
Mác 6
Mác chương 6 bày tỏ cả quyền năng của Đấng Christ và những phản ứng khác nhau mà con người dành cho Ngài. Trong chương này, Chúa Giê-su bị từ chối tại chính quê hương mình, sai mười hai môn đồ đi rao giảng sự ăn năn, đối diện với lương tâm tội lỗi của Hê-rốt qua ký ức về Giăng Báp-tít, hóa bánh cho năm ngàn người ăn, đi trên mặt biển, và tiếp tục chữa lành người bệnh. Chương này cho thấy sự vô tín có thể giới hạn những gì con người nhận được từ Đấng Christ, trong khi đức tin mở đường cho phước lành, sự chữa lành và sứ mạng. Chương này cũng bày tỏ Chúa Giê-su là Đấng Chăn Chiên đầy lòng thương xót, Đấng cung cấp bánh, Chúa trên thiên nhiên, và Đấng có quyền năng vươn đến tất cả những ai đến với Ngài trong nhu cầu.
Mác 6:1-6
1 Chúa Giê-su rời khỏi đó và trở về quê hương mình; các môn đồ cũng theo Ngài.
2 Đến ngày Sa-bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội. Nhiều người nghe Ngài thì kinh ngạc và nói: “Người này lấy những điều ấy từ đâu? Sự khôn ngoan được ban cho người này là gì, mà những việc quyền năng như thế được thực hiện bởi tay người?
3 Đây chẳng phải là người thợ mộc, con trai của Ma-ri, anh em của Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đa và Si-môn sao? Các em gái người chẳng phải đang ở đây với chúng ta sao?” Và họ vấp phạm vì Ngài.
4 Nhưng Chúa Giê-su phán với họ: “Một nhà tiên tri không bị khinh dể, ngoại trừ tại quê hương mình, giữa bà con mình và trong nhà mình.”
5 Ngài không thể làm việc quyền năng nào tại đó, ngoại trừ đặt tay trên một vài người bệnh và chữa lành họ.
6 Ngài ngạc nhiên vì sự vô tín của họ. Rồi Ngài đi quanh các làng mà dạy dỗ.
Khi Chúa Giê-su trở về quê hương mình, dân chúng kinh ngạc về sự khôn ngoan và những việc quyền năng của Ngài, nhưng họ không chịu tiếp nhận Ngài vì quá quen thuộc với xuất thân trần thế của Ngài. Họ biết Ngài là “người thợ mộc” và biết gia đình Ngài, nhưng sự quen thuộc ấy lại trở thành cớ vấp phạm thay vì là lý do để tin. Họ không thể chấp nhận rằng Đấng đã sống khiêm nhường giữa họ lại có thể là Đấng Mê-si. Sự vô tín của họ không có nghĩa là Đấng Christ thiếu quyền năng, nhưng là họ đã đóng lòng mình lại trước điều Ngài sẵn lòng ban cho. Chúa Giê-su ngạc nhiên vì sự vô tín của họ, cho thấy việc con người từ chối bằng chứng rõ ràng vì kiêu ngạo, thành kiến hoặc sự quen thuộc là điều nghiêm trọng và bi thảm biết bao. Phân đoạn này dạy rằng phước lành thuộc linh không được nhận chỉ vì ở gần những điều thánh, nghe lẽ thật, hay biết về Chúa Giê-su bên ngoài. Đức tin, sự khiêm nhường và tấm lòng mở ra với Đức Chúa Trời là điều cần thiết để nhận công việc của Đấng Christ trong lòng.
Mác 6:7-13
7 Ngài gọi mười hai môn đồ đến và bắt đầu sai họ đi từng đôi một, ban cho họ quyền trên các tà linh.
8 Ngài truyền họ không đem gì theo đường ngoài một cây gậy; không đem túi, không bánh, không tiền đồng trong thắt lưng;
9 nhưng mang dép, và đừng mặc hai áo.
10 Ngài cũng phán với họ: “Khi các con vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi rời khỏi nơi ấy.
11 Nếu nơi nào không tiếp nhận các con hoặc không nghe lời các con, khi rời khỏi đó, hãy phủi bụi dưới chân mình để làm chứng chống lại họ. Thật, Ta bảo các con, trong ngày phán xét, đất Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu nhẹ hơn thành ấy!”
