
Hê-bơ-rơ 4
Hê-bơ-rơ 4 tiếp tục lời cảnh báo từ chương trước bằng cách giải thích ý nghĩa của “sự yên nghỉ” của Đức Chúa Trời. Phần lớn dân Y-sơ-ra-ên đã không được vào Đất Hứa vì sự vô tín và không vâng phục, nhưng lời hứa được vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời vẫn còn dành cho dân Ngài. Sự yên nghỉ trên đất Ca-na-an chỉ về một sự yên nghỉ thuộc linh sâu xa hơn, được tìm thấy qua đức tin nơi Đức Chúa Trời và cuối cùng qua Đấng Christ. Khi nhắc đến sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời trong ngày thứ bảy của công cuộc sáng tạo, chương này liên kết sự yên nghỉ Sa-bát với kinh nghiệm của người tin Chúa, tức là yên nghỉ trong công việc đã hoàn tất của Đức Chúa Trời thay vì tin cậy vào nỗ lực riêng hay sống trong sự vô tín. Vì vậy, các tín đồ được kêu gọi phải đáp ứng bằng đức tin, tiếp tục trong sự vâng phục, và tránh cùng sự cứng lòng đã khiến dân Y-sơ-ra-ên không được vào sự yên nghỉ mà Đức Chúa Trời đã hứa.
Hê-bơ-rơ 4:1-2
1 Vậy, vì lời hứa được vào sự yên nghỉ của Ngài vẫn còn, chúng ta hãy kính sợ, kẻo có ai trong anh em dường như bị hụt mất.
2 Vì Tin Lành đã được rao truyền cho chúng ta cũng như cho họ; nhưng lời họ nghe không ích lợi gì cho họ, vì không được kết hợp với đức tin nơi những người nghe.
Đoạn này cảnh báo các tín đồ đừng để lỡ sự yên nghỉ đã hứa của Đức Chúa Trời vì sự vô tín. Dân Y-sơ-ra-ên cũng đã nghe tin lành của Đức Chúa Trời: Ngài hứa sẽ đem họ vào Đất Hứa và ban cho họ sự yên nghỉ. Nhưng sứ điệp ấy không ích lợi gì cho họ vì họ không tiếp nhận bằng đức tin. Cũng vậy, chỉ nghe lời Đức Chúa Trời thôi thì chưa đủ; các tín đồ phải tin, tin cậy các lời hứa của Ngài, và bước vào sự yên nghỉ của Ngài bởi đức tin nơi Đấng Christ.
Hê-bơ-rơ 4:3-5
3 Vì chúng ta là những người đã tin thì được vào sự yên nghỉ ấy, như Ngài đã phán: “Vì vậy, Ta đã thề trong cơn thạnh nộ của Ta rằng: ‘Chúng sẽ không được vào sự yên nghỉ của Ta,’” mặc dù các công việc của Ngài đã hoàn tất từ khi sáng thế.
4 Vì ở một chỗ kia, Ngài đã phán về ngày thứ bảy như vầy: “Đức Chúa Trời đã yên nghỉ trong ngày thứ bảy khỏi mọi công việc của Ngài”;
5 và tại chỗ này Ngài lại phán: “Chúng sẽ không được vào sự yên nghỉ của Ta.”
Những người thật sự tin cậy Đức Chúa Trời thì được vào sự yên nghỉ của Ngài bởi đức tin, khác với phần lớn dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng đã không được vào vì sự vô tín và không vâng phục. Sự yên nghỉ này được liên kết với chính sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo, khi các công việc của Ngài đã hoàn tất từ khi sáng thế và Ngài yên nghỉ trong ngày thứ bảy khỏi mọi công việc của Ngài. Đức Chúa Trời không yên nghỉ vì Ngài mệt mỏi, nhưng vì công việc của Ngài đã hoàn tất, trọn vẹn, và không cần thêm gì nữa. Cũng vậy, các tín đồ được kêu gọi yên nghỉ thuộc linh trong công việc đã hoàn tất của Đức Chúa Trời, cuối cùng được ứng nghiệm trong công việc cứu rỗi đã hoàn tất của Đấng Christ, thay vì dựa vào nỗ lực riêng để đạt được sự công chính. Lời cảnh báo được lặp lại: “Chúng sẽ không được vào sự yên nghỉ của Ta,” cho thấy hậu quả nghiêm trọng của sự vô tín và cứng lòng. Dù sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời đã có từ khi sáng tạo, nhiều người vẫn không vào được vì họ từ chối tin cậy Ngài cách trọn vẹn. Điều này không hủy bỏ ngày Sa-bát thứ bảy, nhưng dùng sự yên nghỉ Sa-bát của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo làm nền tảng và hình ảnh minh họa cho sự yên nghỉ thuộc linh sâu xa hơn mà các tín đồ kinh nghiệm qua đức tin nơi Đấng Christ.
