top of page

Giăng 11

Giăng 11 kể lại câu chuyện về sự sống lại của La-xa-rơ, một người bạn thân của Chúa Giê-su đã qua đời. Chương này rất quan trọng vì bày tỏ thẩm quyền thần thượng của Chúa Giê-su trên sự sống và sự chết, đồng thời báo trước sự phục sinh của chính Ngài. Khi Chúa Giê-su trì hoãn việc đến thăm, La-xa-rơ qua đời, tạo cơ hội để Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Đức Chúa Trời bằng cách khiến ông sống lại. Chương này đạt đến cao điểm qua sự bày tỏ mạnh mẽ về đức tin, tình yêu thương, và quyền năng thần thượng, đồng thời cũng làm gia tăng sự căng thẳng giữa Chúa Giê-su và các nhà lãnh đạo Do Thái, là những người xem các phép lạ của Ngài như một mối đe dọa.

Giăng 11:1-10
1 Bấy giờ có một người đau bệnh, tên là La-xa-rơ ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và Ma-thê, chị của nàng.
2 Chính Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa và lấy tóc mình lau chân Ngài; La-xa-rơ, em của nàng, đang đau bệnh.
3 Vậy hai chị em sai người đến thưa với Chúa Giê-su rằng: “Lạy Chúa, kìa, người Ngài yêu đang đau bệnh.”
4 Khi Chúa Giê-su nghe điều đó, Ngài phán: “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng vì vinh quang của Đức Chúa Trời, để Con Đức Chúa Trời được vinh hiển qua đó.”
5 Chúa Giê-su yêu Ma-thê, em gái nàng, và La-xa-rơ.
6 Vậy khi nghe rằng La-xa-rơ đau bệnh, Ngài vẫn ở lại nơi Ngài đang ở thêm hai ngày nữa.
7 Sau đó, Ngài phán với các môn đồ: “Chúng ta hãy trở lại xứ Giu-đê.”
8 Các môn đồ thưa với Ngài: “Thưa Thầy, gần đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại muốn đến đó sao?”
9 Chúa Giê-su đáp: “Ban ngày chẳng phải có mười hai giờ sao? Nếu ai đi trong ban ngày, người ấy không vấp ngã, vì thấy ánh sáng của thế gian này.
10 Nhưng nếu ai đi trong ban đêm, người ấy vấp ngã, vì ánh sáng không ở trong người ấy.”

Trong những câu này, chúng ta thấy mối liên hệ sâu sắc giữa Chúa Giê-su với La-xa-rơ và hai chị em của ông. Dù Ngài yêu thương họ, Ngài vẫn trì hoãn việc đến thăm để bày tỏ vinh quang của Đức Chúa Trời. Phản ứng của Chúa Giê-su cho thấy Ngài có một mục đích vượt trên điều có vẻ cấp bách trước mắt; Ngài muốn bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời qua hoàn cảnh của La-xa-rơ. Sự lo lắng của các môn đồ làm nổi bật mối nguy hiểm khi trở lại Giu-đê, nơi Chúa Giê-su mới đây đã bị đe dọa. Tuy nhiên, Chúa Giê-su cho thấy rằng sứ mạng của Ngài phù hợp với thời điểm của Đức Chúa Trời, và bao lâu Ngài bước đi trong ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì không điều gì có thể ngăn cản mục đích của Ngài.

Giăng 11:11-16
11 Ngài phán những điều ấy, rồi sau đó nói với họ: “La-xa-rơ, bạn chúng ta, đang ngủ; nhưng Ta đi để đánh thức người ấy dậy.”
12 Các môn đồ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, nếu người ấy ngủ thì sẽ khỏe lại.”
13 Tuy nhiên, Chúa Giê-su nói về sự chết của La-xa-rơ, nhưng họ tưởng Ngài nói về giấc ngủ nghỉ ngơi.
14 Bấy giờ Chúa Giê-su nói rõ với họ: “La-xa-rơ đã chết.
15 Và vì các ngươi, Ta vui mừng vì Ta đã không có mặt ở đó, để các ngươi tin. Nhưng chúng ta hãy đi đến với người ấy.”
16 Thô-ma, gọi là Song Sinh, nói với các môn đồ khác: “Chúng ta cũng hãy đi, để cùng chết với Ngài.”