12 Vậy, họ đi ra rao giảng rằng người ta phải ăn năn.
13 Họ đuổi nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người bệnh và chữa lành họ.
Bây giờ Chúa Giê-su sai mười hai môn đồ đi, mở rộng chức vụ của Ngài qua họ. Ngài sai họ đi từng đôi một, cho thấy sự khôn ngoan của việc có bạn đồng hành, sự chịu trách nhiệm, sự khích lệ và lời chứng hiệp một trong công việc Tin Lành. Ngài ban cho họ thẩm quyền trên các tà linh, chứng minh rằng sứ mạng của họ không được thực hiện bằng sức riêng con người, nhưng bởi quyền năng nhận từ Đấng Christ. Những lời dặn của Ngài về việc đi đường cách đơn sơ dạy họ nương cậy Đức Chúa Trời thay vì sự an toàn vật chất. Họ không được mang theo những đồ dùng dư thừa làm nặng gánh, nhưng phải tập trung vào sứ điệp và tin rằng Đức Chúa Trời sẽ chu cấp qua những tấm lòng tiếp nhận. Sự rao giảng của họ tập trung vào sự ăn năn, cho thấy sứ điệp về vương quốc đòi hỏi con người phải quay khỏi tội lỗi và trở về với Đức Chúa Trời. Lời dạy phải phủi bụi khỏi chân khi bị từ chối là một lời chứng nghiêm trọng rằng việc từ chối sứ điệp của Đức Chúa Trời đem đến trách nhiệm trong sự phán xét. Phân đoạn này bày tỏ rằng chức vụ thật bao gồm sự rao giảng, chữa lành, giải cứu, đơn sơ, đức tin và sự lệ thuộc vào Đức Chúa Trời.
Mác 6:14-16
14 Vua Hê-rốt nghe về Ngài, vì danh Ngài đã trở nên nổi tiếng. Ông nói: “Giăng Báp-tít đã sống lại từ cõi chết, nên các quyền năng này đang hành động trong người.”
15 Những người khác nói: “Đó là Ê-li.” Còn những người khác nói: “Đó là một nhà tiên tri, hoặc giống như một trong các nhà tiên tri.”
16 Nhưng khi Hê-rốt nghe, ông nói: “Đây là Giăng, người mà ta đã chém đầu; ông ấy đã sống lại từ cõi chết!”
Khi danh tiếng của Chúa Giê-su lan rộng, người ta bắt đầu cố giải thích Ngài là ai. Một số người nghĩ Ngài là Ê-li, những người khác nghĩ Ngài là một trong các nhà tiên tri, nhưng Hê-rốt lại sợ rằng Giăng Báp-tít đã sống lại từ cõi chết. Phản ứng của Hê-rốt bày tỏ sự dằn vặt của một lương tâm tội lỗi. Dù ông đã làm im tiếng nói của Giăng bằng cái chết, ông không thể làm im sự cáo trách còn lại trong chính lòng mình. Tội lỗi có thể dường như được che giấu trong một thời gian, nhưng mặc cảm tội lỗi thường trở lại cùng với nỗi sợ. Sự bối rối của Hê-rốt cũng cho thấy nhiều người đã hiểu sai Chúa Giê-su vì họ cố giải thích Ngài theo ý tưởng con người thay vì tiếp nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời. Phân đoạn này nhắc chúng ta rằng lẽ thật bị từ chối hôm nay có thể trở lại về sau như sự sợ hãi, cáo trách và phán xét trên lương tâm.
Mác 6:17-29
17 Vì chính Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, xiềng ông trong ngục vì cớ Hê-rô-đia, vợ của Phi-líp anh mình, bởi Hê-rốt đã lấy bà làm vợ.
18 Vì Giăng đã nói với Hê-rốt: “Vua không được phép lấy vợ của anh mình.”
19 Vì vậy, Hê-rô-đia căm giận Giăng và muốn giết ông, nhưng không thể làm được;
20 vì Hê-rốt sợ Giăng, biết ông là người công chính và thánh khiết, nên bảo vệ ông. Khi nghe ông nói, Hê-rốt làm nhiều điều và vui lòng nghe ông.
21 Nhưng một ngày thuận tiện đã đến, khi Hê-rốt nhân dịp sinh nhật mình đãi tiệc các quan lớn, các chỉ huy trưởng và những người đứng đầu xứ Ga-li-lê.
