
Hê-bơ-rơ 11
Hê-bơ-rơ 11 thường được gọi là “Chương Đức Tin” vì chương này cho thấy quyền năng và tầm quan trọng của đức tin qua đời sống của các tín đồ trong Cựu Ước. Chương này giải thích rằng đức tin là sự tin cậy vào các lời hứa của Đức Chúa Trời, ngay cả khi những lời hứa ấy chưa được thấy hay chưa được nhận cách trọn vẹn. Chương này đưa ra nhiều ví dụ về những người đã hành động bởi đức tin, chịu đựng thử thách, vâng phục Đức Chúa Trời, và trông đợi lời hứa lớn hơn của Ngài. Đời sống của họ khích lệ các tín đồ phải bền đỗ, tin cậy lời Đức Chúa Trời, và sống với niềm hy vọng nơi sự ứng nghiệm cuối cùng của Ngài qua Đấng Christ.
Hê-bơ-rơ 11:1-2
1 Đức tin là nền tảng của những điều người ta hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy.
2 Nhờ đức tin, các bậc tiền nhân đã được lời chứng tốt.
Đức tin là sự tin cậy chắc chắn nơi các lời hứa của Đức Chúa Trời, ngay cả khi sự ứng nghiệm chưa được nhìn thấy. Đức tin đem lại sự bảo đảm về những điều hy vọng, như sự cứu rỗi, sự sống đời đời, và sự ứng nghiệm của lời Đức Chúa Trời. Đức tin cũng đem lại sự xác tín về những thực tại không thấy được, như sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, công việc của Ngài trong thế gian, và các lẽ thật thuộc linh không thể biết được chỉ bằng giác quan thể xác. Đức tin không phải là sự tưởng tượng trống rỗng, nhưng là sự tin cậy dựa trên sự thành tín và lời phán của Đức Chúa Trời. Nhờ đức tin ấy, các bậc tiền nhân xưa đã nhận được lời chứng tốt từ Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 11:3
3 Bởi đức tin, chúng ta hiểu rằng các thế giới được dựng nên bởi lời Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật thấy được không được làm ra từ những vật hiện thấy.
Bởi đức tin, các tín đồ hiểu rằng vũ trụ được dựng nên bởi lời Đức Chúa Trời. Thế giới hữu hình không đến từ những vật hữu hình, nhưng từ quyền năng và mệnh lệnh vô hình của Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy thẩm quyền của Ngài là Đấng Tạo Hóa và nhắc chúng ta rằng mọi sự hiện hữu vì lời phán của Ngài. Đức tin giúp các tín đồ nhìn sự sáng tạo như công việc của sự khôn ngoan, thiết kế và quyền năng của Đức Chúa Trời, chứ không phải là điều ngẫu nhiên hay tình cờ. Chính Đức Chúa Trời đã dựng nên muôn vật bởi lời Ngài cũng có quyền năng làm trọn mọi lời hứa Ngài đã phán.
Hê-bơ-rơ 11:4-7
4 Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một của lễ tốt hơn Ca-in, nhờ đó ông được chứng nhận là công chính, vì Đức Chúa Trời làm chứng về lễ vật của ông; và qua đức tin ấy, dù đã chết, ông vẫn còn nói.
5 Bởi đức tin, Hê-nóc được cất đi để không thấy sự chết, “và người ta không tìm thấy ông nữa, vì Đức Chúa Trời đã cất ông đi”; vì trước khi được cất đi, ông đã được chứng nhận là đẹp lòng Đức Chúa Trời.
6 Không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Ngài; vì người đến với Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài hiện hữu, và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai siêng năng tìm kiếm Ngài.
7 Bởi đức tin, Nô-ê được Đức Chúa Trời cảnh báo về những điều chưa thấy, nên đã kính sợ mà đóng chiếc tàu để cứu gia đình mình; bởi đó ông kết án thế gian và trở nên người thừa hưởng sự công chính đến bởi đức tin.
A-bên, Hê-nóc và Nô-ê được nêu lên như những ví dụ về đức tin thật sự biến đổi đời sống con người. Của lễ của A-bên được chấp nhận vì được dâng bởi đức tin. Khi đem một con chiên, ông thừa nhận nhu cầu của mình về lòng thương xót của Đức Chúa Trời và chỉ về Đấng Cứu Chuộc đã được hứa, là Chúa Giê-su Christ, của lễ thật vì tội lỗi. Trái lại, của lễ của Ca-in phản ánh sự tự cậy mình thay vì tin cậy vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời. Đức tin của Hê-nóc dẫn ông bước đi gần gũi với Đức Chúa Trời, và ông làm đẹp lòng Đức Chúa Trời đến nỗi được cất lên trời mà không thấy sự chết. Đức tin của Nô-ê khiến ông vâng theo lời cảnh báo của Đức Chúa Trời về những điều chưa thấy. Ông đóng chiếc tàu, cứu gia đình mình, và làm chứng về sự phán xét sắp đến. Những ví dụ này cho thấy đức tin thật không chỉ là sự tin trong trí óc, nhưng là sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời dẫn đến sự vâng phục, mối thông công với Ngài, và một đời sống đẹp lòng Ngài.