Chúa Giê-su nói với các môn đồ rằng La-xa-rơ đã ngủ, dùng giấc ngủ như một hình ảnh chỉ về sự chết để minh họa tính chất tạm thời của nó và tình trạng không ý thức của người chết. Điều này phù hợp với sự hiểu biết rằng người chết không lên thiên đàng hay xuống địa ngục ngay lập tức, nhưng nghỉ yên trong tình trạng không ý thức, chờ đợi sự phục sinh. Khi các môn đồ hiểu lầm, tưởng rằng La-xa-rơ chỉ đang nghỉ ngơi, Chúa Giê-su nói rõ: “La-xa-rơ đã chết.” Ngài giải thích rằng việc Ngài trì hoãn đến Bê-tha-ni là có chủ ý, để họ được chứng kiến quyền năng của Ngài trên sự chết và đức tin của họ được sâu nhiệm hơn. Thô-ma, bày tỏ lòng can đảm và trung thành, khích lệ các môn đồ đi với Chúa Giê-su, dù việc trở lại Giu-đê có thể nguy hiểm. Phân đoạn này nhấn mạnh thẩm quyền của Chúa Giê-su trên sự sống và sự chết, lẽ thật về tình trạng của người chết, và tầm quan trọng của đức tin nơi quyền năng của Ngài để ban sự sống qua sự phục sinh.

Giăng 11:17-27
17 Khi Chúa Giê-su đến, Ngài thấy La-xa-rơ đã ở trong mộ bốn ngày rồi.
18 Bê-tha-ni gần Giê-ru-sa-lem, cách khoảng hai dặm.
19 Có nhiều người Do Thái đã đến với Ma-thê và Ma-ri để an ủi họ về việc em trai họ qua đời.
20 Khi Ma-thê nghe Chúa Giê-su đang đến, nàng đi ra đón Ngài; còn Ma-ri vẫn ngồi trong nhà.
21 Ma-thê thưa với Chúa Giê-su: “Lạy Chúa, nếu Ngài có mặt ở đây, em con đã không chết.
22 Nhưng ngay cả bây giờ, con biết rằng bất cứ điều gì Ngài cầu xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài.”
23 Chúa Giê-su phán với nàng: “Em con sẽ sống lại.”
24 Ma-thê thưa với Ngài: “Con biết rằng em con sẽ sống lại trong sự phục sinh vào ngày sau cùng.”
25 Chúa Giê-su phán với nàng: “Ta là sự sống lại và sự sống. Ai tin nơi Ta, dù có chết, cũng sẽ sống.
26 Còn ai sống và tin nơi Ta thì sẽ không bao giờ chết. Con có tin điều này không?”
27 Nàng thưa với Ngài: “Vâng, lạy Chúa, con tin Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng phải đến trong thế gian.”

Đức tin của Ma-thê tỏa sáng khi nàng đến với Chúa Giê-su, than tiếc về sự vắng mặt của Ngài nhưng vẫn tin cậy quyền năng của Ngài. Chúa Giê-su trấn an nàng bằng lời hứa về sự phục sinh, điều mà Ma-thê hiểu là một sự kiện trong tương lai. Sau đó, Chúa Giê-su bày tỏ danh tính của Ngài là “sự sống lại và sự sống,” cho thấy rằng sự sống đời đời và sự phục sinh được tìm thấy trong Ngài. Lời tuyên xưng đức tin của Ma-thê nhìn nhận Chúa Giê-su là Đấng Mê-si và là Con Đức Chúa Trời.

