
Hê-bơ-rơ 6
Hê-bơ-rơ 6 đưa ra một sứ điệp quan trọng về sự tăng trưởng Cơ Đốc, sự bền đỗ, và sự nguy hiểm của việc sa ngã khỏi đức tin. Chương này khuyên các tín đồ phải vượt qua những sự dạy dỗ căn bản và tiến tới sự trưởng thành thuộc linh. Chương này cũng đưa ra một lời cảnh báo nghiêm trọng về việc chối bỏ Đấng Christ sau khi đã nhận được ánh sáng lớn và kinh nghiệm các phước lành của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chương này cũng đem lại sự khích lệ mạnh mẽ bằng cách chỉ về lời hứa không thay đổi của Đức Chúa Trời, sự thành tín của Ngài, và niềm hy vọng chắc chắn mà các tín đồ có trong Đấng Christ, Đấng đã bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời với tư cách là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời của chúng ta.
Hê-bơ-rơ 6:1-3
1 Vậy, hãy rời khỏi những sự dạy dỗ sơ học về Đấng Christ, mà tiến đến sự trưởng thành, không đặt lại nền tảng về sự ăn năn khỏi các việc chết, và đức tin nơi Đức Chúa Trời,
2 về giáo lý các phép báp-têm, sự đặt tay, sự sống lại của kẻ chết, và sự phán xét đời đời.
3 Và chúng ta sẽ làm điều này nếu Đức Chúa Trời cho phép.
Các tín đồ được khuyên phải vượt qua những nguyên lý sơ học về Đấng Christ và tiến đến sự trưởng thành thuộc linh. Điều này không có nghĩa là họ phải bỏ những lẽ thật căn bản như sự ăn năn khỏi các việc chết, đức tin nơi Đức Chúa Trời, các phép báp-têm, sự đặt tay, sự sống lại của kẻ chết, và sự phán xét đời đời. Những sự dạy dỗ này là nền tảng quan trọng, nhưng các tín đồ không nên chỉ ở mãi trong giai đoạn nền tảng. Họ được kêu gọi phải xây dựng trên những lẽ thật này, lớn lên sâu hơn trong sự hiểu biết, và trở nên trưởng thành trong Đấng Christ. Sự tăng trưởng này chỉ có thể xảy ra khi Đức Chúa Trời cho phép và làm việc trong đời sống người tin Chúa, vì sự trưởng thành thật đến bởi sự hướng dẫn, quyền năng và ân điển của Ngài.
Hê-bơ-rơ 6:4-6
4 Vì những người đã từng được soi sáng, đã nếm biết ân tứ trên trời, đã trở nên những người dự phần trong Thánh Linh,
5 đã nếm biết lời tốt lành của Đức Chúa Trời và quyền năng của thời đại hầu đến,
6 nếu họ sa ngã, thì không thể khiến họ ăn năn trở lại được nữa, vì chính họ lại đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa và làm nhục Ngài cách công khai.
Một lời cảnh báo rất nghiêm trọng được đưa ra về sự nguy hiểm của việc sa ngã sau khi đã nhận được ánh sáng lớn và kinh nghiệm các phước lành của Đức Chúa Trời. Những người được mô tả ở đây đã được soi sáng, đã nếm biết ân tứ trên trời, đã dự phần trong Thánh Linh, và đã kinh nghiệm sự tốt lành của lời Đức Chúa Trời cùng quyền năng của thời đại hầu đến. Nếu những người như vậy cố ý chối bỏ Đấng Christ và quay lưng khỏi Ngài, thì sự ăn năn trở nên không thể, không phải vì Đức Chúa Trời không sẵn lòng tha thứ, nhưng vì lòng họ đã trở nên cứng cỏi và không còn đáp ứng với Thánh Linh. Khi chối bỏ Đấng Christ sau khi đã biết Ngài, về mặt thuộc linh, họ như đang đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa và làm nhục danh Ngài. Điều này cho thấy sự bội đạo không chỉ đơn giản là rơi vào yếu đuối hay phạm tội, nhưng là cố ý chối bỏ Đấng duy nhất có thể phục hồi và cứu rỗi.