22 Con gái của Hê-rô-đia bước vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hê-rốt và những người dự tiệc. Vua nói với cô gái: “Con muốn gì, hãy xin ta, ta sẽ cho.”
23 Ông còn thề với cô: “Bất cứ điều gì con xin, ta sẽ cho, dù đến nửa vương quốc của ta.”
24 Cô đi ra hỏi mẹ mình: “Con nên xin gì?” Bà đáp: “Đầu của Giăng Báp-tít!”
25 Lập tức cô vội trở vào với vua và xin rằng: “Con muốn ngay bây giờ vua ban cho con đầu của Giăng Báp-tít trên một cái mâm.”
26 Vua rất buồn, nhưng vì lời thề và vì những người ngồi ăn với mình, ông không muốn từ chối cô.
27 Vua lập tức sai một tên lính hành hình và truyền đem đầu Giăng đến. Người ấy đi chém đầu Giăng trong ngục,
28 đem đầu ông trên một cái mâm và trao cho cô gái; cô gái trao lại cho mẹ mình.
29 Khi các môn đồ của Giăng nghe tin, họ đến lấy xác ông và đặt trong mộ.
Phân đoạn này thuật lại cái chết bi thảm của Giăng Báp-tít và bày tỏ cái giá của lời chứng trung tín. Giăng không nịnh bợ Hê-rốt hay làm nhẹ lẽ thật để bảo vệ sự an toàn của mình; ông nói thẳng: “Vua không được phép lấy vợ của anh mình.” Lời quở trách của Giăng phơi bày tội lỗi ở nơi quyền lực cao, và Hê-rô-đia căm ghét ông vì điều đó. Tuy nhiên, Hê-rốt lại bị giằng xé. Ông sợ Giăng, nhận biết ông là người công chính và thánh khiết, bảo vệ ông trong một thời gian, và thậm chí vui lòng nghe ông. Nhưng vui lòng nghe lẽ thật không giống với việc đầu phục lẽ thật. Hê-rốt vẫn bị trói buộc bởi dục vọng, sự kiêu ngạo, nỗi sợ con người và sự yếu đuối đạo đức. Tại bữa tiệc, dưới ảnh hưởng của khoái lạc, áp lực công khai và lời thề dại dột, ông chọn danh tiếng thay vì sự công chính và giết một nhà tiên tri của Đức Chúa Trời. Câu chuyện này cảnh báo rằng sự vâng phục trì hoãn và tội lỗi được nuôi dưỡng có thể dần dần làm cứng lòng cho đến khi một người phạm những điều mà trước kia họ từng sợ phải làm. Nó cũng cho thấy người trung tín có thể chịu khổ vì lẽ thật, nhưng lời chứng của họ đứng trước mặt Đức Chúa Trời, còn những ai từ chối sự cáo trách sẽ phải trả lời về ánh sáng mà họ đã khước từ.
Mác 6:30-32
30 Các sứ đồ nhóm lại quanh Chúa Giê-su và thuật cho Ngài mọi điều họ đã làm và đã dạy.
31 Ngài phán với họ: “Hãy riêng ra, đến một nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút.” Vì có nhiều người đến đi, đến nỗi họ không có thì giờ ăn.
32 Vậy, họ xuống thuyền đi riêng ra một nơi vắng vẻ.
Sau sứ mạng của mình, các sứ đồ trở về với Chúa Giê-su và thuật lại những gì họ đã làm và đã dạy. Điều này cho thấy mọi chức vụ thật đều phải trở về với Đấng Christ trong sự lệ thuộc, suy xét và chịu trách nhiệm. Chúa Giê-su nhận biết nhu cầu nghỉ ngơi của họ và mời họ riêng ra một nơi yên tĩnh. Dù công việc Đức Chúa Trời rất quan trọng, Đấng Christ không kêu gọi tôi tớ Ngài bỏ bê thân thể, tâm trí hoặc nhu cầu được phục hồi. Các môn đồ bận rộn đến nỗi không có thì giờ ăn, nhưng Chúa Giê-su vẫn quan tâm đến nhu cầu thể xác và cảm xúc của họ. Phân đoạn này dạy rằng sự nghỉ ngơi không phải là lười biếng khi được thực hiện trong sự hòa hợp với ý muốn Đức Chúa Trời; đó là điều cần thiết để tiếp tục phục vụ cách trung tín. Những người lao nhọc vì các linh hồn cũng cần dành thời gian với Đấng Christ và nhận sức lực từ Ngài.
