
Mác 12
Mác chương 12 tiếp tục cuộc xung đột giữa Chúa Giê-su và các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem. Qua các ví dụ, những câu hỏi và lời cảnh báo trực tiếp, Chúa Giê-su phơi bày sự vô tín, giả hình và mù lòa thuộc linh của những người tự xưng là đại diện cho Đức Chúa Trời. Chương này bắt đầu với ví dụ về những người trồng nho gian ác, cho thấy cách các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên đã khước từ các sứ giả của Đức Chúa Trời và sắp sửa khước từ chính Con yêu dấu của Ngài. Sau đó, người Pha-ri-si, phe Hê-rốt và người Sa-đu-sê cố gài bẫy Chúa Giê-su bằng những câu hỏi về thuế và sự sống lại, nhưng các câu trả lời của Ngài bày tỏ sự khôn ngoan và thẩm quyền thần thượng. Chúa Giê-su tiếp đó xác nhận các điều răn lớn nhất: yêu kính Đức Chúa Trời chân thật duy nhất và yêu người lân cận. Ngài cũng thách thức sự hiểu biết giới hạn của các thầy thông giáo về Đấng Mê-si-a, cho thấy Đấng Christ không chỉ đơn thuần là hậu duệ của Đa-vít; Ngài còn là Chúa của Đa-vít. Chương này kết thúc bằng sự đối chiếu giữa lòng kiêu ngạo và tham lam của các thầy thông giáo với đức tin khiêm nhường, hy sinh của một góa phụ nghèo. Vì vậy, Mác chương 12 trình bày sự tương phản mạnh mẽ giữa tôn giáo bề ngoài và sự tận hiến thật, giữa sự lãnh đạo phục vụ bản thân và tình yêu chân thành đối với Đức Chúa Trời.
Mác 12:1-12
1 Rồi Ngài bắt đầu dùng ví dụ mà phán với họ: “Có một người kia trồng một vườn nho, rào chung quanh, đào chỗ ép rượu và xây một tháp canh. Người ấy cho những người trồng nho thuê rồi đi xa.
2 Đến mùa thu hoạch, người sai một đầy tớ đến với những người trồng nho để nhận phần hoa lợi của vườn nho từ họ.
3 Nhưng họ bắt lấy đầy tớ ấy, đánh đập và đuổi về tay không.
4 Người lại sai một đầy tớ khác đến với họ; họ ném đá, đánh bị thương đầu người ấy và đuổi về trong sự nhục nhã.
5 Người lại sai một đầy tớ khác nữa, thì họ giết người ấy; rồi còn nhiều người khác nữa, người thì bị đánh đập, người thì bị giết.
6 Cuối cùng, người còn một người con trai yêu dấu, nên sai con mình đến với họ sau hết, nói rằng: ‘Họ sẽ kính trọng con ta.’
7 Nhưng những người trồng nho nói với nhau: ‘Đây là người thừa kế. Hãy đến, chúng ta giết nó đi, rồi gia tài sẽ thuộc về chúng ta.’
8 Vậy họ bắt người con ấy, giết đi và ném ra ngoài vườn nho.
9 Vậy chủ vườn nho sẽ làm gì? Người sẽ đến tiêu diệt những người trồng nho ấy và giao vườn nho cho những người khác.
10 Các ngươi chưa đọc lời Kinh Thánh này sao: ‘Hòn đá bị những người xây nhà loại bỏ đã trở nên đá góc nhà.
11 Đây là việc Chúa làm, và là điều kỳ diệu trước mắt chúng ta’?”