Hê-bơ-rơ 11:8
8 Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời khi được gọi đi đến nơi ông sẽ nhận làm cơ nghiệp. Ông ra đi mà không biết mình đi đâu.
Áp-ra-ham vâng theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời dù ông không biết chính xác mình sẽ đi đâu. Ông rời bỏ quê hương và môi trường quen thuộc vì tin cậy sự hướng dẫn và lời hứa của Đức Chúa Trời. Đức tin của ông không dựa trên việc nhìn thấy toàn bộ kế hoạch trước mắt, nhưng dựa trên lòng tin chắc nơi lời Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy đức tin thật sẵn sàng đi theo Đức Chúa Trời ngay cả khi con đường phía trước chưa hoàn toàn rõ ràng.
Hê-bơ-rơ 11:9-10
9 Bởi đức tin, ông cư ngụ trong đất hứa như ở nơi xa lạ, sống trong các lều trại với Y-sác và Gia-cốp, là những người cùng thừa hưởng một lời hứa;
10 vì ông trông đợi thành có nền móng, mà Đức Chúa Trời là Đấng thiết kế và xây dựng.
Áp-ra-ham sống trong đất hứa như một người khách lạ, ở trong các lều trại vì ông hiểu rằng quê hương cuối cùng của mình không chỉ là một vùng đất trên trần gian. Y-sác và Gia-cốp được nhắc đến vì họ là những người thừa hưởng cùng một lời hứa, cho thấy giao ước của Đức Chúa Trời tiếp tục qua các thế hệ. Dù Áp-ra-ham không sống cùng thời lâu dài với Gia-cốp, điểm chính là cùng một lời hứa được truyền từ Áp-ra-ham sang con cháu ông. Áp-ra-ham nhìn vượt trên những của cải tạm thời dưới đất để hướng đến thành có nền móng, mà Đức Chúa Trời là Đấng thiết kế và xây dựng. Điều này cho thấy đức tin hướng về vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời và tin cậy những lời hứa có thể kéo dài vượt quá đời sống của chính mình.
Hê-bơ-rơ 11:11-12
11 Bởi đức tin, chính Sa-ra cũng nhận được sức để thụ thai, và sinh con khi đã quá tuổi, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là thành tín.
12 Vì vậy, từ một người, mà người ấy cũng như đã chết, đã sinh ra con cháu đông như sao trên trời, nhiều vô số như cát bên bờ biển.
Sa-ra nhận được sức để thụ thai Y-sác dù bà đã quá tuổi sinh con theo tự nhiên. Đức tin của bà dựa trên sự thành tín của Đức Chúa Trời, Đấng đã hứa. Điều không thể theo tự nhiên đã trở nên có thể vì Đức Chúa Trời thành tín với lời Ngài. Qua phép lạ này, Đức Chúa Trời làm trọn lời hứa với Áp-ra-ham, và từ một người đã sinh ra dòng dõi đông như sao trên trời và như cát bên bờ biển. Điều này cho thấy các lời hứa của Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi sự yếu đuối của con người hay những hoàn cảnh tưởng như không thể.
Hê-bơ-rơ 11:13-16
13 Tất cả những người ấy đều chết trong đức tin, chưa nhận được các lời hứa, nhưng đã thấy từ xa, tin chắc, vui mừng đón nhận, và xưng mình là khách lạ cùng lữ khách trên đất.
14 Vì những người nói như vậy cho thấy rõ rằng họ đang tìm kiếm một quê hương.
15 Nếu họ còn nhớ đến quê hương mà họ đã ra đi, thì họ đã có cơ hội quay trở lại.
16 Nhưng họ ao ước một quê hương tốt hơn, tức là quê hương trên trời. Vì vậy, Đức Chúa Trời không hổ thẹn được gọi là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành.