Hê-bơ-rơ 4:6-7
6 Vậy, vì vẫn còn có một số người phải vào sự yên nghỉ ấy, và những người trước kia đã được nghe Tin Lành nhưng không được vào vì sự không vâng phục,
7 nên sau một thời gian dài, Ngài lại ấn định một ngày nào đó, gọi là “Ngày nay,” khi Ngài phán qua Đa-vít như đã nói: “Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì đừng cứng lòng.”
Vì phần lớn dân Y-sơ-ra-ên đã không được vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời do sự vô tín và không vâng phục, nên lời hứa ấy vẫn còn mở ra cho những người khác. Y-sơ-ra-ên đã nhận được tin lành về lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng nhiều người đã cứng lòng và từ chối tin cậy Ngài cách trọn vẹn. Rất lâu sau khi Y-sơ-ra-ên đã vào Ca-na-an dưới sự lãnh đạo của Giô-suê, Đức Chúa Trời lại phán qua Đa-vít trong Thi Thiên 95 rằng: “Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì đừng cứng lòng.” Điều này cho thấy sự yên nghỉ thật của Đức Chúa Trời không bao giờ chỉ giới hạn trong xứ Ca-na-an theo nghĩa vật lý, vì lời mời gọi ấy vẫn còn được ban ra nhiều năm sau đó. Từ “Ngày nay” cho thấy sự khẩn cấp trong lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Con người vẫn còn cơ hội để nghe tiếng Ngài, đáp ứng bằng đức tin, và bước vào sự yên nghỉ của Ngài. Sự yên nghỉ này là sự yên nghỉ thuộc linh sâu xa hơn, được tìm thấy trong việc tin cậy Đức Chúa Trời và yên nghỉ trong công việc đã hoàn tất của Ngài, thay vì bước đi trong sự vô tín và tự cậy mình.
Hê-bơ-rơ 4:8-10
8 Vì nếu Giô-suê đã cho họ sự yên nghỉ, thì sau đó Ngài đã không nói về một ngày khác.
9 Vậy vẫn còn một sự yên nghỉ dành cho dân Đức Chúa Trời.
10 Vì người nào đã vào sự yên nghỉ của Ngài thì cũng đã nghỉ khỏi công việc mình, như Đức Chúa Trời đã nghỉ khỏi công việc của Ngài.
Sự yên nghỉ mà Giô-suê ban khi dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa là thật, nhưng đó chưa phải là sự yên nghỉ cuối cùng và trọn vẹn mà Đức Chúa Trời định cho dân Ngài. Y-sơ-ra-ên đã nhận được sự yên nghỉ về mặt thể xác và quốc gia trong Ca-na-an, được thoát khỏi sự lang thang và được chiến thắng kẻ thù, nhưng điều đó chưa hoàn toàn đem họ vào sự yên nghỉ thuộc linh sâu xa hơn của lòng tin cậy, sự bình an và sự cứu rỗi. Vì Thi Thiên 95 vẫn nói về một “Ngày nay” khác rất lâu sau thời Giô-suê, điều đó cho thấy sự yên nghỉ thật vẫn còn mở ra và chưa được ứng nghiệm trọn vẹn bởi việc vào Ca-na-an. Sự yên nghỉ lớn hơn này được tìm thấy trong Đấng Christ. Nó không chỉ nói về một vùng đất hay địa điểm, nhưng nói về một mối quan hệ sống động với Đức Chúa Trời, sự giải thoát khỏi gánh nặng của tội lỗi, sự bình an với Ngài, và sự bảo đảm trong công việc đã hoàn tất của Ngài. Vào sự yên nghỉ này nghĩa là nghỉ khỏi công việc riêng của mình như Đức Chúa Trời đã nghỉ khỏi công việc của Ngài, không phải bằng cách trở nên thờ ơ hay không làm gì, nhưng bằng cách chấm dứt mọi sự tự cậy mình và hoàn toàn tin cậy vào sự chu cấp cùng ân điển của Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 4:11