12 Họ tìm cách bắt Ngài, nhưng sợ dân chúng, vì họ biết Ngài đã nói ví dụ ấy nghịch lại họ. Vì vậy, họ rời Ngài mà đi.
Chúa Giê-su nói ví dụ này trực tiếp nghịch lại các nhà lãnh đạo tôn giáo. Vườn nho tượng trưng cho dân sự của Đức Chúa Trời, là những người Ngài đã cẩn thận trồng, bảo vệ và ban phước. Những người trồng nho tượng trưng cho các lãnh đạo được giao trách nhiệm trên dân tộc, nhưng thay vì dâng cho Đức Chúa Trời hoa lợi xứng đáng, họ lại hành động như thể vườn nho thuộc về họ. Các đầy tớ tượng trưng cho các tiên tri mà Đức Chúa Trời đã sai đến trong suốt lịch sử Y-sơ-ra-ên. Hết lần này đến lần khác, Đức Chúa Trời kiên nhẫn sai các sứ giả của Ngài để kêu gọi dân sự trở lại ăn năn, nhưng nhiều người đã bị khước từ, ngược đãi và giết chết. Người con trong ví dụ rõ ràng chỉ về Chúa Giê-su, Con yêu dấu của Đức Chúa Trời. Những tá điền gian ác nhận ra người con là kẻ thừa kế và chọn giết người, cho thấy sự khước từ Đấng Christ không chỉ là sự thiếu hiểu biết, nhưng là sự phản nghịch chống lại thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su cũng trích Kinh Thánh về hòn đá bị loại bỏ trở thành đá góc nhà. Dù các lãnh đạo sẽ khước từ Ngài, Đức Chúa Trời sẽ tôn cao Ngài và đặt Ngài làm nền tảng cho dân sự thật của Ngài. Ví dụ này cảnh báo rằng đặc ân tôn giáo nếu không có sự trung tín sẽ đem đến sự phán xét. Công việc của Đức Chúa Trời không thuộc về những lãnh đạo ích kỷ; nếu những người được giao phó công việc ấy không chịu kết quả, Ngài có thể giao vườn nho cho những người khác biết tôn kính Ngài.
Mác 12:13-17
13 Sau đó, họ sai đến với Ngài một số người Pha-ri-si và phe Hê-rốt để gài bẫy Ngài trong lời nói.
14 Khi đến, họ nói với Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, không thiên vị ai; vì Thầy không nhìn theo bề ngoài của loài người, nhưng dạy đường lối Đức Chúa Trời theo lẽ thật. Có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không?
15 Chúng tôi nên nộp hay không nên nộp?” Nhưng Ngài biết sự giả hình của họ, nên phán với họ: “Tại sao các ngươi thử Ta? Hãy đem cho Ta xem một đồng đơ-ni-ê.”
16 Họ đem đến. Ngài phán với họ: “Hình và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa: “Của Sê-sa.”
17 Chúa Giê-su đáp và phán với họ: “Hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.” Họ rất kinh ngạc về Ngài.
Người Pha-ri-si và phe Hê-rốt cùng đến để gài bẫy Chúa Giê-su, dù bình thường họ có những lợi ích chính trị khác nhau. Những lời tâng bốc của họ là giả hình, vì họ không thật sự tôn trọng Ngài như một Thầy dạy lẽ thật. Câu hỏi của họ về việc nộp thuế cho Sê-sa được thiết kế để đặt Ngài vào nguy hiểm. Nếu Ngài nói không nên nộp, họ có thể cáo buộc Ngài nổi loạn chống La Mã. Nếu Ngài nói nên nộp, họ có thể khiến dân Do Thái chống lại Ngài. Chúa Giê-su phơi bày sự giả hình của họ và xin một đồng đơ-ni-ê. Khi chỉ vào hình và danh hiệu của Sê-sa, Ngài dạy rằng các bổn phận dân sự có vị trí của chúng. “Hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa” cho thấy các tín hữu không được sống vô luật pháp hay nổi loạn trong những trách nhiệm công dân chính đáng. Nhưng “và trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời” là lẽ thật lớn hơn. Đồng tiền mang hình của Sê-sa, nhưng con người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Vì vậy, trong khi các nhà cầm quyền đời này có thể nhận thuế và sự tôn trọng dân sự, chỉ một mình Đức Chúa Trời xứng đáng nhận tấm lòng, sự thờ phượng, lương tâm và lòng trung thành trọn vẹn. Câu trả lời của Chúa Giê-su tránh được cái bẫy của họ và bày tỏ trật tự đúng đắn: hãy làm trọn những trách nhiệm chính đáng trên đất, nhưng đừng bao giờ trao cho con người điều chỉ thuộc về Đức Chúa Trời.
