top of page

Gia-cơ 2

Gia-cơ 2 dạy rằng đức tin thật phải được thể hiện qua cách tín đồ đối xử với người khác và qua cách họ sống. Gia-cơ cảnh báo về sự thiên vị, đặc biệt là việc tôn trọng người giàu trong khi xem thường người nghèo. Sự thiên vị như vậy không phải là tinh thần của Đấng Christ, vì Đức Chúa Trời kêu gọi dân Ngài yêu người lân cận như chính mình. Chương này cũng dạy rằng đức tin không thể chỉ dừng lại ở lời nói hay niềm tin trong trí óc; đức tin thật sẽ sinh ra hành động. Gia-cơ không dạy rằng việc làm thay thế đức tin, nhưng ông dạy rằng đức tin thật là đức tin sống động và hoạt động, còn đức tin không có việc làm là đức tin chết.

Gia-cơ 2:1-4
1 Thưa anh em của tôi, đừng giữ đức tin nơi Đức Chúa Giê-su Christ, Chúa vinh hiển của chúng ta, với lòng thiên vị.
2 Vì nếu có một người đeo nhẫn vàng, mặc áo sang trọng bước vào nơi nhóm họp của anh em, và cũng có một người nghèo mặc áo rách rưới bước vào,
3 mà anh em chú ý đến người mặc áo sang trọng và nói với người ấy: “Xin ngồi ở chỗ tốt này,” còn nói với người nghèo: “Anh đứng đó,” hoặc: “Ngồi dưới bệ chân tôi,”
4 thì chẳng phải anh em đã thiên vị giữa vòng mình và trở thành những người xét đoán với tư tưởng xấu sao?

Gia-cơ cảnh báo các tín đồ không được pha trộn đức tin nơi Chúa Giê-su Christ với sự thiên vị. Nếu một người giàu được đối xử cách tôn trọng vì sự giàu có của họ, trong khi một người nghèo bị xem là kém quan trọng vì vẻ bề ngoài, điều đó cho thấy trong lòng có sự xét đoán sai lầm. Vấn đề không chỉ là chỗ ngồi, nhưng là thái độ phía sau hành động đó. Họ đang xét đoán con người theo những điều bên ngoài như quần áo, tiền bạc và địa vị, thay vì nhìn con người như Đức Chúa Trời nhìn. Gia-cơ nói sự thiên vị như vậy đến từ những tư tưởng xấu, vì nó đánh giá con người theo tiêu chuẩn của thế gian thay vì theo tình yêu thương, lòng thương xót và sự công chính.

Gia-cơ 2:5-7
5 Hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy nghe đây: Chẳng phải Đức Chúa Trời đã chọn những người nghèo trong thế gian này để trở nên giàu có trong đức tin và thừa hưởng vương quốc mà Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài sao?
6 Nhưng anh em lại làm nhục người nghèo. Chẳng phải chính những người giàu áp bức anh em và kéo anh em ra tòa sao?
7 Chẳng phải họ phạm thượng đến danh cao quý mà anh em được gọi theo sao?

Gia-cơ nhắc các tín đồ rằng Đức Chúa Trời thường chọn những người nghèo trong thế gian này để trở nên giàu có trong đức tin và thừa hưởng vương quốc của Ngài. Điều này không có nghĩa là mọi người nghèo đều tự động có đức tin, hay mọi người giàu đều xấu, nhưng cho thấy Đức Chúa Trời không đánh giá con người theo của cải thế gian. Nhiều tín đồ nghèo có thể có rất ít về vật chất, nhưng họ giàu có về thuộc linh vì họ tin cậy Đức Chúa Trời và thuộc về vương quốc của Ngài. Gia-cơ quở trách hội thánh vì đã làm nhục người nghèo, đặc biệt khi một số người giàu lại là những người áp bức tín đồ, kéo họ ra tòa và làm nhục danh Đấng Christ. Điều này dạy rằng hội thánh không được bắt chước cách thế gian tôn trọng con người dựa trên tiền bạc, quyền lực hay địa vị xã hội.

Gia-cơ 2:8-10
8 Nếu anh em thật sự làm trọn luật hoàng gia theo Kinh Thánh rằng: “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình,” thì anh em làm tốt;
9 nhưng nếu anh em thiên vị, thì anh em phạm tội và bị luật pháp kết án là người phạm luật.
10 Vì ai giữ trọn cả luật pháp mà vấp phạm một điều, thì cũng mắc tội như đã phạm tất cả.