Nhiều người trung tín này đã chết mà chưa nhận được sự ứng nghiệm trọn vẹn của lời hứa trong đời mình, nhưng họ đã thấy lời hứa ấy từ xa và ôm lấy bằng đức tin. Họ hiểu rằng họ là khách lạ và lữ khách trên đất, đang tìm kiếm một quê hương tốt hơn. Nếu lòng họ còn hướng về quê hương mà họ đã rời bỏ, họ có thể quay trở lại, nhưng thay vào đó, họ ao ước một quê hương trên trời. Vì đức tin này, Đức Chúa Trời không hổ thẹn được gọi là Đức Chúa Trời của họ, và Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành. Điều này cho thấy đức tin thật không bám víu vào thế gian phía sau, nhưng hướng về quê hương đời đời mà Đức Chúa Trời đã hứa.
Hê-bơ-rơ 11:17-19
17 Bởi đức tin, Áp-ra-ham khi bị thử nghiệm đã dâng Y-sác; người đã nhận các lời hứa lại dâng con một của mình,
18 là người mà Đức Chúa Trời đã phán rằng: “Dòng dõi ngươi sẽ được gọi qua Y-sác,”
19 vì ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền khiến Y-sác sống lại, ngay cả từ kẻ chết; và theo nghĩa bóng, ông đã nhận lại con mình từ sự chết.
Đức tin của Áp-ra-ham được thử nghiệm rất sâu sắc khi Đức Chúa Trời bảo ông dâng Y-sác, người con của lời hứa. Mệnh lệnh này dường như mâu thuẫn với lời hứa của Đức Chúa Trời rằng dòng dõi Áp-ra-ham sẽ đến qua Y-sác, nhưng Áp-ra-ham tin rằng Đức Chúa Trời vẫn có thể làm trọn lời Ngài, ngay cả bằng cách khiến Y-sác sống lại từ kẻ chết nếu cần. Theo nghĩa bóng, Áp-ra-ham đã nhận lại Y-sác từ sự chết, vì trong lòng ông đã dâng con mình cho Đức Chúa Trời rồi. Sự kiện này cũng chỉ về của lễ của Chúa Giê-su, Con của Đức Chúa Trời, bày tỏ chiều sâu trong kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Sự vâng phục của Áp-ra-ham bày tỏ lòng tin cậy trọn vẹn nơi Đức Chúa Trời, ngay cả khi mệnh lệnh thật khó hiểu.
Hê-bơ-rơ 11:20
20 Bởi đức tin, Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những điều sẽ đến.
Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau bởi đức tin, nói về những điều vẫn còn trong tương lai. Lời chúc phước của ông cho thấy lòng tin chắc rằng mục đích của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục qua thế hệ kế tiếp. Đức tin không chỉ liên quan đến sự tin cậy cá nhân nơi Đức Chúa Trời, nhưng cũng tin rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời có thể định hình tương lai của gia đình và con cháu mình.
Hê-bơ-rơ 11:21
21 Bởi đức tin, Gia-cốp khi sắp qua đời đã chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và thờ phượng trong khi chống trên đầu gậy.
Gia-cốp bày tỏ đức tin gần cuối đời bằng cách chúc phước cho các con trai của Giô-sép, là Ép-ra-im và Ma-na-se. Ngay cả trong sự yếu đuối và tuổi già, ông vẫn tin rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục qua thế hệ kế tiếp. Việc ông thờ phượng khi chống trên đầu gậy cho thấy một đời sống kết thúc trong sự lệ thuộc vào Đức Chúa Trời và lòng biết ơn về sự thành tín của Ngài. Đức tin vẫn tiếp tục dẫn dắt ông ngay cả trong những giây phút cuối đời.
Hê-bơ-rơ 11:22
22 Bởi đức tin, Giô-sép khi sắp qua đời đã nhắc đến cuộc ra đi của con cái Y-sơ-ra-ên và dặn dò về hài cốt của mình.
Giô-sép tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời rằng dân Y-sơ-ra-ên một ngày kia sẽ rời Ai Cập và trở về Đất Hứa. Ngay cả khi sắp qua đời, ông vẫn dặn dò về hài cốt của mình vì ông tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu dân Ngài. Điều này cho thấy hy vọng của Giô-sép không đặt nơi Ai Cập, nhưng nơi lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời. Đức tin của ông nhìn vượt qua sự chết để hướng đến sự ứng nghiệm tương lai của lời Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 11:23
23 Bởi đức tin, khi Môi-se được sinh ra, cha mẹ ông đã giấu ông ba tháng, vì thấy đứa trẻ xinh đẹp; và họ không sợ lệnh vua.