Mác 12:18-27
18 Bấy giờ, một số người Sa-đu-sê, là những người nói rằng không có sự sống lại, đến với Ngài và hỏi rằng:
19 “Thưa Thầy, Môi-se đã viết cho chúng tôi rằng nếu anh của một người chết, để lại vợ mà không có con, thì em người ấy phải cưới vợ góa đó để sinh con nối dòng cho anh mình.
20 Có bảy anh em. Người thứ nhất cưới vợ, rồi chết mà không để lại con.
21 Người thứ hai cưới nàng rồi cũng chết, và không để lại con. Người thứ ba cũng vậy.
22 Cả bảy người đều cưới nàng và không để lại con. Cuối cùng, người phụ nữ ấy cũng chết.
23 Vậy trong sự sống lại, khi họ sống lại, nàng sẽ là vợ của ai? Vì cả bảy người đều đã cưới nàng.”
24 Chúa Giê-su đáp và phán với họ: “Chẳng phải các ngươi sai lầm vì không biết Kinh Thánh cũng không biết quyền năng của Đức Chúa Trời sao?
25 Vì khi họ từ kẻ chết sống lại, họ không cưới vợ cũng không gả chồng, nhưng giống như các thiên sứ trên trời.
26 Còn về việc kẻ chết sống lại, các ngươi chưa đọc trong sách Môi-se, đoạn bụi gai cháy, thể nào Đức Chúa Trời phán với ông rằng: ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp’ sao?
27 Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống. Vậy các ngươi sai lầm rất lớn.”
Người Sa-đu-sê chối bỏ sự sống lại và cố làm cho niềm tin ấy có vẻ vô lý bằng cách đưa ra một trường hợp giả định cực đoan. Họ cho rằng đời sống phục sinh chỉ đơn giản là sự tiếp tục của đời sống trên đất dưới cùng những điều kiện như hiện nay. Chúa Giê-su cho thấy sự sai lầm của họ đến từ hai thiếu sót: họ không biết Kinh Thánh và không biết quyền năng của Đức Chúa Trời. Đời sống phục sinh sẽ không bị chi phối bởi cùng những sắp đặt trên đất, bao gồm hôn nhân như chúng ta biết hiện nay. Những người sống lại sẽ “giống như các thiên sứ trên trời,” không có nghĩa là họ trở thành thiên sứ, nhưng là họ sẽ sống trong một trạng thái được biến đổi, nơi sự chết, sinh sản và cấu trúc gia đình trên đất không còn cần thiết nữa. Sau đó, Chúa Giê-su chứng minh sự sống lại từ sách Môi-se, là sách mà người Sa-đu-sê tôn trọng. Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống. Điều này khẳng định rằng các lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời không chấm dứt nơi mồ mả. Những người trung tín đã chết không bị Đức Chúa Trời quên lãng, và Ngài sẽ làm cho họ sống lại theo quyền năng của Ngài. Câu trả lời của Chúa Giê-su dạy rằng sự vô tín thường đến từ việc giới hạn Vương Quốc tương lai của Đức Chúa Trời theo kinh nghiệm hiện tại trên đất.
Mác 12:28-34
28 Bấy giờ, một trong các thầy thông giáo đến gần, nghe họ tranh luận với nhau và nhận thấy Ngài đã trả lời họ rất hay, nên hỏi Ngài: “Điều răn nào là điều răn đứng đầu trong tất cả?”
