top of page

Mác 7

Mác chương 7 đối chiếu sự tinh sạch thật bên trong với hình thức tôn giáo bên ngoài. Chương này bắt đầu với việc người Pha-ri-si và các thầy thông giáo cáo buộc các môn đồ của Chúa Giê-su ăn với tay chưa rửa theo nghi lễ. Chúa Giê-su phơi bày vấn đề sâu xa hơn: truyền thống loài người đã được nâng lên trên các điều răn của Đức Chúa Trời. Ngài dạy rằng sự ô uế thật không đến từ sự tiếp xúc bên ngoài hay việc bỏ qua nghi lễ, nhưng đến từ điều ác phát xuất từ tấm lòng. Sau đó, chương này cho thấy lòng thương xót của Đấng Christ mở rộng vượt ngoài Y-sơ-ra-ên qua đức tin của người phụ nữ Sy-rô-phê-ni-xi, và lòng thương xót của Ngài trong việc chữa lành một người điếc và nói khó. Mác chương 7 bày tỏ rằng Đấng Christ đến để làm sạch tấm lòng, sửa lại tôn giáo sai lầm, tôn trọng đức tin thật, và phục hồi những người tan vỡ.

Mác 7:1-2
1 Bấy giờ, những người Pha-ri-si và một số thầy thông giáo từ Giê-ru-sa-lem đến tụ họp quanh Ngài.
2 Khi họ thấy một vài môn đồ của Ngài ăn bánh với tay ô uế, tức là chưa rửa tay, họ bắt lỗi.

Những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo từ Giê-ru-sa-lem đến và lập tức bắt lỗi các môn đồ của Chúa Giê-su vì họ ăn bánh với tay “ô uế,” tức là chưa rửa theo nghi lễ. Đây không chủ yếu là vấn đề vệ sinh, nhưng là vấn đề truyền thống tôn giáo. Vấn đề không phải là các môn đồ ăn với tay bẩn theo ý nghĩa sức khỏe thông thường, nhưng là họ không làm theo các tập tục rửa tay theo nghi lễ do các trưởng lão dạy. Sự chỉ trích của họ bày tỏ tinh thần của tôn giáo hay bắt lỗi: thay vì lắng nghe lời của Đấng Christ hay nhìn thấy các công việc thương xót của Ngài, họ tập trung vào các nghi lễ bên ngoài và xét đoán môn đồ Ngài theo truyền thống loài người. Phân đoạn này giới thiệu chủ đề chính của chương: sự nguy hiểm của việc nhầm lẫn các tập tục tôn giáo bên ngoài với sự thánh khiết thật trước mặt Đức Chúa Trời.

Mác 7:3-5
3 Vì người Pha-ri-si và tất cả người Do Thái không ăn nếu không rửa tay theo cách đặc biệt, giữ theo truyền thống của các trưởng lão.
4 Khi từ chợ về, họ không ăn nếu không rửa. Họ cũng giữ nhiều điều khác đã nhận lãnh, như việc rửa chén, bình, đồ đồng và ghế dài.
5 Bấy giờ, người Pha-ri-si và các thầy thông giáo hỏi Ngài: “Tại sao các môn đồ Thầy không bước đi theo truyền thống của các trưởng lão, nhưng lại ăn bánh với tay chưa rửa?”

Mác giải thích rằng người Pha-ri-si cẩn thận thực hành nhiều sự rửa theo “truyền thống của các trưởng lão.” Những điều này bao gồm việc rửa tay, chén, bình, đồ dùng và ghế dài theo cách đặc biệt. Các truyền thống này vượt quá các điều răn thành văn của Đức Chúa Trời và đã trở thành tiêu chuẩn để họ xét đoán người khác. Câu hỏi của họ bày tỏ thẩm quyền đặt sai chỗ: họ không hỏi vì sao các môn đồ vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng vì sao họ không bước đi theo truyền thống của các trưởng lão. Điều này cho thấy người tôn giáo dễ dàng thay thế Lời Đức Chúa Trời bằng các tập tục thừa hưởng, văn hóa hội thánh, luật lệ do con người đặt ra, hoặc các hình thức bên ngoài. Khi truyền thống loài người trở thành thước đo của sự thánh khiết, sự vâng phục thật đối với Đức Chúa Trời thường bị đánh mất.