Cha mẹ của Môi-se đã hành động bởi đức tin khi giấu ông khỏi lệnh của Pha-ra-ôn phải giết các bé trai Hê-bơ-rơ. Họ tin cậy Đức Chúa Trời hơn là sợ vua. Đức tin và lòng can đảm của họ đã giữ mạng sống Môi-se, và về sau Đức Chúa Trời dùng ông để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Điều này cho thấy đức tin có thể vượt thắng sự sợ hãi và trở thành một phần trong mục đích lớn hơn của Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 11:24-26
24 Bởi đức tin, khi đã trưởng thành, Môi-se từ chối được gọi là con trai của công chúa Pha-ra-ôn,
25 chọn chịu khổ với dân Đức Chúa Trời hơn là hưởng thú vui tạm thời của tội lỗi,
26 xem sự sỉ nhục vì Đấng Christ là sự giàu có lớn hơn các kho báu Ai Cập, vì ông trông đợi phần thưởng.
Môi-se chọn đồng hóa mình với dân Đức Chúa Trời thay vì hưởng các đặc quyền của Ai Cập. Ông từ chối những thú vui và kho báu tạm thời của tội lỗi vì nhìn về phần thưởng lớn hơn của Đức Chúa Trời. Đức tin giúp ông xem sự sỉ nhục liên quan đến Đấng Christ là sự giàu có lớn hơn của cải và danh vọng Ai Cập. Điều này cho thấy đức tin chọn những điều đời đời hơn là lợi ích tạm thời của thế gian, ngay cả khi sự lựa chọn ấy đem đến đau khổ.
Hê-bơ-rơ 11:27
27 Bởi đức tin, ông rời Ai Cập, không sợ cơn giận của vua; vì ông bền lòng như thấy Đấng không thấy được.
Môi-se rời Ai Cập bởi đức tin và không sống dưới sự kiểm soát của sợ hãi. Ông bền lòng vì mắt ông hướng về Đức Chúa Trời vô hình. Dù không thể thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thể xác, đức tin khiến sự hiện diện và quyền năng của Ngài trở nên thật đối với ông. Điều này cho thấy đức tin ban sức mạnh để chịu đựng khó khăn bằng cách giữ lòng tập trung nơi Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 11:28
28 Bởi đức tin, ông giữ lễ Vượt Qua và sự rảy huyết, để kẻ hủy diệt không chạm đến các con đầu lòng của họ.
Môi-se giữ lễ Vượt Qua bởi đức tin, tin cậy sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời về huyết. Dân Y-sơ-ra-ên được bảo vệ khỏi sự phán xét vì họ vâng theo lời Đức Chúa Trời và bôi huyết theo như Ngài đã truyền. Hành động này chỉ về Đấng Christ, Chiên Con Vượt Qua thật, Đấng có huyết giải cứu các tín đồ khỏi sự phán xét và sự chết. Đức tin tiếp nhận sự chu cấp của Đức Chúa Trời và hành động theo lời Ngài.
Hê-bơ-rơ 11:29
29 Bởi đức tin, họ đi qua Biển Đỏ như đi trên đất khô; còn người Ai Cập khi cố làm như vậy thì bị chìm chết.
Dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ bởi đức tin, bước đi qua nơi dường như không có con đường nào. Đức Chúa Trời đã mở một con đường giải cứu cho dân Ngài, trong khi người Ai Cập cố đuổi theo thì bị hủy diệt. Cùng một sự kiện đem lại sự cứu rỗi cho người tin và sự phán xét cho người không tin. Điều này cho thấy đức tin tin cậy quyền năng của Đức Chúa Trời để mở đường khi sức người không thể làm được.
Hê-bơ-rơ 11:30
30 Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô sụp đổ sau khi dân chúng đi quanh thành bảy ngày.
Các tường thành Giê-ri-cô sụp đổ vì dân Y-sơ-ra-ên vâng theo chỉ dẫn của Đức Chúa Trời bởi đức tin. Việc đi quanh thành trong bảy ngày có thể có vẻ kỳ lạ theo cách nhìn của con người, nhưng sự vâng phục của họ bày tỏ lòng tin cậy nơi lời Đức Chúa Trời. Chiến thắng đến không bởi sức mạnh con người, nhưng bởi đức tin nơi mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy đức tin vâng phục ngay cả khi phương cách của Đức Chúa Trời không có vẻ hợp lý theo suy nghĩ của con người.
Hê-bơ-rơ 11:31
31 Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp không bị hư mất với những người không tin, vì nàng đã tiếp đón các thám tử cách bình an.