29 Chúa Giê-su đáp: “Điều răn đứng đầu trong tất cả là: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa duy nhất.
30 Ngươi phải yêu Chúa, Đức Chúa Trời ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.’ Đây là điều răn đứng đầu.
31 Điều răn thứ hai giống như vậy là: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’ Không có điều răn nào lớn hơn hai điều này.”
32 Thầy thông giáo thưa với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy nói rất đúng. Thầy đã nói lẽ thật, vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và ngoài Ngài không có Đức Chúa Trời nào khác.
33 Yêu Ngài hết lòng, hết trí hiểu, hết linh hồn, hết sức lực, và yêu người lân cận như chính mình, thì hơn tất cả các của lễ thiêu và các sinh tế.”
34 Khi Chúa Giê-su thấy người ấy trả lời khôn ngoan, Ngài phán với người: “Con không xa Vương Quốc Đức Chúa Trời đâu.” Sau đó, không ai dám hỏi Ngài nữa.
Thầy thông giáo thành thật này hỏi Chúa Giê-su điều răn nào đứng đầu trong tất cả, và Chúa Giê-su trả lời bằng cách đi đến nền tảng đức tin của Y-sơ-ra-ên: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa duy nhất.” Trước khi Chúa Giê-su nói về tình yêu, Ngài trước hết xác định Đấng phải được yêu. Đức Chúa Trời duy nhất này không được trình bày như một hữu thể “ba-trong-một” số nhiều, nhưng là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất. Thầy thông giáo xác nhận điều này khi nói: “Chỉ có một Đức Chúa Trời, và ngoài Ngài không có Đức Chúa Trời nào khác.” Đại từ “Ngài” ở số ít, cho thấy thầy thông giáo hiểu Chúa Giê-su đang nói về một Đấng thần thượng duy nhất. Chúa Giê-su không sửa lại người ấy. Trái lại, Chúa Giê-su nói rằng người ấy đã trả lời khôn ngoan và “không xa Vương Quốc Đức Chúa Trời.” Điều này hòa hợp với chính lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Giăng 17:3, nơi Ngài xác định Cha là “Đức Chúa Trời chân thật duy nhất,” và chính Ngài là Đấng được Cha sai đến.
Vì vậy, trong phân đoạn này, đối tượng tối cao của sự thờ phượng và tình yêu là Đức Chúa Trời Cha, Đức Chúa Trời chân thật duy nhất. Sự vâng phục thật bắt đầu bằng việc biết Ngài và yêu kính Ngài bằng toàn thể con người: hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Đức Chúa Trời không muốn sự tận hiến bị chia đôi, tôn giáo chỉ bên ngoài, hay sự đầu phục nửa vời. Ngài muốn toàn bộ đời sống. Sau đó, Chúa Giê-su nối điều này với điều răn thứ hai: “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.” Tình yêu đối với Đức Chúa Trời và tình yêu đối với người khác không thể tách rời. Một người tuyên bố yêu Đức Chúa Trời nhưng lại ghét bỏ hoặc đối xử tệ với người khác thì chưa hiểu tấm lòng của luật pháp Đức Chúa Trời.
Thầy thông giáo đồng ý cách khôn ngoan, xác nhận rằng “chỉ có một Đức Chúa Trời, và ngoài Ngài không có Đức Chúa Trời nào khác,” và rằng yêu Ngài thì lớn hơn các của lễ thiêu và sinh tế. Điều này quan trọng vì nó cho thấy tôn giáo thật không chỉ là việc thực hiện nghi lễ, nhưng là một tấm lòng yêu thương, trung thành và vâng phục đối với Đức Chúa Trời chân thật duy nhất. Các sinh tế có vị trí của chúng, nhưng nếu không có tình yêu, đức tin, sự ăn năn và lòng thương xót, sự thờ phượng bên ngoài trở nên rỗng tuếch. Chúa Giê-su nói với người ấy: “Con không xa Vương Quốc Đức Chúa Trời đâu,” vì người ấy hiểu lẽ thật trung tâm của sự tận hiến thật: tình yêu đối với Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, là Cha, và tình yêu đối với người lân cận. Tuy nhiên, “không xa” không giống như đã hoàn toàn ở bên trong. Người ấy vẫn cần tiếp nhận chính Đấng Christ, là Con được Cha sai đến. Phân đoạn này dạy rằng trọng tâm của Vương Quốc là biết và yêu kính Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, và tiếp nhận Con mà Ngài đã sai đến.
