
Lu-ca 14
Trong Lu-ca 14, Chúa Giê-su đề cập đến các chủ đề về sự khiêm nhường, lòng thương xót và cái giá phải trả để làm môn đồ. Ngài bắt đầu bằng việc chữa lành một người trong ngày Sa-bát, qua đó thách thức cách giải thích cứng nhắc của người Pha-ri-si về luật pháp. Sau đó, Chúa Giê-su dạy về sự khiêm nhường qua dụ ngôn tiệc cưới, và kêu gọi lòng thương xót trong dụ ngôn về bữa tiệc lớn, nhấn mạnh sự tiếp nhận rộng rãi thay vì sự loại trừ. Ngài kết thúc bằng một sứ điệp nghiêm túc về cái giá của sự làm môn đồ, kêu gọi những người theo Ngài phải suy xét cách nghiêm túc về sự cam kết của mình đối với Ngài.
Lu-ca 14:1
1 Một ngày Sa-bát, khi Ngài vào nhà một trong những người lãnh đạo của phái Pha-ri-si để dùng bữa, thì họ chăm chú theo dõi Ngài.
Chúa Giê-su được mời dùng bữa tại nhà một người Pha-ri-si trong ngày Sa-bát, là ngày thánh mà người ta thường mong đợi sự tuân giữ luật pháp cách nghiêm ngặt. Những người Pha-ri-si chăm chú theo dõi Ngài, có lẽ với sự nghi ngờ, vì Chúa Giê-su thường thách thức cách họ giải thích luật pháp. Những hành động của Ngài trong hoàn cảnh này sẽ thử nghiệm ranh giới của truyền thống và bày tỏ những lẽ thật sâu xa hơn về lòng thương xót của Đức Chúa Trời.
Lu-ca 14:2-6
2 Kìa, trước mặt Ngài có một người mắc bệnh phù thũng.
3 Chúa Giê-su cất tiếng hỏi các nhà thông giáo và người Pha-ri-si rằng: “Có được phép chữa bệnh trong ngày Sa-bát không?”
4 Nhưng họ im lặng. Ngài bèn đỡ người ấy, chữa lành rồi cho đi.
5 Rồi Ngài nói với họ: “Trong các ngươi, ai có lừa hay bò bị rơi xuống hố mà không lập tức kéo nó lên trong ngày Sa-bát?”
6 Họ không thể trả lời Ngài về những điều ấy.
Chúa Giê-su đối diện với những người Pha-ri-si về câu hỏi liệu có được phép chữa lành trong ngày Sa-bát hay không. Qua việc chữa lành người mắc bệnh phù thũng, Ngài cho thấy lòng thương xót vượt trên sự giữ lễ nghi cách hình thức. Hình ảnh Ngài đưa ra về việc cứu một con vật trong ngày Sa-bát phơi bày sự mâu thuẫn trong niềm tin của họ, đồng thời nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời mong muốn lòng thương xót hơn là chủ nghĩa luật pháp cứng nhắc.
Lu-ca 14:7-11
7 Khi Ngài thấy những người được mời chọn chỗ danh dự, Ngài kể cho họ một dụ ngôn rằng:
8 “Khi ngươi được ai mời dự tiệc cưới, đừng ngồi vào chỗ danh dự, e rằng có người khác đáng trọng hơn ngươi cũng được mời,
9 rồi người đã mời cả ngươi lẫn người ấy đến nói với ngươi rằng: ‘Hãy nhường chỗ cho người này,’ bấy giờ ngươi sẽ xấu hổ mà phải xuống ngồi chỗ thấp nhất.
10 Nhưng khi ngươi được mời, hãy đi ngồi vào chỗ thấp nhất, để khi người đã mời ngươi đến, người ấy có thể nói với ngươi rằng: ‘Bạn ơi, hãy lên chỗ cao hơn.’ Khi ấy, ngươi sẽ được vinh dự trước mặt những người cùng ngồi bàn với ngươi.
11 Vì ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Chúa Giê-su quan sát những khách mời chọn chỗ cao trọng và dùng cảnh tượng này để dạy về sự khiêm nhường. Ngài khuyên những người nghe hãy chọn chỗ thấp hơn, để người khác có thể nâng họ lên nếu xứng đáng. Cách sống này nuôi dưỡng sự khiêm nhường và phản ánh nguyên tắc của Đức Chúa Trời: danh dự thật đến với những ai hạ mình, chứ không đến với những ai tìm cách tự tôn mình lên.
Lu-ca 14:12-14
12 Ngài cũng nói với người đã mời Ngài rằng: “Khi ngươi đãi bữa trưa hay bữa tối, đừng mời bạn bè, anh em, bà con, hay những người láng giềng giàu có, e rằng họ cũng mời lại ngươi, và như vậy ngươi đã được trả ơn rồi.
13 Nhưng khi ngươi đãi tiệc, hãy mời người nghèo, người tàn tật, người què, người mù.
14 Ngươi sẽ được phước, vì họ không có gì để trả lại cho ngươi; bởi ngươi sẽ được trả lại trong sự sống lại của người công chính.”
Chúa Giê-su dạy về lòng rộng rãi không ích kỷ, khi Ngài bảo người chủ tiệc hãy mời những người không thể đáp trả mình—người nghèo, người khuyết tật và những người bị xã hội xem nhẹ. Sự vô vị lợi này phù hợp với giá trị của Đức Chúa Trời, vì lòng nhân từ thật không mong chờ phần thưởng đáp lại. Chúa Giê-su hứa rằng chính Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho những hành động như vậy trong sự sống lại của người công chính, qua đó nhấn mạnh phần thưởng đời đời hơn là phần thưởng trần gian.
