top of page

Lu-ca 2

Lu-ca 2 mô tả những sự kiện quan trọng liên quan đến sự giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su. Chương này bao gồm sắc lệnh của La Mã khiến Ma-ri và Giô-sép phải đến Bết-lê-hem, nơi Chúa Giê-su được sinh ra. Những người chăn chiên nhận được sự báo tin thiên thượng về sự giáng sinh của Ngài và đến thăm Ngài, vui mừng vì Đấng Cứu Rỗi đã đến. Sau đó, Chúa Giê-su được dâng lên tại đền thờ, nơi Si-mê-ôn và An-ne nhận biết Ngài là Đấng Mê-si-a. Chương này kết thúc bằng một cái nhìn thoáng qua về sự khôn ngoan của Chúa Giê-su khi còn là một thiếu niên trong đền thờ. Lu-ca 2 nhấn mạnh sự ứng nghiệm của lời tiên tri và sự nhận biết mục đích thần thượng của Chúa Giê-su từ khi còn nhỏ.

Lu-ca 2:1-7
1 Trong những ngày ấy, có một sắc lệnh từ Sê-sa Au-gút-tơ ban ra, truyền rằng cả thiên hạ phải đăng ký hộ tịch.
2 Việc đăng ký này là lần đầu tiên được thực hiện khi Qui-ri-ni-u làm tổng đốc xứ Sy-ri.
3 Mọi người đều đi đăng ký, ai về thành nấy.
4 Giô-sép cũng từ Ga-li-lê, từ thành Na-xa-rét, đi lên xứ Giu-đê, đến thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, vì ông thuộc nhà và dòng dõi Đa-vít,
5 để đăng ký với Ma-ri, người đã đính hôn với ông, đang mang thai.
6 Khi họ đang ở đó, thì ngày sinh nở của nàng đã đến.
7 Nàng sinh Con trai đầu lòng, lấy khăn bọc Con, đặt nằm trong máng cỏ, vì không có chỗ cho họ trong quán trọ.

Sắc lệnh kiểm tra dân số của La Mã buộc Giô-sép và Ma-ri phải đi đến Bết-lê-hem, qua đó làm ứng nghiệm lời tiên tri rằng Đấng Mê-si-a sẽ được sinh ra tại thành của Đa-vít. Dù việc di chuyển rất khó khăn khi Ma-ri đang mang thai, sự vâng phục của họ dẫn đến sự giáng sinh của Chúa Giê-su trong hoàn cảnh khiêm nhường. Việc Ngài được đặt nằm trong máng cỏ cho thấy sự đến thế gian cách thấp hèn, nhấn mạnh rằng Ngài gần gũi và có thể tiếp cận với mọi người, bất kể địa vị xã hội.

Lu-ca 2:8-14
8 Trong vùng ấy có những người chăn chiên đang ở ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.
9 Kìa, một thiên sứ của Chúa hiện đến với họ, và vinh quang của Chúa chiếu sáng chung quanh họ; họ rất sợ hãi.
10 Thiên sứ phán với họ: “Đừng sợ, vì này, ta báo cho các ngươi một tin mừng lớn, sẽ dành cho toàn dân.
11 Vì hôm nay tại thành Đa-vít, một Đấng Cứu Rỗi đã sinh ra cho các ngươi, Ngài là Đấng Christ, là Chúa.
12 Đây sẽ là dấu hiệu cho các ngươi: Các ngươi sẽ thấy một Hài Nhi được bọc trong khăn, nằm trong máng cỏ.”
13 Bỗng nhiên có muôn vàn thiên binh hiện ra cùng với thiên sứ ấy, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:
14 “Vinh quang trên trời cao thuộc về Đức Chúa Trời, và bình an dưới đất, thiện ý đối với loài người!”

Các thiên sứ hiện ra với những người chăn chiên, là nhóm người thường bị xã hội xem nhẹ, qua đó bày tỏ ân huệ của Đức Chúa Trời dành cho những người khiêm nhường và thấp hèn. Sứ điệp của thiên sứ đem đến sự trấn an và niềm vui, công bố Chúa Giê-su là Đấng Cứu Rỗi cho mọi dân. Ca đoàn thiên thượng ngợi khen Đức Chúa Trời, xác nhận sự bình an và thiện ý dành cho nhân loại, nhấn mạnh ý nghĩa của sự giáng sinh của Chúa Giê-su như một biến cố làm thay đổi thế giới.

