top of page

Giăng 9

Giăng 9 thuật lại câu chuyện về một người mù từ thuở sinh ra được Chúa Giê-su chữa lành, làm dấy lên một cuộc tranh luận lớn giữa những người Pha-ri-si về danh tính và thẩm quyền của Chúa Giê-su. Chương này nhấn mạnh các chủ đề về sự mù lòa thuộc linh đối lập với sự sáng mắt, cũng như những phản ứng trái ngược giữa đức tin và sự hoài nghi trước các công việc của Chúa Giê-su. Qua sự chữa lành này, Chúa Giê-su bày tỏ vai trò của Ngài là “ánh sáng của thế gian,” cho thấy rằng sự sáng thật đến từ Ngài, không chỉ trong sự chữa lành thể xác mà còn trong sự hiểu biết thuộc linh.

Giăng 9:1-5
1 Khi Chúa Giê-su đi ngang qua, Ngài thấy một người mù từ thuở sinh ra.
2 Các môn đồ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người này hay cha mẹ của anh, mà anh phải sinh ra mù?”
3 Chúa Giê-su đáp: “Không phải người này hay cha mẹ của anh đã phạm tội, nhưng để các công việc của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong anh.
4 Ta phải làm công việc của Đấng đã sai Ta khi còn ban ngày; đêm đến, khi không ai có thể làm việc được.
5 Khi Ta còn ở trong thế gian, Ta là ánh sáng của thế gian.”

Các môn đồ hỏi liệu tội lỗi có phải là nguyên nhân khiến người này bị mù hay không, phản ánh một niềm tin phổ biến rằng sự đau khổ là hậu quả của tội lỗi cá nhân hoặc tội lỗi của tổ tiên. Chúa Giê-su làm sáng tỏ rằng sự mù lòa của người này phục vụ một mục đích cao hơn: để quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Chúa Giê-su nhấn mạnh tính khẩn cấp trong sứ mạng của Ngài, cho thấy thời gian của Ngài trên đất có giới hạn, đồng thời mô tả chính Ngài là “ánh sáng của thế gian,” Đấng đem đến sự soi sáng cả về thể xác lẫn thuộc linh.

Giăng 9:6-7
6 Sau khi phán những lời ấy, Ngài nhổ nước bọt xuống đất, lấy nước bọt trộn thành bùn, rồi xức bùn ấy lên mắt người mù.
7 Ngài phán với anh: “Hãy đi rửa nơi ao Si-lô-ê” — nghĩa là “Được sai đi.” Vậy anh đi, rửa, rồi trở về thì thấy được.

Phương cách chữa lành của Chúa Giê-su, dùng bùn và nước bọt, có thể có vẻ khác thường, nhưng điều đó nhấn mạnh thẩm quyền của Ngài trên tạo vật và sự đụng chạm cá nhân của Ngài trong việc chữa lành. Khi truyền cho người ấy đi rửa nơi ao Si-lô-ê, Chúa Giê-su thử thách đức tin và sự vâng lời của anh. Việc người ấy trở về với đôi mắt sáng tượng trưng cho quyền năng biến đổi trong sự can thiệp của Chúa Giê-su, cả về thể xác lẫn thuộc linh.

Giăng 9:8-12
8 Những người láng giềng và những người trước kia đã thấy anh là người mù liền nói: “Đây chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?”
9 Một số người nói: “Chính là anh ấy.” Những người khác nói: “Không phải, nhưng giống anh ấy.” Anh nói: “Chính tôi đây.”
10 Vì vậy, họ hỏi anh: “Làm sao mắt anh được mở ra?”
11 Anh trả lời: “Một Người tên là Giê-su đã trộn bùn, xức lên mắt tôi và bảo tôi: ‘Hãy đi đến ao Si-lô-ê mà rửa.’ Vậy tôi đi, rửa, rồi được sáng mắt.”
12 Họ hỏi anh: “Người ấy ở đâu?” Anh đáp: “Tôi không biết.”

Sự kinh ngạc của những người láng giềng trước việc người này được chữa lành cho thấy tác động mạnh mẽ của phép lạ Chúa Giê-su đã làm. Trong khi một số người nhận ra anh, những người khác lại hoài nghi. Lời chứng đơn giản của anh về Chúa Giê-su cho thấy sự hiểu biết của anh lúc này vẫn còn giới hạn, vì anh chỉ biết Chúa Giê-su theo tên. Câu hỏi của họ: “Người ấy ở đâu?” phản ánh mong muốn biết thêm về nguồn gốc của sự thay đổi kỳ diệu này.

