top of page

Tổng quan: Rô-ma

Sách Rô-ma được sứ đồ Phao-lô viết vào khoảng năm 57 SCN cho các tín hữu tại Rô-ma, là những người ông chưa từng đến thăm. Trong thư này, Phao-lô đưa ra một trong những sự giải thích rõ ràng và sâu sắc nhất về Tin Lành trong Tân Ước. Ông cho thấy rằng cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều là tội nhân và đều cần sự công chính của Đức Chúa Trời. Sự công chính này không thể đạt được bởi các việc làm của luật pháp hay nỗ lực của con người, nhưng được nhận lãnh qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ. Phao-lô viết thư này để chuẩn bị cho chuyến thăm của ông đến với các tín hữu tại Rô-ma, củng cố đức tin của họ, và đem lại sự hiệp nhất giữa các Cơ Đốc nhân Do Thái và dân ngoại. Sách Rô-ma giải thích nhu cầu cần được cứu rỗi, sự xưng công chính bởi đức tin, đời sống trong Đấng Christ, đời sống trong Thánh Linh, kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên và dân ngoại, cũng như cách các tín hữu nên sống trong tình yêu thương, sự vâng phục và sự hiệp nhất.

Rô-ma 1:
Phao-lô giới thiệu bản thân và giải thích rằng Tin Lành là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, cả người Do Thái lẫn dân ngoại. Sau đó, ông cho thấy rằng dân ngoại có tội trước mặt Đức Chúa Trời vì họ đã từ chối sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được bày tỏ qua công trình sáng tạo. Thay vì thờ phượng Đấng Tạo Hóa, họ quay sang thờ thần tượng, và điều này dẫn đến sự bại hoại đạo đức. Vì vậy, họ không thể bào chữa và cần sự công chính của Đức Chúa Trời.

Rô-ma 2:
Phao-lô nói với những người xét đoán người khác trong khi chính họ cũng làm những điều tương tự. Ông giải thích rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên lẽ thật, không dựa trên hình thức bên ngoài hay danh phận tôn giáo. Cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời. Phao-lô cũng dạy rằng phép cắt bì thật không chỉ là điều bên ngoài, nhưng là điều bên trong, thuộc về tấm lòng, bởi Thánh Linh.

Rô-ma 3:
Phao-lô cho thấy rằng cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều ở dưới tội lỗi. Không ai được xưng là công chính bởi việc làm hay nỗ lực riêng của mình. Luật pháp bày tỏ tội lỗi nhưng không thể làm cho con người trở nên công chính. Sau đó, Phao-lô giới thiệu lẽ thật tuyệt vời về sự xưng công chính bởi đức tin: Đức Chúa Trời ban sự công chính của Ngài qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ cho tất cả những ai tin.

Rô-ma 4:
Phao-lô dùng Áp-ra-ham như một gương mẫu lớn về sự xưng công chính bởi đức tin. Áp-ra-ham được kể là công chính vì ông tin Đức Chúa Trời, chứ không phải bởi việc làm hay bởi phép cắt bì. Điều này cho thấy sự công chính là một món quà được nhận lãnh bởi đức tin. Lời hứa không chỉ dành cho người Do Thái, nhưng cũng dành cho tất cả những ai có cùng đức tin như Áp-ra-ham.

Rô-ma 5:
Phao-lô giải thích các phước lành của việc được xưng công chính bởi đức tin. Các tín hữu có sự hòa thuận với Đức Chúa Trời và được bước vào ân điển của Ngài. Sau đó, ông đối chiếu A-đam và Đấng Christ. Qua A-đam, tội lỗi và sự chết đã vào thế gian. Nhưng qua Đấng Christ, ân điển, sự công chính và sự sống được ban cho mọi người. Sự vâng phục của Đấng Christ đem đến món quà sự sống, trong khi sự bất tuân của A-đam đem đến sự chết.

Rô-ma 6:
Phao-lô giải thích rằng các tín hữu không nên tiếp tục sống trong tội lỗi chỉ vì ân điển dư dật. Qua phép báp-têm vào sự chết của Đấng Christ, các tín hữu phải kể mình đã chết đối với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời. Họ không còn là nô lệ của tội lỗi, nhưng là tôi tớ của sự công chính. Ân điển không cho phép con người phạm tội; ân điển giải phóng con người khỏi quyền thống trị của tội lỗi.

Rô-ma 7:
Phao-lô bàn về mối liên hệ giữa luật pháp, tội lỗi, và sự yếu đuối của con người. Ông bắt đầu bằng hình ảnh minh họa về một người phụ nữ và chồng của nàng: người phụ nữ bị ràng buộc với chồng khi chồng còn sống, nhưng khi chồng chết, nàng được tự do để thuộc về người khác. Cũng vậy, người tin Chúa phải “chết đối với luật pháp” qua thân thể của Đấng Christ, để họ không còn bị ràng buộc với chức vụ cũ của chữ viết trong giao ước cũ, nhưng có thể thuộc về Đấng Christ, là Đấng đã sống lại từ cõi chết, và kết quả cho Đức Chúa Trời. Điều này liên hệ với Ga-la-ti 3:23-25, nơi luật pháp được mô tả như người giám hộ cho đến khi Đấng Christ đến; nhưng nay khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới người giám hộ ấy nữa. Luật pháp là thánh khiết và tốt lành, nhưng tội lỗi dùng luật pháp để khơi dậy sự phản nghịch trong xác thịt. Chương này cho thấy nhu cầu của chúng ta về sự giải cứu khỏi cả lối phục vụ cũ dưới chữ viết lẫn quyền lực của chính tội lỗi, để chúng ta có thể phục vụ Đức Chúa Trời trong sự mới mẻ của Thánh Linh qua Giê-su Christ.