Lu-ca 2:15-20
15 Khi các thiên sứ lìa họ mà lên trời, những người chăn chiên nói với nhau: “Chúng ta hãy đến Bết-lê-hem, xem việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta biết.”
16 Họ vội vàng đi đến, gặp Ma-ri, Giô-sép, và Hài Nhi nằm trong máng cỏ.
17 Khi đã thấy Ngài, họ thuật lại những điều đã được báo cho họ về Con Trẻ này.
18 Tất cả những người nghe đều ngạc nhiên về những điều các người chăn chiên thuật lại.
19 Còn Ma-ri thì ghi nhớ mọi điều ấy và suy ngẫm trong lòng.
20 Những người chăn chiên trở về, tôn vinh và ngợi khen Đức Chúa Trời vì mọi điều họ đã nghe và thấy, đúng như đã được báo cho họ.

Những người chăn chiên đáp ứng ngay lập tức, háo hức muốn chứng kiến Đấng Mê-si-a đã được hứa ban. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su khiến họ tràn đầy vui mừng, thúc đẩy họ loan báo tin ấy rộng rãi. Những người nghe lời chứng của các người chăn chiên đều kinh ngạc, trong khi Ma-ri suy ngẫm sâu sắc về các sự kiện này. Việc những người chăn chiên vui mừng trở về cho thấy ảnh hưởng của việc gặp Đấng Cứu Rỗi và vai trò của họ như những sứ giả đầu tiên loan báo sự giáng sinh của Ngài.

Lu-ca 2:21-24
21 Khi đã đủ tám ngày để làm phép cắt bì cho Con Trẻ, người ta đặt tên Ngài là Giê-su, là tên thiên sứ đã đặt trước khi Ngài được thụ thai trong lòng mẹ.
22 Khi những ngày thanh tẩy của Ma-ri theo luật Môi-se đã mãn, họ đem Con Trẻ lên Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa,
23 như đã chép trong luật của Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là thánh cho Chúa,”
24 và để dâng của lễ theo điều đã phán trong luật của Chúa: “Một đôi chim gáy hoặc hai chim bồ câu con.”

Phân đoạn này nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su đã sống theo luật pháp của người Do Thái ngay từ khi còn thơ ấu, cho thấy Ngài đồng nhất với dân Y-sơ-ra-ên và vai trò của Ngài là Đấng Mê-si-a. Việc Ngài chịu cắt bì vào ngày thứ tám phù hợp với giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham (Sáng Thế Ký 17:10-12) và tượng trưng cho sự Ngài được kể vào dân được chọn của Đức Chúa Trời. Việc đặt tên Ngài là Giê-su theo lời thiên sứ phản ánh sứ mạng thần thượng của Ngài là Đấng Cứu Rỗi (Lu-ca 1:31; Ma-thi-ơ 1:21). Sự thanh tẩy của Ma-ri sau khi sinh con tuân theo các yêu cầu trong Lê-vi Ký 12:1-8, nơi người phụ nữ phải dâng của lễ, và có sự dự liệu cho người nghèo được dâng hai con chim thay vì một con chiên. Của lễ của họ cho thấy hoàn cảnh khiêm nhường của gia đình. Việc dâng Chúa Giê-su trong đền thờ làm ứng nghiệm Xuất Ê-díp-tô Ký 13:2, nơi Đức Chúa Trời truyền rằng mọi con trai đầu lòng phải được biệt riêng cho Ngài. Khi vâng theo những luật này, gia đình Chúa Giê-su bày tỏ lòng trung tín, và sự dâng hiến của Ngài báo trước vai trò của Ngài là Đấng sẽ làm trọn luật pháp cách hoàn hảo (Ma-thi-ơ 5:17) và cứu chuộc nhân loại.

Lu-ca 2:25-35
25 Kìa, tại Giê-ru-sa-lem có một người tên là Si-mê-ôn; người này công chính và đạo đức, đang trông đợi sự an ủi của Y-sơ-ra-ên, và Thánh Linh ở trên ông.
26 Thánh Linh đã tỏ cho ông biết rằng ông sẽ không thấy sự chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa.
27 Ông được Thánh Linh cảm thúc vào đền thờ. Khi cha mẹ đem Con Trẻ Giê-su vào để làm cho Ngài theo tục lệ của luật pháp,
28 thì ông bồng Ngài trên tay, chúc tụng Đức Chúa Trời và nói:
29 “Lạy Chúa, bây giờ Ngài để tôi tớ Ngài ra đi bình an, theo lời Ngài;
30 vì mắt con đã thấy sự cứu rỗi của Ngài,
31 mà Ngài đã chuẩn bị trước mặt mọi dân,
32 là ánh sáng để soi dẫn cho dân ngoại, và là vinh quang của dân Y-sơ-ra-ên Ngài.”
33 Giô-sép và mẹ Ngài ngạc nhiên về những điều được nói về Ngài.
34 Si-mê-ôn chúc phước cho họ và nói với Ma-ri, mẹ Ngài: “Này, Con Trẻ này được định cho sự sa ngã và sự trỗi dậy của nhiều người trong Y-sơ-ra-ên, và làm một dấu hiệu bị chống đối,
35 còn chính linh hồn bà cũng sẽ bị một thanh gươm đâm thấu, để ý tưởng trong lòng nhiều người được bày tỏ.”