Giăng 9:13-17
13 Họ đem người trước kia bị mù đến với những người Pha-ri-si.
14 Hôm Chúa Giê-su trộn bùn và mở mắt cho anh là ngày Sa-bát.
15 Vì vậy, những người Pha-ri-si cũng hỏi anh một lần nữa làm thế nào anh được sáng mắt. Anh nói với họ: “Ngài đặt bùn trên mắt tôi, tôi rửa, và tôi thấy.”
16 Một số người Pha-ri-si nói: “Người này không đến từ Đức Chúa Trời, vì không giữ ngày Sa-bát.” Nhưng những người khác nói: “Làm sao một người tội lỗi có thể làm những dấu lạ như vậy?” Và có sự chia rẽ giữa họ.
17 Họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nói gì về Người ấy, vì Người đã mở mắt anh?” Anh đáp: “Ngài là một nhà tiên tri.”

Những người Pha-ri-si tra xét người được chữa lành và, vì bối rối trước việc chữa lành trong ngày Sa-bát, họ tranh luận với nhau. Cách nhìn nặng tính luật lệ của họ về ngày Sa-bát khiến họ mù lòa trước ý nghĩa của phép lạ. Một số người Pha-ri-si đặt nghi vấn về nguồn gốc của Chúa Giê-su, trong khi những người khác mở lòng trước khả năng Ngài đến từ Đức Chúa Trời. Người được chữa lành, nhận biết quyền năng phi thường của Chúa Giê-su, nhìn nhận Ngài là một nhà tiên tri, dù sự hiểu biết của anh vẫn đang phát triển.

Giăng 9:18-23
18 Nhưng người Do Thái không tin rằng anh vốn bị mù mà nay được sáng mắt, cho đến khi họ gọi cha mẹ của người đã được sáng mắt đến.
19 Họ hỏi cha mẹ anh: “Đây có phải là con trai các ngươi, người mà các ngươi nói là sinh ra đã mù không? Vậy làm sao bây giờ anh thấy được?”
20 Cha mẹ anh đáp: “Chúng tôi biết đây là con trai chúng tôi, và nó sinh ra đã mù;
21 nhưng làm thế nào bây giờ nó thấy được thì chúng tôi không biết, hoặc ai đã mở mắt nó thì chúng tôi cũng không biết. Nó đã đủ tuổi, hãy hỏi nó; nó sẽ tự nói về mình.”
22 Cha mẹ anh nói những điều ấy vì họ sợ người Do Thái, bởi người Do Thái đã đồng ý với nhau rằng nếu ai xưng nhận Ngài là Đấng Christ thì sẽ bị đuổi khỏi nhà hội.
23 Vì vậy, cha mẹ anh nói: “Nó đã đủ tuổi, hãy hỏi nó.”

Sự hoài nghi của những người Pha-ri-si khiến họ thẩm vấn cha mẹ của người ấy. Dù cha mẹ anh xác nhận rằng anh sinh ra đã mù, họ tránh nói về chi tiết của sự chữa lành vì sợ bị khai trừ khỏi nhà hội. Nỗi sợ bị loại khỏi cộng đồng tôn giáo cho thấy cái giá xã hội phải trả khi công khai nhìn nhận Chúa Giê-su. Cảnh này minh họa sự căng thẳng giữa thẩm quyền của những người Pha-ri-si và đức tin đang lớn lên nơi những cá nhân bắt đầu tin nhận Chúa Giê-su.

