sinh ra sự nô lệ, đó là Ha-ga—
25 vì Ha-ga này là núi Si-na-i tại A-ra-bi, tương ứng với Giê-ru-sa-lem hiện nay, và đang ở trong sự nô lệ cùng với con cái mình—
26 nhưng Giê-ru-sa-lem ở trên thì tự do, là mẹ của tất cả chúng ta.
27 Vì có lời chép rằng: “Hãy vui mừng, hỡi người son sẻ, là người không sinh con! Hãy bật lên tiếng reo mừng, hỡi người không đau đẻ! Vì con cái của người bị bỏ hoang sẽ nhiều hơn con cái của người có chồng.”
28 Thưa anh em, chúng ta giống như Y-sác, là con cái của lời hứa.
29 Nhưng như lúc bấy giờ, người sinh ra theo xác thịt đã bắt bớ người sinh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng vậy.
30 Tuy nhiên, Kinh Thánh nói gì? “Hãy đuổi nữ nô lệ và con trai của nó đi, vì con trai của nữ nô lệ sẽ không được thừa kế cùng với con trai của người nữ tự do.”
31 Vậy, thưa anh em, chúng ta không phải là con của nữ nô lệ, nhưng là con của người nữ tự do.
Phao-lô dùng câu chuyện về hai con trai của Áp-ra-ham, Y-sác, sinh bởi người nữ tự do là Sa-ra, và Ích-ma-ên, sinh bởi nữ nô lệ Ha-ga, như một hình bóng để giải thích sự khác biệt giữa sống dưới sự nô lệ của luật pháp và sống trong sự tự do của lời hứa Đức Chúa Trời qua đức tin (Ga-la-ti 4:21–24). Ha-ga tượng trưng cho giao ước cũ, bao gồm toàn bộ hệ thống luật pháp, không chỉ các luật nghi lễ nhưng cũng cả Mười Điều Răn, khi được xem như một phương tiện để kiếm được sự công bình (Ga-la-ti 4:24–25). Ngược lại, Sa-ra tượng trưng cho giao ước mới, nơi các tín hữu được xưng công bình bởi đức tin và nhận lãnh Thánh Linh của Đấng Christ, Đấng hướng dẫn và biến đổi đời sống họ (Ga-la-ti 4:26–28). Điều này được hỗ trợ bởi những phân đoạn như Ê-xê-chi-ên 36:26–27, nơi Đức Chúa Trời hứa ban một tấm lòng mới và đặt Thần Linh của Ngài trong dân Ngài để họ có thể bước đi trong đường lối Ngài, và Rô-ma 8:9–10, nói rằng những ai thuộc về Đấng Christ thì có Thánh Linh của Ngài ngự trong họ. Với Thánh Linh, các tín hữu sống hòa hợp với luật pháp Đức Chúa Trời, làm trọn mục đích thật của luật pháp bằng cách phản chiếu bản tính của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:4). Phao-lô nhắc các tín hữu Ga-la-ti rằng, giống như Y-sác, họ là con cái của lời hứa, được sinh bởi Thánh Linh, chứ không bởi nỗ lực của con người hay sự bắt buộc phải ở dưới luật pháp (Ga-la-ti 4:28–29). Ông nhấn mạnh rằng quay trở lại chủ nghĩa luật pháp giống như quay trở lại sự nô lệ, trong khi sự tự do thật được tìm thấy trong việc sống như những người thừa kế ân điển của Đức Chúa Trời. Khi trích dẫn Ê-sai 54:1, Phao-lô bảo đảm với họ rằng lời hứa của Đức Chúa Trời đem lại niềm vui và sự kết quả lớn hơn nỗ lực của con người (Ga-la-ti 4:27). Ông kết luận rằng những người tìm kiếm sự công bình bởi việc làm không thể cùng tồn tại với những người sống bởi đức tin. Thay vào đó, các tín hữu phải “đuổi nữ nô lệ và con trai của nó đi” và hoàn toàn nắm lấy sự tự do được tìm thấy trong Đấng Christ, Đấng làm trọn luật pháp qua Thánh Linh của Ngài đang hành động trong họ (Ga-la-ti 4:30–31; Rô-ma 3:31; 2 Cô-rinh-tô 3:17–18).