Mác 7:6-7
6 Ngài đáp và phán với họ: “Ê-sai đã nói tiên tri rất đúng về các ngươi là những kẻ giả hình, như có chép rằng:
‘Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng,
Nhưng lòng chúng xa cách Ta.
7 Chúng thờ phượng Ta cách vô ích,
Vì dạy các điều răn của loài người như giáo lý.’”

Chúa Giê-su đáp bằng cách trích lời Ê-sai, phơi bày cốt lõi của vấn đề. Người Pha-ri-si tôn kính Đức Chúa Trời bằng môi miệng, nhưng lòng họ xa cách Ngài. Tôn giáo của họ có lời nói, nghi lễ và vẻ bề ngoài, nhưng thiếu sự tận hiến thật bên trong. Chúa Giê-su gọi đây là sự thờ phượng vô ích vì họ dạy các điều răn của loài người như thể đó là giáo lý đến từ Đức Chúa Trời. Đây là một lời cảnh báo nghiêm trọng cho mọi thế hệ. Sự thờ phượng trở nên vô ích khi con người thay thế Lời sống động của Đức Chúa Trời bằng tôn giáo do loài người đặt ra, hoặc khi sự xưng nhận bên ngoài che giấu một tấm lòng chưa được hoán cải. Sự thờ phượng thật phải đến từ một tấm lòng đầu phục Đức Chúa Trời, chứ không chỉ từ môi miệng nói ngôn ngữ tôn giáo.

Mác 7:8-9
8 Vì các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời mà giữ truyền thống của loài người — như việc rửa bình và chén, cùng nhiều điều tương tự khác các ngươi làm.”
9 Ngài lại phán với họ: “Các ngươi thật khéo bác bỏ điều răn của Đức Chúa Trời để giữ truyền thống của mình.”

Chúa Giê-su giờ đây nói rõ vấn đề: họ đang bỏ qua điều răn của Đức Chúa Trời để giữ truyền thống loài người. Vấn đề của họ không chỉ là họ có truyền thống, nhưng là truyền thống của họ đã trở nên quan trọng hơn Lời Đức Chúa Trời. Họ bác bỏ điều răn của Đức Chúa Trời trong khi bảo tồn các tập tục tôn giáo. Đây là sự nguy hiểm của tôn giáo luật pháp: bên ngoài có thể trông nghiêm khắc và thánh thiện, nhưng bên trong thật ra đang bất tuân Đức Chúa Trời. Đấng Christ cho thấy sự vâng phục Đức Chúa Trời không thể được thay thế bằng sự chính xác trong nghi lễ, các hình thức bên ngoài, hay các tập tục thừa hưởng. Bất cứ truyền thống nào làm suy yếu, thay thế, hoặc mâu thuẫn với điều răn của Đức Chúa Trời đều phải bị từ bỏ.

Mác 7:10-13
10 Vì Môi-se đã nói: ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi’; và: ‘Ai nguyền rủa cha hoặc mẹ thì phải bị xử tử.’
11 Nhưng các ngươi lại nói: ‘Nếu một người nói với cha hoặc mẹ mình rằng: “Bất cứ lợi ích nào cha mẹ có thể nhận từ con là Cọt-ban”’ — nghĩa là của dâng cho Đức Chúa Trời —
12 thì các ngươi không cho người ấy làm gì thêm cho cha hoặc mẹ mình nữa,
13 như vậy các ngươi làm cho Lời Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu bởi truyền thống mà các ngươi đã truyền lại. Và các ngươi còn làm nhiều điều tương tự như vậy.”