Mác 12:35-37
35 Khi đang dạy trong đền thờ, Chúa Giê-su đáp và phán: “Sao các thầy thông giáo lại nói Đấng Christ là Con của Đa-vít?
36 Vì chính Đa-vít, bởi Thánh Linh, đã nói: ‘Chúa phán với Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên phải Ta, cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của Con làm bệ chân cho Con.’
37 Chính Đa-vít gọi Ngài là ‘Chúa’; vậy làm sao Ngài lại là Con của Đa-vít?” Dân chúng đông đảo vui mừng nghe Ngài.
Chúa Giê-su giờ đây đặt một câu hỏi bày tỏ sự cao trọng của Đấng Mê-si-a. Các thầy thông giáo dạy đúng rằng Đấng Christ sẽ là Con của Đa-vít, nghĩa là Ngài sẽ đến từ dòng dõi hoàng gia của Đa-vít. Nhưng sự hiểu biết của họ vẫn chưa đầy đủ nếu họ chỉ xem Ngài như một hậu duệ loài người hay một vị vua trên đất. Chúa Giê-su trích lời Đa-vít trong Thi Thiên 110, được nói bởi Thánh Linh: “Chúa phán với Chúa tôi rằng: ‘Hãy ngồi bên phải Ta.’” Đa-vít gọi Đấng Mê-si-a là “Chúa tôi,” cho thấy Đấng Christ lớn hơn Đa-vít, dù Ngài cũng là Con của Đa-vít theo xác thịt. Điều này chỉ về địa vị được tôn cao và thẩm quyền thần thượng của Chúa Giê-su. Ngài không chỉ là một Đấng giải phóng chính trị hay một người cai trị quốc gia; Ngài là Chúa mà chính Đa-vít đã thừa nhận. Cụm từ “ngồi bên phải Ta” cho thấy danh dự, thẩm quyền và chiến thắng, trong khi lời hứa rằng các kẻ thù của Ngài sẽ bị đặt làm bệ chân cho Ngài chỉ về sự khải hoàn cuối cùng của Ngài. Dân chúng đông đảo vui mừng nghe Ngài vì sự dạy dỗ của Ngài mở ra Kinh Thánh với quyền năng và sự rõ ràng. Chúa Giê-su bày tỏ rằng Đấng Mê-si-a vừa là Con Đa-vít đã được hứa, vừa là Chúa được Đức Chúa Trời tôn cao và chỉ định.
Mác 12:38-40
38 Trong sự dạy dỗ của mình, Ngài phán với họ: “Hãy coi chừng các thầy thông giáo, là những người thích đi lại trong áo dài, thích được chào hỏi nơi phố chợ,
39 thích những chỗ ngồi cao trọng nhất trong nhà hội và những chỗ danh dự nhất trong các bữa tiệc.