Sự cứng lòng xảy ra qua việc nhiều lần chống lại ảnh hưởng của Thánh Linh. Khi một người nhận được lẽ thật nhưng tiếp tục chọn tội lỗi, sự nổi loạn, hoặc sự vô tín thay vì vâng phục, lương tâm dần dần trở nên kém nhạy bén với tiếng phán của Đức Chúa Trời. Đây thường là một tiến trình từ từ, chứ không phải điều xảy ra cách đột ngột. Giu-đa là một ví dụ về sự nguy hiểm này. Ông đã đi cùng Chúa Giê-su, nghe sự dạy dỗ của Ngài, thấy các phép lạ của Ngài, và kinh nghiệm tình yêu của Ngài, nhưng ông để lòng tham và sự thỏa hiệp lớn lên trong lòng cho đến khi phản bội Đấng Christ. Pha-ra-ôn cũng làm cứng lòng mình bằng cách nhiều lần từ chối vâng lời Đức Chúa Trời, dù đã thấy quyền năng của Ngài. Những ví dụ này nhắc các tín đồ phải tỉnh thức, quý trọng ánh sáng mình đã nhận, và nhanh chóng đáp ứng với sự cáo trách của Thánh Linh, để lòng họ không trở nên cứng cỏi chống lại ân điển của Đức Chúa Trời.
Hê-bơ-rơ 6:7-8
7 Vì đất uống nước mưa thường xuyên đổ xuống trên nó, và sinh ra cây cỏ có ích cho những người cày cấy, thì nhận được phước lành từ Đức Chúa Trời;
8 nhưng nếu nó sinh ra gai góc và cỏ dại, thì bị loại bỏ và gần bị rủa sả; cuối cùng sẽ bị đốt.
Tác giả dùng hình ảnh đất nhận mưa để cho thấy con người đáp ứng khác nhau đối với các phước lành của Đức Chúa Trời. Đất tốt nhận mưa và sinh ra hoa lợi có ích, nên nhận được phước lành từ Đức Chúa Trời. Cũng vậy, những ai nhận lời Đức Chúa Trời bằng đức tin và sự vâng phục sẽ sinh ra trái thuộc linh. Nhưng mảnh đất nhận cùng một cơn mưa mà chỉ sinh ra gai góc và cỏ dại thì trở nên vô ích và gần bị rủa sả. Điều này tượng trưng cho những người nhận ánh sáng và phước lành từ Đức Chúa Trời nhưng vẫn tiếp tục trong sự vô tín và nổi loạn. Lời cảnh báo rất rõ ràng: các ân tứ của Đức Chúa Trời phải sinh ra bông trái trong đời sống, chứ không phải sự cứng lòng, khô cằn hay chống nghịch.
Hê-bơ-rơ 6:9-10
9 Nhưng, hỡi anh em yêu dấu, dù chúng tôi nói như vậy, chúng tôi tin chắc rằng anh em có những điều tốt hơn, tức là những điều đi kèm với sự cứu rỗi.
10 Vì Đức Chúa Trời không bất công mà quên công việc và sự lao nhọc của tình yêu thương anh em đã bày tỏ vì danh Ngài, khi phục vụ các thánh đồ và vẫn còn phục vụ.
Sau khi đưa ra một lời cảnh báo mạnh mẽ, tác giả khích lệ các tín đồ bằng cách bày tỏ sự tin chắc rằng những điều tốt hơn đang có nơi họ, tức là những điều thuộc về sự cứu rỗi. Đời sống của họ đã bày tỏ bằng chứng của đức tin chân thật qua công việc, tình yêu thương và sự phục vụ các thánh đồ. Đức Chúa Trời là công bình và thành tín, Ngài không quên sự lao nhọc của tình yêu thương được làm vì danh Ngài. Điều này đem lại sự an ủi cho các tín đồ, cho thấy rằng dù các lời cảnh báo là nghiêm trọng, Đức Chúa Trời cũng nhìn nhận đức tin, tình yêu và sự phục vụ chân thành trong dân Ngài.
Hê-bơ-rơ 6:11-12
11 Chúng tôi mong muốn mỗi người trong anh em bày tỏ cùng một sự chuyên cần ấy, để có sự bảo đảm trọn vẹn của niềm hy vọng cho đến cuối cùng,
12 để anh em không trở nên chậm chạp, nhưng noi gương những người nhờ đức tin và lòng kiên nhẫn mà thừa hưởng các lời hứa.
Các tín đồ được khích lệ phải tiếp tục với cùng một sự chuyên cần cho đến cuối cùng, để họ có sự bảo đảm trọn vẹn của niềm hy vọng. Họ không được trở nên lười biếng thuộc linh, bất cẩn, hay chậm đáp ứng với Đức Chúa Trời. Trái lại, họ phải noi gương những người trung tín đã thừa hưởng các lời hứa của Đức Chúa Trời qua đức tin và lòng kiên nhẫn. Điều này cho thấy đời sống Cơ Đốc cần sự bền đỗ vững vàng, không chỉ là sự sốt sắng tạm thời. Đức tin tin cậy lời hứa của Đức Chúa Trời, còn sự kiên nhẫn tiếp tục nắm giữ cho đến khi lời hứa được ứng nghiệm.