Chúa Giê-su đưa ra một ví dụ rõ ràng qua truyền thống “Cọt-ban.” Điều răn của Đức Chúa Trời đòi hỏi con cái phải hiếu kính cha mẹ, điều này bao gồm cả sự chăm sóc và chu cấp thực tế. Nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo cho phép một người dâng tài sản của mình cho Đức Chúa Trời theo cách khiến người ấy có thể tránh việc giúp đỡ cha mẹ. Truyền thống này có vẻ tôn giáo, nhưng thật ra lại bào chữa cho sự bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su nói rằng họ làm cho Lời Đức Chúa Trời trở nên “vô hiệu” bởi truyền thống của họ. Điều này cho thấy tôn giáo sai lầm có thể dùng ngôn ngữ tôn giáo để che đậy sự ích kỷ và sự bỏ bê trách nhiệm. Sự tận hiến thật đối với Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dẫn một người đến chỗ bất kính với các trách nhiệm đạo đức rõ ràng mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy.

Mác 7:14-15
14 Khi gọi cả đoàn dân đến với mình, Ngài phán với họ: “Hết thảy hãy nghe Ta và hiểu điều này:
15 Không có điều gì từ bên ngoài vào trong người có thể làm người ấy ô uế; nhưng những điều từ trong người phát ra, đó mới là những điều làm người ấy ô uế.”

Chúa Giê-su giờ đây quay từ các nhà lãnh đạo tôn giáo sang đoàn dân và kêu gọi mọi người phải hiểu. Ngài dạy rằng sự ô uế đạo đức thật không đến từ điều gì đi vào thân thể từ bên ngoài, chẳng hạn như ăn bánh với tay chưa rửa theo nghi lễ. Trái lại, sự ô uế đến từ điều phát xuất ra từ tấm lòng. Vấn đề trong bối cảnh không phải là vệ sinh thông thường, và Chúa Giê-su cũng không khuyến khích thói quen cẩu thả. Rửa tay trước khi ăn vẫn là một thực hành khôn ngoan cho sức khỏe. Nhưng Đấng Christ đang sửa lại quan niệm cho rằng sự tiếp xúc theo nghi lễ với những điều bên ngoài có thể khiến một người trở nên ô uế thuộc linh trước mặt Đức Chúa Trời. Sự ô uế thật mang tính đạo đức và thuộc linh; nó đến từ một tấm lòng hư hoại, không phải từ việc bỏ qua các truyền thống rửa tay của người Pha-ri-si.

Mác 7:16-20
16 Nếu ai có tai để nghe, hãy nghe!”
17 Khi Ngài đã vào nhà, xa khỏi đám đông, các môn đồ hỏi Ngài về ví dụ ấy.
18 Ngài phán với họ: “Các con cũng không hiểu sao? Các con không nhận thấy rằng bất cứ điều gì từ bên ngoài vào trong người thì không thể làm người ấy ô uế,
19 vì nó không vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi được thải ra, như vậy làm sạch mọi thức ăn sao?”
20 Ngài lại phán: “Điều gì từ trong người phát ra, điều đó làm người ấy ô uế.”