Lu-ca 14:15-24
15 Khi một người cùng ngồi bàn với Ngài nghe những điều ấy, người đó nói với Ngài: “Phước cho người nào sẽ được ăn bánh trong vương quốc của Đức Chúa Trời!”
16 Ngài phán với người ấy rằng: “Có một người kia dọn một bữa tiệc lớn và mời nhiều người.
17 Đến giờ tiệc, người ấy sai đầy tớ đi nói với những người đã được mời rằng: ‘Hãy đến, vì mọi sự đã sẵn sàng.’
18 Nhưng tất cả đều đồng lòng bắt đầu viện cớ. Người thứ nhất nói: ‘Tôi mới mua một thửa ruộng, cần phải đi xem. Xin cho tôi kiếu.’
19 Người khác nói: ‘Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi đi thử chúng. Xin cho tôi kiếu.’
20 Người khác nữa nói: ‘Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.’
21 Người đầy tớ trở về thuật lại những điều ấy cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà nổi giận, bảo đầy tớ rằng: ‘Hãy mau ra các đường phố và ngõ hẻm trong thành, đem những người nghèo, người tàn tật, người què và người mù vào đây.’
22 Người đầy tớ nói: ‘Thưa chủ, điều chủ truyền đã được làm, nhưng vẫn còn chỗ.’
23 Chủ nói với đầy tớ: ‘Hãy ra các đường lớn và hàng rào, ép họ vào, để nhà ta được đầy.
24 Vì ta nói với các ngươi rằng không một ai trong những người đã được mời kia sẽ được nếm bữa tiệc của ta.’”
Đáp lại lời nhận xét về việc ăn trong vương quốc của Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su kể một dụ ngôn về một bữa tiệc mà những người được mời lại từ chối tham dự, đưa ra nhiều lý do khác nhau. Người chủ nổi giận và mời những người bị xã hội xem nhẹ vào thay thế, tượng trưng cho lời mời gọi của Đức Chúa Trời dành cho mọi người, đặc biệt là những người thường bị bỏ qua. Dụ ngôn này nhấn mạnh sự nguy hiểm của việc xem nhẹ lời kêu gọi của Đức Chúa Trời vì những mối bận tâm đời này, đồng thời bày tỏ sự tiếp nhận rộng rãi trong vương quốc của Đức Chúa Trời.
Lu-ca 14:25-27
25 Có đoàn dân đông đi theo Ngài. Ngài quay lại và phán với họ:
26 “Nếu ai đến với Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đồ Ta.
27 Ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta thì không thể làm môn đồ Ta.”
Chúa Giê-su nói với đoàn dân đông bằng một lời kêu gọi đầy thách thức về sự làm môn đồ. Khi dùng từ “ghét,” Ngài có ý rằng tình yêu của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su phải vượt trên mọi sự gắn bó khác, kể cả gia đình. Mức độ tận hiến này đòi hỏi sự sẵn lòng hy sinh những mối ràng buộc cá nhân và sự thoải mái riêng, được tượng trưng bằng việc vác thập tự giá mình. Chúa Giê-su kêu gọi những người theo Ngài phải đặt Ngài trên hết mọi sự, phản ánh chiều sâu nghiêm túc của sự cam kết mà Ngài đòi hỏi.
Lu-ca 14:28-33
28 Vì trong các ngươi, ai muốn xây một cái tháp mà trước hết không ngồi xuống tính phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không?
29 Kẻo khi đã đặt nền rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người thấy vậy sẽ bắt đầu chế nhạo,
30 nói rằng: ‘Người này đã khởi công xây mà không thể hoàn thành.’
31 Hay có vua nào đi giao chiến với vua khác mà trước hết không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem mười ngàn quân địch lại người đem hai mươi ngàn quân đến đánh mình không?
32 Nếu không, khi người kia còn ở xa, vua ấy sai sứ đoàn đến xin điều kiện hòa bình.
33 Cũng vậy, ai trong các ngươi không từ bỏ mọi điều mình có thì không thể làm môn đồ Ta.”
Chúa Giê-su minh họa cái giá của sự làm môn đồ qua hai hình ảnh: một người xây tháp và một vị vua. Cả hai đều phải tính toán phí tổn trước khi cam kết hành động, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của sự suy xét cẩn thận và hy sinh trong việc theo Đấng Christ. Sự làm môn đồ thật đòi hỏi một tấm lòng sẵn sàng từ bỏ mọi sự, để người theo Ngài hiểu rõ mức độ nghiêm túc của sự cam kết này.
Lu-ca 14:34-35
34 “Muối là tốt; nhưng nếu muối mất vị mặn, thì làm sao lấy lại vị mặn được?
35 Nó không còn thích hợp cho đất, cũng không thích hợp cho đống phân; người ta ném nó đi. Ai có tai để nghe, hãy nghe!”
Chúa Giê-su kết thúc bằng cách so sánh môn đồ với muối, có giá trị khi còn vị mặn nhưng trở nên vô dụng nếu đánh mất mục đích của nó. Hình ảnh này cảnh báo chống lại sự cam kết nửa vời. Cũng như muối mất vị thì vô ích, một môn đồ không có sự tận hiến thật không thể hoàn thành sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su kêu gọi những người nghe Ngài bước vào sự làm môn đồ chân thật và được biến đổi.