Mác 6:33-44
33 Nhưng đoàn dân thấy họ ra đi, nhiều người nhận ra Ngài và từ các thành chạy bộ đến đó. Họ đến trước và nhóm lại với Ngài.
34 Khi Chúa Giê-su bước ra, thấy đoàn dân đông, Ngài động lòng thương xót họ, vì họ như chiên không có người chăn. Vì vậy, Ngài bắt đầu dạy họ nhiều điều.
35 Khi trời đã xế chiều, các môn đồ đến thưa với Ngài: “Nơi này vắng vẻ, và giờ đã muộn.
36 Xin Thầy cho họ về, để họ đi vào các làng mạc và thôn xóm chung quanh mà mua bánh cho mình, vì họ không có gì ăn.”
37 Nhưng Ngài đáp: “Chính các con hãy cho họ ăn.” Họ thưa với Ngài: “Chúng con phải đi mua hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn sao?”
38 Ngài hỏi họ: “Các con có bao nhiêu ổ bánh? Hãy đi xem.” Khi biết rồi, họ thưa: “Năm ổ bánh và hai con cá.”
39 Ngài truyền cho mọi người ngồi xuống từng nhóm trên cỏ xanh.
40 Họ ngồi thành từng hàng, từng nhóm một trăm và năm mươi người.
41 Ngài cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc phước, bẻ bánh và trao cho các môn đồ để dọn ra trước mặt dân chúng; Ngài cũng chia hai con cá cho tất cả mọi người.
42 Tất cả đều ăn và được no.
43 Người ta thu lại được mười hai giỏ đầy những mẩu bánh và cá còn dư.
44 Số người ăn bánh là khoảng năm ngàn người nam.
Dù Chúa Giê-su và các môn đồ định nghỉ ngơi, đoàn dân vẫn theo họ, và Chúa Giê-su động lòng thương xót vì họ như chiên không có người chăn. Lòng thương xót của Ngài trước hết khiến Ngài dạy dỗ họ, cho thấy nhu cầu lớn nhất của nhân loại không chỉ là bánh cho thân thể, nhưng là lẽ thật cho linh hồn. Tuy nhiên, Chúa Giê-su cũng quan tâm đến cơn đói thể xác của họ. Khi các môn đồ thấy vấn đề, họ đề nghị cho dân chúng về, nhưng Chúa Giê-su phán: “Chính các con hãy cho họ ăn.” Mệnh lệnh này phơi bày sự bất lực của họ và chuẩn bị họ chứng kiến sự đầy đủ của Ngài. Năm ổ bánh và hai con cá hoàn toàn không đủ theo cách nhìn con người, nhưng khi được đặt trong tay Đấng Christ, chúng trở nên dư dật hơn nhu cầu. Chúa Giê-su ngước mắt lên trời, chúc phước, bẻ bánh và phân phát qua các môn đồ. Tất cả đều ăn no, và còn dư mười hai giỏ. Phép lạ này dạy rằng Đấng Christ là Đấng Chăn Chiên thật, Đấng vừa dạy dỗ vừa nuôi dưỡng dân Ngài. Nó cũng cho thấy điều nhỏ bé sẽ trở nên lớn lao khi được dâng cho Ngài, và sự chu cấp của Ngài không chỉ vừa đủ, nhưng dư dật.
Mác 6:45-52
45 Ngay sau đó, Ngài bắt các môn đồ xuống thuyền đi trước qua bờ bên kia, đến Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho đoàn dân ra về.
46 Sau khi cho họ ra về, Ngài lên núi cầu nguyện.
47 Đến chiều tối, chiếc thuyền đang ở giữa biển, còn Ngài ở một mình trên đất.
48 Ngài thấy họ chèo chống vất vả, vì gió ngược. Khoảng canh tư ban đêm, Ngài đi trên mặt biển đến với họ và định đi ngang qua họ.