Trong phân đoạn này, Chúa Giê-su dạy rằng sự ô uế thuộc linh thật sự không đến từ thức ăn vật chất, sự tiếp xúc bên ngoài, hay sự ô uế theo nghi lễ, chẳng hạn như ăn với tay chưa rửa theo truyền thống của loài người. Thức ăn đi vào bụng rồi được thải ra khỏi cơ thể; nó không đi vào lòng người, là nơi phát sinh tội lỗi, sự phản nghịch, dục vọng, kiêu ngạo, thù ghét, và sự vô tín. Phao-lô cũng dạy cùng một nguyên tắc của Giao Ước Mới khi ông nói: “Thức ăn không làm cho chúng ta được Đức Chúa Trời chấp nhận” (1 Cô-rinh-tô 8:8), và: “Tôi biết và được thuyết phục trong Chúa Giê-su rằng chẳng có vật gì tự nó là ô uế” (Rô-ma 14:14). Ông cũng cảnh báo các tín hữu đừng phục dưới những “nguyên lý sơ đẳng của thế gian” mang tính tôn giáo, như “chớ nắm, chớ nếm, chớ rờ,” vì những luật lệ bề ngoài này không thể thật sự làm sạch hay biến đổi tấm lòng (Cô-lô-se 2:20–23). Vì vậy, trong Giao Ước Mới, thức ăn tự nó không làm cho con người bị ô uế thuộc linh hay ô uế theo nghi lễ trước mặt Đức Chúa Trời; con người bị ô uế bởi điều phát xuất từ lòng, chứ không chỉ bởi điều đi vào miệng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Cơ Đốc nhân được phép bất cẩn về sự sạch sẽ thân thể, vệ sinh, sự tinh khiết, sức khỏe, hay sự khôn ngoan trong việc ăn uống. Chúa Giê-su và Phao-lô không khuyến khích lối sống không lành mạnh hoặc có hại cho sức khỏe; cái Ngài đang sửa lại là quan niệm sai lầm rằng sự ô uế theo nghi lễ bên ngoài có thể làm cho một người trở nên ô uế thuộc linh, đồng thời cho thấy rằng sự thanh sạch thật phải đến từ một tấm lòng được Đức Chúa Trời làm sạch và biến đổi.

Mác 7:21-23
21 Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những tư tưởng xấu, ngoại tình, gian dâm, giết người,
22 trộm cắp, tham lam, gian ác, lừa dối, phóng đãng, con mắt gian ác, phạm thượng, kiêu ngạo, ngu dại.
23 Tất cả những điều xấu ấy phát xuất từ bên trong và làm người ta ô uế.”

Chúa Giê-su cho biết nguồn gốc thật của sự ô uế: tấm lòng con người. Những tư tưởng xấu, sự gian dâm, giết người, trộm cắp, tham lam, lừa dối, kiêu ngạo, phạm thượng và ngu dại không đến từ thức ăn chạm vào bụng, nhưng đến từ tội lỗi đang cai trị bên trong. Điều này phơi bày sự yếu kém của tôn giáo bên ngoài. Một người có thể rửa tay, chén và đồ dùng rất cẩn thận, nhưng vẫn có một tấm lòng đầy kiêu ngạo, ích kỷ, dục vọng, giận dữ và vô tín. Sự thánh khiết thật đòi hỏi sự biến đổi bên trong. Đấng Christ không đến chỉ để cải thiện hành vi tôn giáo bên ngoài, nhưng để làm sạch và đổi mới tấm lòng bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Nếu tấm lòng không được thay đổi, các hình thức bên ngoài không thể làm một người tinh sạch trước mặt Đức Chúa Trời.

Mác 7:24-30
24 Từ đó, Ngài đứng dậy và đi đến vùng Ty-rơ và Si-đôn. Ngài vào một nhà và không muốn ai biết, nhưng Ngài không thể ẩn mình được.
25 Vì một người phụ nữ có con gái nhỏ bị tà linh ám nghe nói về Ngài, liền đến sấp mình dưới chân Ngài.
26 Người phụ nữ ấy là người Hy Lạp, gốc Sy-rô-phê-ni-xi. Bà cứ nài xin Ngài đuổi quỷ ra khỏi con gái mình.
27 Nhưng Chúa Giê-su phán với bà: “Hãy để con cái được ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con.”
28 Bà đáp rằng: “Vâng, thưa Chúa, nhưng những chó con ở dưới bàn cũng ăn những mảnh vụn của con cái.”
29 Ngài phán với bà: “Vì lời này, hãy đi; quỷ đã ra khỏi con gái con rồi.”
30 Khi bà về đến nhà, bà thấy quỷ đã ra khỏi, và con gái mình đang nằm trên giường.