Giăng 11:28-37
28 Sau khi nói những điều ấy, nàng đi về và gọi riêng Ma-ri, em gái mình, mà nói: “Thầy đã đến và đang gọi em.”
29 Vừa nghe vậy, Ma-ri liền đứng dậy nhanh chóng và đến với Ngài.
30 Lúc ấy Chúa Giê-su chưa vào trong làng, nhưng vẫn ở nơi Ma-thê đã gặp Ngài.
31 Những người Do Thái đang ở trong nhà với Ma-ri và an ủi nàng, khi thấy nàng đứng dậy vội vàng đi ra, thì đi theo, nghĩ rằng: “Nàng đi ra mộ để khóc tại đó.”
32 Khi Ma-ri đến nơi Chúa Giê-su đang ở và thấy Ngài, nàng sấp mình dưới chân Ngài và thưa: “Lạy Chúa, nếu Ngài có mặt ở đây, em con đã không chết.”
33 Khi Chúa Giê-su thấy nàng khóc, và những người Do Thái đi cùng nàng cũng khóc, Ngài xúc động sâu xa trong tâm linh và bối rối.
34 Ngài phán: “Các ngươi đã đặt người ấy ở đâu?” Họ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin đến xem.”
35 Chúa Giê-su khóc.
36 Bấy giờ người Do Thái nói: “Hãy xem Ngài yêu người ấy biết bao!”
37 Nhưng một số người trong họ nói: “Người này đã mở mắt cho người mù, há chẳng có thể khiến người này khỏi chết sao?”

Ma-ri lặp lại nỗi đau buồn và đức tin giống như Ma-thê, tin rằng Chúa Giê-su có thể đã cứu La-xa-rơ. Phản ứng của Chúa Giê-su đầy cảm xúc sâu sắc; Ngài khóc, bày tỏ lòng thương xót và tình yêu của Ngài. Sự cảm thông sâu nhiệm này phản ánh nhân tính của Chúa Giê-su và tình yêu thần thượng của Ngài, chạm đến lòng những người đang than khóc, đồng thời làm gia tăng sự căng thẳng khi một số người đặt câu hỏi tại sao Ngài không ngăn La-xa-rơ khỏi chết.

Giăng 11:38-44
38 Bấy giờ Chúa Giê-su, lại xúc động trong lòng, đi đến mộ. Đó là một hang đá, có một tảng đá chặn trước cửa.
39 Chúa Giê-su phán: “Hãy dời tảng đá đi.” Ma-thê, chị của người chết, thưa với Ngài: “Lạy Chúa, bây giờ đã có mùi rồi, vì người ấy đã chết bốn ngày.”
40 Chúa Giê-su phán với nàng: “Ta đã chẳng nói với con rằng nếu con tin, con sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa Trời sao?”
41 Vậy họ dời tảng đá khỏi nơi người chết nằm. Chúa Giê-su ngước mắt lên và phán: “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha vì Cha đã nghe Con.
42 Con biết rằng Cha luôn nghe Con, nhưng vì đoàn dân đang đứng đây, Con nói điều này để họ tin rằng Cha đã sai Con.”
43 Khi phán những điều ấy xong, Ngài kêu lớn tiếng: “La-xa-rơ, hãy ra!”
44 Người đã chết liền đi ra, tay chân còn quấn vải liệm, và mặt còn phủ khăn. Chúa Giê-su phán với họ: “Hãy mở cho người ấy và để người ấy đi.”

Tại mộ, Chúa Giê-su truyền dời tảng đá đi, bất chấp sự lo ngại của Ma-thê về mùi hôi, cho thấy ý định của Ngài là thực hiện một phép lạ vượt quá sự mong đợi. Lời cầu nguyện của Chúa Giê-su nhìn nhận sự hiệp nhất của Ngài với Cha, khiến phép lạ này trở thành một lời chứng cho những người có mặt. Với mệnh lệnh đầy quyền năng của Ngài, La-xa-rơ bước ra sống động, bày tỏ quyền năng của Chúa Giê-su trên sự chết và xác nhận danh tính của Ngài là nguồn của sự sống.