Gia-cơ gọi câu “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình” là luật hoàng gia, vì đó là nguyên tắc cao quý của vương quốc Đức Chúa Trời và là trọng tâm của sự vâng phục thật. Nếu tín đồ thật sự yêu người lân cận, họ sẽ không xem thường người nghèo hay đặc biệt tôn trọng người giàu theo cách ích kỷ. Sự thiên vị không phải là một yếu đuối nhỏ; Gia-cơ nói đó là tội, vì nó phá vỡ luật yêu thương. Sau đó ông giải thích rằng luật pháp của Đức Chúa Trời là một tiêu chuẩn công chính thống nhất, nên một người không thể tự nhận mình vâng phục trong khi cố ý vi phạm một phần của luật ấy. Dù một người tránh được nhiều tội, nhưng nếu họ thiên vị và không yêu người lân cận, họ vẫn là người phạm luật. Vì vậy, đức tin thật phải được bày tỏ qua tình yêu thương, sự công bằng và sự tôn trọng đối với mọi người.

Gia-cơ 2:11-13
11 Vì Đấng đã phán: “Chớ phạm tội ngoại tình,” cũng phán: “Chớ giết người.” Vậy nếu anh em không phạm tội ngoại tình, nhưng lại giết người, thì anh em đã trở thành người phạm luật pháp.
12 Hãy nói và làm như những người sẽ bị xét đoán bởi luật tự do.
13 Vì sự xét đoán không thương xót sẽ dành cho người không bày tỏ lòng thương xót. Lòng thương xót thắng hơn sự xét đoán.

Gia-cơ cho thấy các điều răn của Đức Chúa Trời đều đến từ cùng một Đấng ban luật, nên chúng ta không thể chọn phần nào để vâng phục và bỏ qua phần khác. Một người có thể không phạm tội ngoại tình, nhưng nếu người ấy giết người, người ấy vẫn là người phạm luật. Cũng vậy, một người có thể có vẻ rất tôn giáo, nhưng nếu họ thiên vị, xét đoán khắc nghiệt hoặc thiếu lòng thương xót, họ không đang bước đi theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Gia-cơ bảo các tín đồ hãy nói và làm như những người sẽ bị xét đoán bởi luật tự do. Điều này có nghĩa là luật pháp của Đức Chúa Trời, được làm trọn trong Đấng Christ và được Thánh Linh ghi vào lòng, kêu gọi tín đồ sống trong tình yêu thương, lòng thương xót và sự công chính thật. Lòng thương xót rất quan trọng, vì ai không chịu bày tỏ lòng thương xót sẽ bị xét đoán không thương xót. Nhưng lòng thương xót thắng hơn sự xét đoán, vì Đức Chúa Trời vui thích sự thương xót, và những người tin thật phải phản chiếu bản tính thương xót của Ngài đối với người khác.

Gia-cơ 2:14-17
14 Hỡi anh em của tôi, nếu có người nói mình có đức tin nhưng không có việc làm, thì ích gì? Đức tin đó có thể cứu người ấy được không?
15 Nếu có anh em hay chị em nào thiếu áo mặc và thiếu thức ăn hằng ngày,
16 mà một người trong anh em nói với họ: “Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và ăn no,” nhưng lại không cho họ những điều cần thiết cho thân thể, thì có ích gì?
17 Đức tin cũng vậy, nếu chỉ có một mình mà không có việc làm, thì là đức tin chết.

Gia-cơ tiếp tục giải thích rằng đức tin chỉ tồn tại trong lời nói là vô ích nếu nó không sinh ra hành động. Nếu một tín đồ thấy anh em hay chị em mình thiếu thức ăn hoặc quần áo, nhưng chỉ nói những lời tử tế mà không giúp đỡ, thì những lời đó không thật sự đem lại ích lợi cho người đang cần. Cũng vậy, một người có thể nói mình có đức tin, nhưng nếu không có bông trái, không có tình yêu thương, không có sự vâng phục và không có sự đáp ứng thực tế, thì đức tin ấy là chết. Gia-cơ không nói rằng việc lành kiếm được sự cứu rỗi, nhưng ông nói rằng đức tin thật không bao giờ trống rỗng. Đức tin chân thật tiếp nhận sự sống của Đức Chúa Trời và sẽ tự nhiên bày tỏ qua tình yêu thương, lòng thương xót và sự vâng phục.