11 Vậy, chúng ta hãy chuyên cần vào sự yên nghỉ ấy, kẻo có ai sa ngã theo cùng một gương không vâng phục đó.
Các tín đồ được khuyên phải chuyên cần vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, học từ gương buồn của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Sự chuyên cần này không có nghĩa là cố gắng kiếm sự cứu rỗi bằng nỗ lực của con người, vì sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời được bước vào bởi đức tin nơi công việc đã hoàn tất của Ngài. Đúng hơn, điều đó có nghĩa là nghiêm túc đáp lại lời mời gọi của Đức Chúa Trời, giữ vững đức tin, và tiếp tục trong sự tin cậy cùng vâng phục. Cũng như dân Y-sơ-ra-ên đã nghe các lời hứa của Đức Chúa Trời nhưng không được vào vì họ không tin, các tín đồ ngày nay cũng không được rơi vào cùng một khuôn mẫu vô tín, nổi loạn hay tự cậy mình. Sự chuyên cần thật nghĩa là luôn tỉnh thức thuộc linh, tin cậy Đấng Christ, và không để lòng mình trôi lạc khỏi sự yên nghỉ, bình an, bảo đảm và sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban qua Ngài.
Hê-bơ-rơ 4:12-13
12 Vì lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi, xuyên thấu đến nỗi phân chia hồn và linh, khớp và tủy, và phán xét các tư tưởng cùng ý định trong lòng.
13 Không có tạo vật nào giấu kín được trước mặt Ngài, nhưng mọi sự đều trần trụi và phơi bày trước mắt Đấng mà chúng ta phải khai trình.
Lời Đức Chúa Trời là lời sống, đầy quyền năng, và có thể chạm đến những nơi sâu kín nhất trong lòng. Lời ấy sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi vì nó phơi bày điều thật sự ở bên trong một người, bao gồm tư tưởng, động cơ, ý định và những thái độ kín giấu trong lòng. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh bước vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, vì lời Ngài bày tỏ liệu chúng ta thật sự đáp ứng bằng đức tin hay đang cứng lòng trong sự vô tín. Không điều gì có thể giấu kín khỏi mắt Đức Chúa Trời. Mỗi người đều được Ngài biết rõ hoàn toàn và phải khai trình trước mặt Ngài. Vì vậy, lời kêu gọi bước vào sự yên nghỉ của Ngài phải được xem là nghiêm trọng, với một tấm lòng để cho lời Ngài sửa dạy, dò xét và dẫn chúng ta vào đức tin cùng sự vâng phục chân thật.
Hê-bơ-rơ 4:14-16
14 Vậy, vì chúng ta có một Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại đã vượt qua các tầng trời, là Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy giữ vững lời xưng nhận của mình.
15 Vì chúng ta không có một Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm không thể cảm thông với những yếu đuối của chúng ta, nhưng có Đấng đã bị cám dỗ trong mọi sự như chúng ta, nhưng không phạm tội.
16 Vậy, chúng ta hãy mạnh dạn đến gần ngai ân điển, để nhận được lòng thương xót và tìm được ân điển giúp đỡ trong lúc cần thiết.
Chúa Giê-su được trình bày là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại của chúng ta, Đấng đã vượt qua các tầng trời và bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Vì Ngài là Con Đức Chúa Trời, Ngài có thẩm quyền thần thượng; nhưng vì Ngài đã thật sự trở nên con người, Ngài cũng hiểu những yếu đuối của chúng ta. Ngài đã bị cám dỗ trong mọi sự như chúng ta, nhưng không phạm tội, khiến Ngài trở thành Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và Đấng Trung Bảo hoàn hảo. Điều này có nghĩa là các tín đồ có thể giữ vững lời xưng nhận đức tin, ngay cả trong thử thách, vì Đấng Christ vừa đầy quyền năng vừa đầy lòng thương xót. Qua Ngài, ngai của Đức Chúa Trời trở thành ngai ân điển, nơi các tín đồ có thể mạnh dạn đến gần để nhận được lòng thương xót, sự tha thứ, sức mạnh, sự khôn ngoan, sự an ủi và sự giúp đỡ trong lúc cần thiết. Chức tế lễ của Ngài ban cho các tín đồ mọi điều cần thiết để tiếp tục bước đi với Đức Chúa Trời và bước vào trọn vẹn sự yên nghỉ của Ngài.