Rô-ma 8:
Phao-lô vui mừng công bố đời sống chiến thắng trong Thánh Linh. Không còn sự định tội cho những ai ở trong Đấng Christ Giê-su. Điều luật pháp không thể làm được vì sự yếu đuối của xác thịt, Đức Chúa Trời đã làm qua Đấng Christ. Thánh Linh ban sự sống, dẫn dắt con cái Đức Chúa Trời, giúp đỡ họ trong sự yếu đuối, và bảo đảm cho họ về vinh quang tương lai. Chương này kết thúc bằng lời hứa đầy quyền năng rằng không điều gì có thể phân rẽ các tín hữu khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Giê-su.

Rô-ma 9:
Phao-lô bày tỏ nỗi đau buồn sâu sắc về sự vô tín của Y-sơ-ra-ên. Ông giải thích rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời không hề thất bại, vì không phải tất cả những người là dòng dõi thể xác của Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Y-sơ-ra-ên thật bởi đức tin. Mục đích của Đức Chúa Trời dựa trên lòng thương xót và sự kêu gọi của Ngài, chứ không dựa trên nỗ lực của con người. Chương này nhấn mạnh quyền tối thượng của Đức Chúa Trời và quyền của Ngài trong việc hành động theo sự khôn ngoan của chính Ngài.

Rô-ma 10:
Phao-lô tiếp tục giải thích sự vô tín của Y-sơ-ra-ên. Nhiều người tìm kiếm sự công chính qua luật pháp thay vì qua đức tin nơi Đấng Christ. Phao-lô dạy rằng Đấng Christ là sự hoàn thành và mục tiêu của luật pháp để đem sự công chính đến cho mọi người tin. Sự cứu rỗi dành sẵn cho tất cả những ai kêu cầu danh Chúa. Chương này cũng cho thấy tầm quan trọng của sự rao giảng, vì con người phải nghe Tin Lành thì mới có thể tin.

Rô-ma 11:
Phao-lô giải thích rằng Đức Chúa Trời không hoàn toàn từ bỏ Y-sơ-ra-ên. Vẫn còn một phần sót lại trung tín được chọn bởi ân điển. Ông cũng giải thích cách dân ngoại được đưa vào, đồng thời cảnh báo họ đừng trở nên kiêu ngạo. Cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều được cứu bởi đức tin và lòng thương xót. Phao-lô kết thúc phần này bằng lời ngợi khen sự khôn ngoan và tri thức của Đức Chúa Trời, Đấng có các kế hoạch sâu nhiệm vượt quá sự hiểu biết của con người.

Rô-ma 12:
Bây giờ Phao-lô chuyển sang đời sống Cơ Đốc thực tế. Vì lòng thương xót của Đức Chúa Trời, các tín hữu phải dâng thân thể mình làm của lễ sống và được biến đổi bởi sự đổi mới tâm trí. Họ phải trung tín sử dụng các ân tứ thuộc linh, phục vụ lẫn nhau, yêu thương cách chân thành, sống khiêm nhường, chúc phước cho kẻ thù, và lấy điều thiện thắng điều ác.

Rô-ma 13:
Phao-lô dạy các tín hữu cách liên hệ với chính quyền, giải thích rằng thẩm quyền dân sự có vai trò trong việc duy trì trật tự. Cơ Đốc nhân nên sống cách lương thiện, có trách nhiệm và hòa bình. Phao-lô cũng dạy rằng tình yêu thương là sự làm trọn luật pháp, vì tình yêu thương thật không làm hại người khác. Ông khuyên các tín hữu hãy sống trong sự sẵn sàng, vì biết rằng ngày của Đấng Christ đang đến gần hơn.

Rô-ma 14:
Phao-lô nói về những vấn đề thuộc lương tâm, đặc biệt là thức ăn và các ngày đặc biệt. Một số tín hữu có đức tin mạnh hơn, trong khi những người khác nhạy cảm hơn trong lương tâm. Phao-lô dạy họ không được xét đoán hay khinh thường nhau về những vấn đề còn có thể tranh luận. Mỗi người phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời. Các tín hữu nên sống trong tình yêu thương và tránh làm người khác vấp phạm.

Rô-ma 15:
Phao-lô tiếp tục chủ đề về sự hiệp nhất. Những người mạnh mẽ trong đức tin nên nâng đỡ sự yếu đuối của người yếu, chứ không chỉ làm điều đẹp lòng chính mình. Đấng Christ là gương mẫu của tình yêu thương và sự phục vụ quên mình. Phao-lô cũng nhắc họ về sứ mạng của ông là rao giảng Tin Lành cho dân ngoại. Ông chia sẻ mong muốn được đến thăm Rô-ma và xin các tín hữu cầu nguyện cho ông.

Rô-ma 16:
Phao-lô kết thúc bức thư với nhiều lời chào thăm cá nhân, cho thấy tình yêu thương và sự biết ơn của ông đối với các tín hữu đã trung tín phục vụ trong Hội Thánh. Ông cũng cảnh báo họ phải coi chừng những kẻ gây chia rẽ và dẫn người khác xa khỏi lẽ thật. Bức thư kết thúc bằng lời ngợi khen Đức Chúa Trời, Đấng đã bày tỏ sự mầu nhiệm của Tin Lành qua Chúa Giê-su Christ và làm cho Tin Lành ấy được biết đến giữa mọi dân tộc để đem họ đến sự vâng phục của đức tin.

bottom of page