49 Khi thấy Ngài đi trên mặt biển, họ tưởng là ma nên la lên;
50 vì tất cả đều thấy Ngài và hoảng sợ. Nhưng lập tức Ngài nói với họ: “Hãy vững lòng! Chính Ta đây; đừng sợ.”
51 Ngài bước lên thuyền với họ, thì gió lặng. Họ vô cùng sửng sốt và kinh ngạc trong lòng,
52 vì họ chưa hiểu về phép lạ bánh, bởi lòng họ còn cứng cỏi.
Sau khi hóa bánh cho đoàn dân ăn, Chúa Giê-su sai các môn đồ đi trước bằng thuyền, còn Ngài lên núi một mình cầu nguyện. Điều này một lần nữa bày tỏ rằng chức vụ của Đấng Christ được nâng đỡ bởi sự thông công với Cha Ngài. Trong khi Ngài cầu nguyện, các môn đồ vật lộn với gió ngược giữa biển. Dù Chúa Giê-su cách xa họ về thể xác, Ngài vẫn thấy họ chèo chống vất vả, cho thấy mắt Ngài vẫn dõi theo họ trong khó khăn. Ngài đến với họ bằng cách đi trên mặt biển, bày tỏ thẩm quyền trên chính những thế lực đang chống lại họ. Ban đầu họ hoảng sợ, nhưng Chúa Giê-su phán lời an ủi: “Hãy vững lòng! Chính Ta đây; đừng sợ.” Khi Ngài bước lên thuyền, gió liền lặng. Tuy nhiên, Mác nói họ rất kinh ngạc vì họ chưa hiểu về phép lạ bánh; lòng họ còn cứng cỏi. Điều này không có nghĩa là họ phản nghịch như người Pha-ri-si, nhưng họ chậm hiểu ý nghĩa đầy đủ về quyền năng và danh tính của Đấng Christ. Nếu họ hiểu phép lạ hóa bánh cho năm ngàn người ăn, họ sẽ hiểu rõ hơn rằng Đấng cung cấp bánh trong đồng vắng cũng là Đấng cai trị biển cả. Phân đoạn này dạy rằng các thử thách thường bày tỏ chúng ta đã hiểu ít đến mức nào về những sự thương xót trước đây, và đức tin phải học nhận biết Đấng Christ không chỉ trong các phép lạ chu cấp, nhưng cũng trong những cơn bão khó khăn.
Mác 6:53-56
53 Khi đã qua biển, họ đến đất Ghê-nê-xa-rết và neo thuyền tại đó.
54 Vừa khi họ ra khỏi thuyền, dân chúng lập tức nhận ra Ngài,
55 rồi chạy khắp vùng chung quanh và bắt đầu khiêng những người bệnh nằm trên giường đến bất cứ nơi nào họ nghe Ngài đang ở.
56 Bất cứ nơi nào Ngài vào, dù là làng mạc, thành phố hay thôn quê, người ta đặt những người bệnh tại các chợ và nài xin Ngài cho họ chỉ chạm vào tua áo Ngài. Hễ ai chạm vào Ngài đều được chữa lành.
Khi Chúa Giê-su đến Ghê-nê-xa-rết, dân chúng lập tức nhận ra Ngài và bắt đầu đem người bệnh từ khắp các vùng chung quanh đến. Sự khẩn trương của họ cho thấy chức vụ chữa lành của Ngài đã được biết đến rộng rãi và con người cảm nhận sâu sắc nhu cầu của mình. Họ đặt người bệnh tại các chợ và nài xin được chạm chỉ vào tua áo Ngài. Hễ ai chạm vào Ngài đều được chữa lành, bày tỏ sự dư dật trong lòng thương xót và quyền năng của Ngài. Cảnh này gợi lại người phụ nữ trong Mác 5 đã chạm vào áo Ngài bởi đức tin và được chữa lành. Tuy nhiên, trọng tâm ở đây không phải là mê tín, nhưng là quyền năng chữa lành của Đấng Christ được tiếp nhận bởi những người đến với Ngài trong nhu cầu. Bất cứ nơi nào Chúa Giê-su đi, nhân loại đau khổ đều tụ lại quanh Ngài, và Ngài không xua đuổi họ. Phân đoạn này bày tỏ Ngài là Đấng Chữa Lành đầy lòng thương xót, có quyền năng đủ cho tất cả những ai đưa tay đến với Ngài bằng đức tin.