Ra-háp được cứu vì bà tin nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và hành động theo đức tin ấy bằng cách tiếp đón các thám tử cách bình an. Dù bà có quá khứ tội lỗi và sống giữa dân Giê-ri-cô, bà đã đáp ứng với ánh sáng mình nhận được. Đức tin của bà tách bà khỏi thành phố vô tín và đem lại sự giải cứu cho bà cùng gia đình. Điều này cho thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho bất cứ ai quay về với Ngài bằng đức tin.
Hê-bơ-rơ 11:32-34
32 Tôi còn nói gì nữa? Vì thời gian không đủ để kể về Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri,
33 là những người bởi đức tin đã chinh phục các vương quốc, thực thi sự công chính, nhận được các lời hứa, bịt miệng sư tử,
34 dập tắt sức mạnh của lửa, thoát khỏi lưỡi gươm, từ yếu đuối trở nên mạnh mẽ, trở nên dũng cảm trong chiến trận, và đánh bại quân đội ngoại bang.
Nhiều đầy tớ khác của Đức Chúa Trời đã sống và hành động bởi đức tin, bao gồm Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri. Bởi đức tin, họ chiến thắng các vương quốc, thực hành sự công chính, nhận các lời hứa, bịt miệng sư tử, thoát khỏi nguy hiểm, từ yếu đuối trở nên mạnh mẽ, và giành chiến thắng trong chiến trận. Những câu chuyện của họ cho thấy đức tin hành động trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, dù là trong sự lãnh đạo, yếu đuối, nguy hiểm hay xung đột. Quyền năng của Đức Chúa Trời có thể hành động qua những ai tin cậy Ngài.
Hê-bơ-rơ 11:35-38
35 Có những phụ nữ nhận lại người chết của mình được sống lại. Những người khác bị tra tấn, không chịu nhận sự giải thoát, để được sự sống lại tốt hơn.
36 Những người khác chịu thử thách bằng sự chế giễu, roi đòn, xiềng xích và tù đày.
37 Họ bị ném đá, bị cưa làm hai, bị cám dỗ, bị giết bằng gươm. Họ lang thang trong da chiên, da dê, chịu thiếu thốn, hoạn nạn, khổ sở —
38 thế gian không xứng đáng với họ. Họ lang thang trong hoang mạc, trên núi, trong hang động và các hầm dưới đất.
Đức tin không phải lúc nào cũng có nghĩa là được giải cứu ngay khỏi đau khổ. Một số người nhận được phép lạ, thậm chí người chết được sống lại, trong khi những người khác chịu tra tấn, tù đày, chế giễu, nghèo thiếu và sự chết. Họ từ chối từ bỏ đức tin vì họ trông đợi một sự sống lại tốt hơn và phần thưởng đời đời. Dù thế gian chối bỏ và ngược đãi họ, Đức Chúa Trời xem họ là quý giá, và thế gian không xứng đáng với họ. Điều này cho thấy đức tin thật có thể chịu đựng cả chiến thắng lẫn đau khổ, vì đức tin nhìn vượt trên đời này đến lời hứa đời đời của Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 11:39-40
39 Tất cả những người này, dù đã nhận được lời chứng tốt nhờ đức tin, vẫn chưa nhận được lời hứa,
40 vì Đức Chúa Trời đã chuẩn bị điều tốt hơn cho chúng ta, để họ không được làm cho hoàn hảo ngoài chúng ta.
Tất cả những người trung tín này đã nhận được lời chứng tốt nhờ đức tin, nhưng họ chưa nhận được sự ứng nghiệm trọn vẹn của lời hứa trong đời mình. Họ trông đợi sự hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời, là điều đã đến qua đời sống, sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Đấng Christ. “Điều tốt hơn” được ban cho các tín đồ là thực tại giao ước mới trong Đấng Christ, bao gồm sự hòa giải với Đức Chúa Trời, sự sống mới, và Thần Linh ngự bên trong. Các thánh đồ trong Cựu Ước trông đợi lời hứa này, còn các tín đồ ngày nay kinh nghiệm sự ứng nghiệm của lời hứa ấy qua Chúa Giê-su. Tuy nhiên, kế hoạch của Đức Chúa Trời bao gồm tất cả dân trung tín của Ngài cùng với nhau. Họ sẽ không được làm cho hoàn hảo ngoài chúng ta, nhưng cùng với tất cả những người được cứu chuộc, họ sẽ nhận được sự đầy trọn cuối cùng của sự cứu rỗi khi Đấng Christ trở lại, lúc người công chính được sống lại, được vinh hiển hóa, và được đem vào sự sống đời đời.