Sau khi đối diện với những truyền thống rỗng tuếch của các nhà lãnh đạo tôn giáo, Chúa Giê-su đi vào vùng dân ngoại và được một người phụ nữ Sy-rô-phê-ni-xi đến cầu xin, vì con gái bà bị tà linh ám. Dù bà ở ngoài Y-sơ-ra-ên, bà đến với Chúa Giê-su trong sự khiêm nhường, kiên trì và đức tin. Lời của Chúa Giê-su về việc con cái được ăn no trước cho thấy thứ tự trong sứ mạng của Ngài: phúc âm được trình bày trước hết cho Y-sơ-ra-ên, dân giao ước, trước khi được đem đến cách đầy đủ hơn cho dân ngoại. Tuy nhiên, người phụ nữ không tranh cãi cách kiêu ngạo hay bỏ đi vì bị xúc phạm. Trái lại, bà chấp nhận hình ảnh ấy và bày tỏ đức tin đáng kinh ngạc khi nói rằng ngay cả chó con dưới bàn cũng ăn những mảnh vụn của con cái. Câu trả lời của bà bày tỏ sự khiêm nhường và lòng tin nơi lòng thương xót của Đấng Christ. Chúa Giê-su tôn trọng đức tin của bà và ban sự giải cứu cho con gái bà. Phân đoạn này cho thấy dù Y-sơ-ra-ên có đặc ân đặc biệt, lòng thương xót của Đức Chúa Trời chưa bao giờ bị giới hạn chỉ trong Y-sơ-ra-ên. Đức tin, sự khiêm nhường và lòng kiên trì nhận được phước lành từ Đấng Christ, ngay cả nơi mà thành kiến của loài người có thể mong đợi sự khước từ.

Mác 7:31-37
31 Rồi Ngài rời khỏi vùng Ty-rơ và Si-đôn, đi qua miền Đê-ca-bô-li, đến biển Ga-li-lê.
32 Người ta đem đến cho Ngài một người điếc và nói khó, nài xin Ngài đặt tay trên người.
33 Ngài đem người ấy riêng ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai người, rồi nhổ nước bọt và chạm vào lưỡi người.
34 Ngài ngước mắt lên trời, thở dài và phán với người: “Ép-pha-tha,” nghĩa là: “Hãy mở ra.”
35 Lập tức tai người được mở ra, tật nơi lưỡi được tháo gỡ, và người nói rõ ràng.
36 Ngài truyền cho họ đừng nói với ai; nhưng Ngài càng truyền, họ càng rao truyền rộng rãi hơn.
37 Họ vô cùng kinh ngạc và nói: “Ngài đã làm mọi sự tốt đẹp. Ngài làm cho người điếc nghe được và người câm nói được.”

Chúa Giê-su chữa lành một người điếc và nói khó. Cách Đấng Christ đối xử với người ấy rất cá nhân và đầy lòng thương xót. Ngài đem người ấy riêng ra khỏi đám đông, bày tỏ sự nhạy cảm đối với tình trạng và phẩm giá của người ấy. Bằng cách chạm vào tai và lưỡi người, Chúa Giê-su truyền đạt theo cách người ấy có thể hiểu. Khi ngước mắt lên trời, Ngài bày tỏ sự lệ thuộc của mình vào Cha, rồi phán mệnh lệnh: “Ép-pha-tha,” nghĩa là “Hãy mở ra.” Lập tức tai người được mở ra và lời nói của người được phục hồi. Phép lạ này bày tỏ quyền năng của Đấng Christ để mở ra những gì tội lỗi và đau khổ đã đóng lại. Nó cũng mang một bài học thuộc linh: nhân loại cần Đấng Christ mở tai để nghe Lời Đức Chúa Trời và mở lưỡi để nói lời ngợi khen Ngài. Lời đáp của dân chúng: “Ngài đã làm mọi sự tốt đẹp,” là một lời chứng thích hợp về bản tính và công việc của Chúa Giê-su. Mọi điều Ngài làm đều bày tỏ sự khôn ngoan, lòng thương xót và quyền năng thần thượng.

bottom of page