Hê-bơ-rơ 6:13-15
13 Vì khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, vì không có ai lớn hơn để Ngài có thể chỉ bởi, nên Ngài đã chỉ bởi chính mình,
14 mà phán rằng: “Chắc chắn Ta sẽ ban phước cho ngươi, và sẽ làm cho ngươi sinh sản nhiều.”
15 Và như vậy, sau khi kiên nhẫn chờ đợi, Áp-ra-ham đã nhận được lời hứa.
Áp-ra-ham được dùng làm gương mẫu về đức tin và sự kiên nhẫn bền đỗ. Khi Đức Chúa Trời lập lời hứa với Áp-ra-ham, Ngài đã chỉ bởi chính mình vì không có ai lớn hơn để Ngài có thể chỉ bởi. Điều này cho thấy sự chắc chắn và nghiêm túc của lời hứa Đức Chúa Trời. Áp-ra-ham không nhận được mọi điều ngay lập tức, nhưng ông đã kiên nhẫn chịu đựng và cuối cùng nhận được điều Đức Chúa Trời đã hứa. Gương của ông khích lệ các tín đồ tin cậy lời Đức Chúa Trời, ngay cả khi sự ứng nghiệm dường như bị trì hoãn, vì các lời hứa của Đức Chúa Trời là chắc chắn và thời điểm của Ngài là thành tín.
Hê-bơ-rơ 6:16-18
16 Vì loài người thường chỉ bởi Đấng lớn hơn, và lời thề dùng để xác nhận thì chấm dứt mọi tranh cãi giữa họ.
17 Cũng vậy, Đức Chúa Trời muốn bày tỏ rõ ràng hơn cho những người thừa hưởng lời hứa thấy sự không thay đổi trong ý định của Ngài, nên Ngài đã xác nhận bằng lời thề,
18 để nhờ hai điều không thể thay đổi, trong đó Đức Chúa Trời không thể nói dối, chúng ta là những người đã chạy đến nương náu có được sự an ủi mạnh mẽ, và nắm giữ niềm hy vọng đặt trước mặt mình.
Đức Chúa Trời muốn ban cho dân Ngài sự bảo đảm mạnh mẽ, nên Ngài đã xác nhận lời hứa của Ngài bằng một lời thề. Giữa loài người, lời thề được dùng để giải quyết một vấn đề và đem lại sự chắc chắn, nhưng Đức Chúa Trời không có ai lớn hơn để chỉ bởi, nên Ngài đã chỉ bởi chính mình. Lời hứa và lời thề của Ngài là hai điều không thể thay đổi, và Đức Chúa Trời không thể nói dối. Điều này đem lại sự an ủi mạnh mẽ cho các tín đồ là những người đã chạy đến Ngài để nương náu. Niềm hy vọng của họ không đặt trên sức mạnh, cảm xúc hay nỗ lực của con người, nhưng trên lời không thay đổi và bản tính thành tín của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời không thể nói dối, dân Ngài có thể nắm giữ chắc chắn niềm hy vọng mà Ngài đã đặt trước mặt họ.
Hê-bơ-rơ 6:19-20
19 Niềm hy vọng này chúng ta có như một cái neo của linh hồn, vừa chắc chắn vừa vững bền, và đi vào bên trong bức màn,
20 nơi Chúa Giê-su, Đấng đi trước, đã vào vì chúng ta, khi Ngài trở nên Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.
Niềm hy vọng mà các tín đồ có trong Đấng Christ được mô tả như một cái neo của linh hồn, chắc chắn và vững bền. Cũng như cái neo giữ cho con thuyền được an toàn, niềm hy vọng này giữ cho các tín đồ vững vàng qua thử thách, nghi ngờ và khó khăn. Niềm hy vọng này vươn vào chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời, bên trong bức màn, vì Chúa Giê-su đã vào đó với tư cách là Đấng đi trước của chúng ta. Ngài đã đi trước chúng ta vào đền thánh trên trời và hiện đang phục vụ như Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Điều này có nghĩa là niềm hy vọng của chúng ta không dựa trên chính mình, nhưng trên công việc đã hoàn tất của Đấng Christ, chức vụ tế lễ của Ngài, và lời hứa không thay đổi của Đức Chúa Trời. Vì Chúa Giê-su đã ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì chúng ta, các tín đồ có thể có lòng tin chắc, sự bảo đảm và quyền đến gần Đức Chúa Trời qua Ngài.