40 Họ nuốt nhà của các góa phụ, và giả vờ cầu nguyện dài. Những người này sẽ chịu sự đoán phạt nặng hơn.”
Chúa Giê-su cảnh báo dân chúng phải coi chừng các thầy thông giáo vì tôn giáo của họ đã trở thành phương tiện để tự tôn cao. Họ thích áo dài, lời chào hỏi công khai, chỗ ngồi quan trọng và vị trí danh dự. Vẻ bề ngoài của họ gợi lên sự thánh thiện và thẩm quyền, nhưng bên trong họ đầy kiêu ngạo và tham lam. Tệ hơn nữa, họ “nuốt nhà của các góa phụ,” lợi dụng những người dễ bị tổn thương trong khi giả vờ thuộc linh qua những lời cầu nguyện dài. Đây là một trong những hình thức giả hình nghiêm trọng nhất: dùng tôn giáo để đạt được lòng tin, địa vị hoặc tiền bạc trong khi làm hại những người đáng lẽ phải được bảo vệ. Chúa Giê-su không lên án những lời cầu nguyện dài tự chúng, nhưng lên án những lời cầu nguyện “giả vờ,” được dùng để gây ấn tượng với con người thay vì thông công với Đức Chúa Trời. Ngài tuyên bố rằng những lãnh đạo như vậy sẽ chịu sự đoán phạt nặng hơn vì họ lạm dụng ảnh hưởng thuộc linh và bóc lột kẻ yếu. Lời cảnh báo này áp dụng cho tất cả những ai dạy dỗ, lãnh đạo hoặc thi hành chức vụ. Trách nhiệm tôn giáo càng cao, sự khai trình trước mặt Đức Chúa Trời càng lớn.
Mác 12:41-44
41 Chúa Giê-su ngồi đối diện với nơi đặt thùng tiền dâng và quan sát dân chúng bỏ tiền vào thùng. Nhiều người giàu bỏ vào rất nhiều.
42 Bấy giờ, một góa phụ nghèo đến và bỏ vào hai đồng xu nhỏ, tương đương một phần tư xu.
43 Ngài gọi các môn đồ đến và phán với họ: “Quả thật, Ta nói với các con, góa phụ nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn tất cả những người đã bỏ tiền vào thùng dâng.
44 Vì tất cả họ đều dâng từ sự dư dật của mình, nhưng bà này, từ sự nghèo thiếu của mình, đã dâng tất cả những gì bà có, toàn bộ kế sinh nhai của bà.”
Sau khi cảnh báo về các thầy thông giáo nuốt nhà của các góa phụ, Chúa Giê-su chỉ cho các môn đồ thấy một góa phụ nghèo mà của dâng của bà bày tỏ sự tận hiến thật. Nhiều người giàu dâng số tiền lớn, nhưng họ dâng từ sự dư dật của mình. Của dâng của họ có thể trông ấn tượng bên ngoài, nhưng không đòi hỏi sự hy sinh sâu sắc. Người góa phụ chỉ dâng hai đồng xu nhỏ, một số tiền rất nhỏ trong mắt con người, nhưng Chúa Giê-su nói bà đã dâng nhiều hơn tất cả những người khác vì bà dâng từ sự nghèo thiếu của mình. Bà đã dâng “tất cả những gì bà có, toàn bộ kế sinh nhai của bà.” Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời đòi hỏi người nghèo phải dâng cách liều lĩnh, cũng không bào chữa cho các hệ thống tôn giáo bóc lột những người dễ bị tổn thương. Trong bối cảnh trực tiếp, sự đối chiếu rất rõ ràng: các lãnh đạo bại hoại lấy của các góa phụ, nhưng người góa phụ này dâng cho Đức Chúa Trời với lòng tin cậy chân thành. Chúa Giê-su thấy điều mà người khác có thể bỏ qua. Thiên đàng đo lường sự dâng hiến không bởi số lượng, nhưng bởi tấm lòng, sự hy sinh, đức tin và tình yêu phía sau nó. Của dâng của người góa phụ bày tỏ sự lệ thuộc trọn vẹn vào Đức Chúa Trời. Hai đồng xu nhỏ của bà không đáng kể trước mắt con người, nhưng quý giá trước mắt Đấng Christ. Mác chương 12 kết thúc bằng cách cho thấy tôn giáo thật không nằm ở danh dự công khai, sự phô trương tôn giáo, hay sự cao trọng bên ngoài, nhưng ở đức tin khiêm nhường và sự đầu phục trọn lòng đối với Đức Chúa Trời.