Giăng 11:45-54
45 Vì vậy, nhiều người Do Thái đã đến với Ma-ri và thấy những điều Chúa Giê-su làm thì tin Ngài.
46 Nhưng một số người trong họ đi đến với người Pha-ri-si và thuật lại những việc Chúa Giê-su đã làm.
47 Bấy giờ các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm họp Hội Đồng và nói: “Chúng ta phải làm gì đây? Vì người này làm nhiều dấu lạ.
48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy như vậy, mọi người sẽ tin ông ấy; rồi người La Mã sẽ đến và lấy mất cả nơi của chúng ta lẫn dân tộc chúng ta.”
49 Một người trong họ, là Cai-phe, làm thầy tế lễ thượng phẩm năm ấy, nói với họ: “Các ông chẳng biết gì cả,
50 cũng chẳng suy xét rằng thà một người chết vì dân còn hơn cả dân tộc bị hủy diệt.”
51 Điều này ông không tự mình nói ra; nhưng vì là thầy tế lễ thượng phẩm năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giê-su sẽ chết thay cho dân tộc,
52 và không chỉ cho dân tộc ấy mà thôi, nhưng cũng để quy tụ con cái Đức Chúa Trời đang tản lạc khắp nơi về làm một.
53 Từ ngày đó, họ lập mưu giết Ngài.
54 Vì vậy, Chúa Giê-su không còn đi lại công khai giữa người Do Thái nữa, nhưng rời khỏi đó đến vùng gần hoang mạc, vào một thành gọi là Ép-ra-im, và ở lại đó với các môn đồ Ngài.

Sau phép lạ khiến La-xa-rơ sống lại, nhiều người Do Thái đã chứng kiến điều đó tin nơi Chúa Giê-su. Tuy nhiên, một số người đi báo cho người Pha-ri-si, lo ngại rằng ảnh hưởng ngày càng lớn của Chúa Giê-su có thể khiến người La Mã can thiệp. Các nhà lãnh đạo tôn giáo sợ rằng sự nổi tiếng của Chúa Giê-su có thể làm mất sự kiểm soát của họ, có thể dẫn đến sự can thiệp của La Mã và khiến họ mất quyền lực cùng dân tộc. Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm, đề nghị rằng thà một người, tức Chúa Giê-su, chết thay cho dân còn hơn cả dân tộc phải chịu tai họa; nhưng ông không biết rằng mình đang nói tiên tri về sự chết hy sinh của Chúa Giê-su cho nhân loại. Từ đó, các nhà lãnh đạo càng gia tăng kế hoạch giết Ngài, khiến Chúa Giê-su rút lui đến một vùng yên tĩnh hơn, chuẩn bị cho những biến cố trong những ngày cuối cùng của chức vụ Ngài.

Giăng 11:55-57
55 Lễ Vượt Qua của người Do Thái đã gần đến, và nhiều người từ miền quê đi lên Giê-ru-sa-lem trước lễ Vượt Qua để thanh tẩy mình.
56 Họ tìm Chúa Giê-su và nói với nhau khi đứng trong đền thờ: “Các ông nghĩ sao—Ngài sẽ không đến dự lễ chăng?”
57 Bấy giờ các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lệnh rằng nếu ai biết Ngài ở đâu thì phải báo cho họ, để họ bắt Ngài.

Khi Lễ Vượt Qua đến gần, dân chúng tụ họp tại Giê-ru-sa-lem và thực hiện các nghi thức thanh tẩy. Trong đám đông, có nhiều lời bàn tán về việc liệu Chúa Giê-su có đến dự lễ hay không, vì mối đe dọa đối với Ngài đã gia tăng. Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ban lệnh bắt Ngài, cho thấy sự căng thẳng ngày càng lớn và quyết tâm của họ trong việc bắt giữ Ngài. Thời điểm này chuẩn bị cho cao điểm của sứ mạng Chúa Giê-su và làm gia tăng sự mong đợi trong dân chúng, là những người cảm nhận rằng có điều gì đó quan trọng có thể xảy ra trong kỳ Lễ Vượt Qua.

bottom of page