Gia-cơ 2:18-20
18 Nhưng có người sẽ nói: “Bạn có đức tin, còn tôi có việc làm.” Hãy chỉ cho tôi đức tin của bạn không có việc làm, còn tôi sẽ chỉ cho bạn đức tin của tôi bằng việc làm.
19 Bạn tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời. Bạn làm tốt. Ngay cả ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ!
20 Hỡi người thiếu hiểu biết, bạn có muốn biết rằng đức tin không có việc làm là đức tin chết không?

Gia-cơ thách thức ý tưởng cho rằng đức tin và việc làm có thể bị tách rời hoàn toàn, như thể một người có thể có đức tin mà không có việc làm, còn người khác có việc làm mà không cần đức tin. Đức tin thật không thể chỉ được thấy qua lời nói; nó được bày tỏ qua đời sống mà nó sinh ra. Gia-cơ cũng nói rằng chỉ tin đúng giáo lý thôi thì chưa đủ, vì ngay cả ma quỷ cũng tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, và chúng run sợ. Điều này có nghĩa là niềm tin trong trí óc thôi không phải là đức tin cứu rỗi. Đức tin thật là nhiều hơn việc đồng ý với lẽ thật trong tâm trí; đó là tin cậy Đức Chúa Trời, đầu phục Ngài, và để đức tin ấy sinh ra sự vâng phục cùng một đời sống được biến đổi. Đức tin không có việc làm là chết vì nó không có bông trái sống động.

Gia-cơ 2:21-24
21 Chẳng phải Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã được xưng công chính bởi việc làm khi ông dâng Y-sác, con mình, trên bàn thờ sao?
22 Bạn thấy rằng đức tin cùng làm việc với việc làm của ông, và nhờ việc làm, đức tin được hoàn thiện.
23 Và lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm rằng: “Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó được kể là công chính cho ông.” Ông được gọi là bạn của Đức Chúa Trời.
24 Vậy anh em thấy rằng một người được xưng công chính bởi việc làm, chứ không chỉ bởi đức tin mà thôi.

Gia-cơ dùng Áp-ra-ham làm ví dụ về đức tin sống động. Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và đức tin ấy được kể là công chính cho ông, nhưng đức tin đó về sau được bày tỏ và hoàn thiện qua sự vâng phục khi ông dâng Y-sác. Việc làm của ông không thay thế đức tin; đúng hơn, việc làm bày tỏ rằng đức tin của ông là thật. Gia-cơ nói đức tin cùng làm việc với việc làm, nghĩa là đức tin thật và sự vâng phục luôn đi chung với nhau. Hành động của Áp-ra-ham chứng minh rằng ông tin cậy Đức Chúa Trời cách sâu xa, ngay cả khi mệnh lệnh ấy rất khó. Vì vậy, khi Gia-cơ nói một người được xưng công chính bởi việc làm chứ không chỉ bởi đức tin mà thôi, ông đang nói về việc đức tin được chứng minh là chân thật qua bông trái của nó. Lời tuyên bố có đức tin mà không có sự vâng phục thì trống rỗng, nhưng đức tin sống động được bày tỏ qua một đời sống đầu phục và vâng lời.

Gia-cơ 2:25-26
25 Cũng vậy, chẳng phải Ra-háp, người kỹ nữ, đã được xưng công chính bởi việc làm khi bà tiếp đón các sứ giả và đưa họ đi ra bằng đường khác sao?
26 Vì như thân thể không có thần linh thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.

Gia-cơ cũng dùng Ra-háp làm ví dụ về đức tin được bày tỏ qua hành động. Ra-háp tin rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời thật, nhưng đức tin của bà không chỉ dừng lại ở lời nói; bà đã hành động theo đức tin ấy bằng cách tiếp đón các sứ giả và bảo vệ họ. Hành động của bà cho thấy bà tin cậy Đức Chúa Trời và chọn đứng về phía dân Ngài. Sau đó Gia-cơ kết thúc bằng một sự so sánh mạnh mẽ: như thân thể không có thần linh thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy. Một thân thể không có sự sống thì không thể cử động hay hành động, và đức tin không có bông trái cũng là đức tin không có sự sống. Đức tin thật là sống động vì nó sinh ra sự vâng phục, tình yêu thương, lòng thương xót, sự can đảm và hành động thực tế.

bottom of page