Si-mê-ôn, một người đạo đức, nhận được lời hứa từ Thánh Linh rằng ông sẽ được thấy Đấng Mê-si-a. Khi nhận biết Chúa Giê-su là sự ứng nghiệm của lời hứa ấy, ông công bố Chúa Giê-su là sự cứu rỗi dành cho mọi dân, kể cả dân ngoại. Lời tiên tri của ông dành cho Ma-ri báo trước cả ảnh hưởng của Chúa Giê-su lẫn nỗi đau buồn mà bà sẽ trải qua, nhấn mạnh vai trò quan trọng của Chúa Giê-su trong việc bày tỏ tấm lòng của nhiều người.

Lu-ca 2:36-40
36 Lại có nữ tiên tri An-ne, con gái Pha-nu-ên, thuộc chi phái A-se. Bà đã cao tuổi, từng sống với chồng bảy năm từ khi còn đồng trinh;
37 rồi ở góa cho đến tám mươi bốn tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, nhưng hầu việc Đức Chúa Trời bằng sự kiêng ăn và cầu nguyện cả ngày lẫn đêm.
38 Vào chính giờ ấy, bà đến, cảm tạ Chúa, và nói về Con Trẻ với tất cả những người đang trông đợi sự cứu chuộc tại Giê-ru-sa-lem.
39 Khi họ đã làm xong mọi điều theo luật của Chúa, họ trở về Ga-li-lê, về thành Na-xa-rét của mình.
40 Con Trẻ lớn lên, mạnh mẽ trong tâm linh, đầy dẫy sự khôn ngoan, và ân điển của Đức Chúa Trời ở trên Ngài.

An-ne, một nữ tiên tri tận hiến, nhận biết Chúa Giê-su là nguồn của sự cứu chuộc và sốt sắng chia sẻ sự mặc khải này. Lời chứng của bà xác nhận lời tuyên bố của Si-mê-ôn và đem thêm sự khích lệ cho những người đang trông đợi Đấng Mê-si-a. Việc Chúa Giê-su trở về Na-xa-rét và lớn lên trong sự khôn ngoan cùng ân điển cho thấy sự phát triển của Ngài dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, chuẩn bị Ngài cho sứ mạng của mình.

Lu-ca 2:41-52
41 Hằng năm, cha mẹ Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem vào lễ Vượt Qua.
42 Khi Ngài được mười hai tuổi, họ lên Giê-ru-sa-lem theo tục lệ của kỳ lễ.
43 Khi những ngày lễ đã xong, họ trở về, nhưng cậu bé Giê-su ở lại Giê-ru-sa-lem mà Giô-sép và mẹ Ngài không hay biết.
44 Họ tưởng Ngài ở trong đoàn người, nên đi trọn một ngày đường, rồi tìm Ngài giữa vòng bà con và người quen.
45 Khi không tìm thấy Ngài, họ trở lại Giê-ru-sa-lem để tìm.
46 Sau ba ngày, họ tìm thấy Ngài trong đền thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe vừa hỏi họ.
47 Tất cả những người nghe Ngài đều kinh ngạc về sự hiểu biết và các câu trả lời của Ngài.
48 Khi thấy Ngài, họ rất ngạc nhiên; mẹ Ngài nói với Ngài: “Con ơi, sao Con làm cho cha mẹ như vậy? Kìa, cha Con và mẹ đã lo lắng tìm Con.”
49 Ngài thưa với họ: “Sao cha mẹ tìm Con? Cha mẹ không biết rằng Con phải lo việc của Cha Con sao?”
50 Nhưng họ không hiểu lời Ngài nói với họ.
51 Rồi Ngài đi xuống với họ, trở về Na-xa-rét và vâng phục họ. Còn mẹ Ngài thì ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.
52 Chúa Giê-su càng thêm khôn ngoan, càng lớn lên, và càng được ơn trước mặt Đức Chúa Trời và người ta.

Khi mười hai tuổi, Chúa Giê-su bày tỏ sự nhận thức sớm về mục đích thần thượng của mình khi Ngài trò chuyện với các thầy dạy tôn giáo trong đền thờ. Câu trả lời của Ngài với Ma-ri cho thấy ý thức mạnh mẽ về sứ mạng của Ngài, nhưng Ngài vẫn vâng phục cha mẹ phần xác, bày tỏ sự khiêm nhường. Sự tăng trưởng của Ngài trong khôn ngoan, vóc dáng, và ân huệ phản ánh cả sự phát triển nhân tính của Ngài lẫn bàn tay của Đức Chúa Trời trên đời sống Ngài khi Ngài trưởng thành để bước vào vai trò Đấng Cứu Rỗi.

bottom of page