Giăng 9:24-34
24 Vậy họ gọi người vốn bị mù lần thứ hai và nói với anh: “Hãy dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời! Chúng ta biết Người này là kẻ có tội.”
25 Anh trả lời: “Người ấy có phải là kẻ có tội hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước kia tôi mù, mà bây giờ tôi thấy.”
26 Họ lại hỏi anh: “Người ấy đã làm gì cho anh? Người ấy đã mở mắt anh như thế nào?”
27 Anh trả lời họ: “Tôi đã nói với các ông rồi, mà các ông không nghe. Tại sao các ông muốn nghe lại nữa? Các ông cũng muốn trở thành môn đồ của Ngài sao?”
28 Họ liền mắng nhiếc anh và nói: “Mày là môn đồ của Người ấy, còn chúng ta là môn đồ của Môi-se.
29 Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se; còn người này, chúng ta không biết từ đâu đến.”
30 Người ấy đáp: “Thật là điều lạ lùng! Các ông không biết Ngài từ đâu đến, vậy mà Ngài đã mở mắt tôi!
31 Chúng ta biết Đức Chúa Trời không nghe kẻ có tội; nhưng nếu ai thờ phượng Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nghe người ấy.
32 Từ thuở sáng thế đến nay, chưa từng nghe nói có ai mở mắt cho một người sinh ra đã mù.
33 Nếu Người này không đến từ Đức Chúa Trời, Ngài chẳng làm được gì cả.”
34 Họ đáp: “Mày sinh ra hoàn toàn trong tội lỗi, mà mày lại dạy chúng ta sao?” Rồi họ đuổi anh ra ngoài.

Những người Pha-ri-si gây áp lực để người ấy lên án Chúa Giê-su, nhưng anh can đảm bênh vực kinh nghiệm được chữa lành của mình. Câu trả lời của anh: “Trước kia tôi mù, mà bây giờ tôi thấy,” bày tỏ cách mạnh mẽ sự nhận biết mới mà anh đã nhận được. Lập luận táo bạo của anh—rằng Đức Chúa Trời sẽ không làm việc qua một kẻ có tội—thách thức những giả định của người Pha-ri-si. Việc họ không thể bác bỏ anh và cuối cùng đuổi anh ra ngoài phơi bày sự mù lòa thuộc linh của chính họ.

Giăng 9:35-41
35 Chúa Giê-su nghe rằng họ đã đuổi anh ra ngoài; khi tìm gặp anh, Ngài phán: “Ngươi có tin Con Đức Chúa Trời không?”
36 Anh đáp: “Thưa Chúa, Đấng ấy là ai để tôi tin Ngài?”
37 Chúa Giê-su phán với anh: “Ngươi đã thấy Ngài; chính Đấng đang nói với ngươi là Ngài.”
38 Anh thưa: “Lạy Chúa, tôi tin!” Rồi anh thờ phượng Ngài.
39 Chúa Giê-su phán: “Ta đến thế gian này để phán xét, hầu cho những người không thấy được thấy, và những người thấy trở nên mù.”
40 Một số người Pha-ri-si ở với Ngài nghe những lời ấy thì hỏi Ngài: “Chúng tôi cũng mù sao?”
41 Chúa Giê-su đáp: “Nếu các ngươi mù thì các ngươi không có tội; nhưng nay các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy.’ Vì vậy, tội lỗi các ngươi vẫn còn.”

Sau khi người mù từ thuở sinh ra bị những người Pha-ri-si đuổi ra ngoài, Chúa Giê-su tìm gặp anh và hỏi: “Ngươi có tin Con Đức Chúa Trời không?” Người ấy, nay đã được chữa lành về thể xác nhưng vẫn đang tìm kiếm về thuộc linh, đáp lại bằng đức tin khi Chúa Giê-su bày tỏ danh tính của Ngài, nói rằng: “Lạy Chúa, tôi tin,” rồi thờ phượng Ngài. Sau đó, Chúa Giê-su tuyên bố rằng Ngài đến thế gian để phán xét—để đem sự sáng mắt cho những người mù thuộc linh và phơi bày sự mù lòa của những người tự cho mình là thấy. Những người Pha-ri-si nghe điều này liền hỏi liệu họ cũng mù hay không, và Chúa Giê-su đáp: “Nếu các ngươi mù thì các ngươi không có tội; nhưng nay các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy.’ Vì vậy, tội lỗi các ngươi vẫn còn.” Lời tuyên bố này nhấn mạnh rằng sự mù lòa thuộc linh đi kèm với lòng khiêm nhường có thể dẫn con người đến việc tìm kiếm lẽ thật, trong khi việc tự nhận mình có sự sáng thuộc linh trong sự kiêu ngạo lại dẫn đến lòng cứng cỏi và trách nhiệm trước việc khước từ ánh sáng của Đức Chúa Trời. Đoạn này đối chiếu đức tin khiêm nhường của người được chữa lành, là người tiếp nhận cả sự sáng mắt thể xác lẫn thuộc linh, với sự kiêu ngạo của những người Pha-ri-si, điều khiến họ mù lòa trước nhu cầu cần Chúa Giê-su và khiến họ vẫn ở trong tội lỗi mình.

bottom of page