
Hê-bơ-rơ 5
Hê-bơ-rơ 5 giải thích vai trò và điều kiện của một thầy tế lễ thượng phẩm, rồi cho thấy Chúa Giê-su là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm thật và cao trọng hơn theo ban Mên-chi-xê-đéc. Các thầy tế lễ thượng phẩm dưới đất được chọn từ giữa loài người để đại diện cho con người trước mặt Đức Chúa Trời, dâng lễ vật và của lễ vì tội lỗi. Nhưng chức tế lễ của Đấng Christ cao trọng hơn, vì Ngài được Đức Chúa Trời trực tiếp bổ nhiệm, được làm cho hoàn hảo qua sự chịu khổ, và trở nên nguồn của sự cứu rỗi đời đời. Chương này cũng cảnh báo các tín đồ về sự non nớt thuộc linh và kêu gọi họ phải lớn lên, vượt qua những sự dạy dỗ căn bản để có thể hiểu những lẽ thật sâu nhiệm hơn và phân biệt điều thiện với điều ác.
Hê-bơ-rơ 5:1-7
1 Vì mỗi thầy tế lễ thượng phẩm được chọn từ giữa loài người thì được lập thay cho loài người trong những việc thuộc về Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật và của lễ vì tội lỗi.
2 Người ấy có thể cảm thông với những người thiếu hiểu biết và lầm lạc, vì chính người cũng bị bao quanh bởi sự yếu đuối.
3 Vì sự yếu đuối đó, người phải dâng của lễ vì tội lỗi, không những cho dân chúng mà cũng cho chính mình.
4 Không ai tự nhận lấy vinh dự này cho mình, nhưng phải được Đức Chúa Trời kêu gọi, như A-rôn vậy.
5 Cũng vậy, Đấng Christ không tự tôn mình để trở nên Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, nhưng chính Đấng đã phán với Ngài rằng: “Con là Con Ta, ngày nay Ta đã sinh Con.”
6 Cũng như Ngài phán ở một chỗ khác: “Con là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
7 Trong những ngày còn trong xác thịt, Ngài đã dâng những lời cầu nguyện và nài xin, với tiếng kêu lớn và nước mắt, lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi sự chết, và Ngài đã được nhậm lời vì lòng kính sợ Đức Chúa Trời.
Thầy tế lễ thượng phẩm được chọn từ giữa loài người để đại diện cho con người trước mặt Đức Chúa Trời và dâng lễ vật cùng của lễ vì tội lỗi. Vì cùng chia sẻ sự yếu đuối của con người, người ấy có thể cảm thông với những người thiếu hiểu biết và lầm lạc. Tuy nhiên, người ấy cũng phải dâng của lễ vì chính tội lỗi của mình, cho thấy giới hạn của chức tế lễ dưới đất. Không ai có thể tự nhận lấy vinh dự này cho mình; người ấy phải được Đức Chúa Trời kêu gọi, như A-rôn vậy. Cũng vậy, Đấng Christ không tự tôn mình để trở nên Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, nhưng được Cha bổ nhiệm, Đấng đã tuyên bố Ngài là Con Ngài và cũng gọi Ngài là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Chức tế lễ này không dựa trên dòng dõi Lê-vi, nhưng dựa trên sự bổ nhiệm trực tiếp và mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Mên-chi-xê-đéc vừa là vua vừa là thầy tế lễ, chỉ về Đấng Christ, Đấng cai trị trong sự công chính và bình an, đồng thời đại diện cho nhân loại trước mặt Đức Chúa Trời. Trong đời sống trên đất, Chúa Giê-su đã dâng những lời cầu nguyện và nài xin với tiếng kêu lớn và nước mắt, cho thấy sự lệ thuộc hoàn toàn của Ngài nơi Cha, sự chịu khổ sâu xa của Ngài, và sự vâng phục trọn vẹn của Ngài.
Hê-bơ-rơ 5:8-10
8 Dù là Con, Ngài vẫn học sự vâng phục qua những điều Ngài đã chịu khổ.
9 Sau khi được làm cho hoàn hảo, Ngài trở nên nguồn của sự cứu rỗi đời đời cho tất cả những ai vâng phục Ngài,
10 được Đức Chúa Trời gọi là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm “theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
Dù Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời, Ngài vẫn học sự vâng phục qua những điều Ngài đã chịu khổ. Điều này không có nghĩa là Ngài từng không vâng phục hay phạm tội, nhưng có nghĩa là Ngài đã kinh nghiệm sự vâng phục trong ý nghĩa trọn vẹn nhất của con người, khi đi qua sự chịu khổ, thử thách và sự chết mà vẫn hoàn toàn trung tín với Cha. Qua sự chịu khổ này, Ngài được làm cho hoàn hảo, không phải về mặt đạo đức, vì Ngài vốn đã không có tội, nhưng theo nghĩa Ngài được chuẩn bị trọn vẹn và hoàn tất sứ mạng của mình với tư cách là Đấng Cứu Rỗi và Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm. Vì vậy, Ngài trở nên nguồn của sự cứu rỗi đời đời cho tất cả những ai vâng phục Ngài. Chức tế lễ của Ngài theo ban Mên-chi-xê-đéc cao trọng hơn chức tế lễ Lê-vi, vì chức tế lễ ấy không tạm thời, không thuộc đất, cũng không dựa trên dòng dõi loài người, nhưng được Đức Chúa Trời bổ nhiệm và liên kết với sự cứu rỗi đời đời.
Hê-bơ-rơ 5:11-14
11 Về điều này, chúng tôi có nhiều điều muốn nói và khó giải thích, vì anh em đã trở nên chậm nghe.
12 Đáng lẽ đến lúc này anh em phải làm thầy, nhưng anh em lại cần có người dạy lại cho mình những nguyên lý đầu tiên của lời Đức Chúa Trời; anh em cần sữa chứ không phải thức ăn đặc.
13 Vì ai chỉ dùng sữa thì chưa thành thạo trong lời công chính, vì người ấy còn là trẻ thơ.
14 Nhưng thức ăn đặc dành cho những người trưởng thành, tức là những người nhờ thực hành mà các giác quan được rèn luyện để phân biệt điều thiện và điều ác.
Tác giả lúc này quở trách các tín đồ vì sự non nớt thuộc linh của họ. Có nhiều điều sâu nhiệm hơn cần được giải thích về chức tế lễ của Đấng Christ, đặc biệt liên quan đến Mên-chi-xê-đéc, nhưng họ đã trở nên chậm nghe và chưa sẵn sàng tiếp nhận sự dạy dỗ sâu hơn. Đáng lẽ đến lúc này họ đã có thể dạy người khác, nhưng họ vẫn cần được dạy lại những nguyên lý căn bản của lời Đức Chúa Trời. Họ giống như trẻ nhỏ cần sữa thay vì thức ăn đặc. Sữa tượng trưng cho những lẽ thật căn bản của đức tin, còn thức ăn đặc tượng trưng cho sự hiểu biết thuộc linh sâu nhiệm hơn. Một tín đồ trưởng thành không chỉ quen thuộc với những sự dạy dỗ căn bản, nhưng đã lớn lên qua sự thực hành, học hỏi, cầu nguyện và vâng phục. Qua việc thường xuyên sử dụng lời Đức Chúa Trời, các giác quan thuộc linh của họ được rèn luyện để phân biệt điều thiện và điều ác. Vì vậy, đoạn này kêu gọi các tín đồ phải lớn lên trong đức tin, sự hiểu biết và sự phân biệt thuộc linh, để họ có thể đứng vững và sống như những môn đồ trưởng thành của Đấng Christ.

