top of page

Ma-thi-ơ 10

Ma-thi-ơ 10 ghi lại việc Giê-su sai mười hai môn đồ ra đi với thẩm quyền để rao giảng, chữa lành, làm sạch và đuổi quỷ. Chương này bao gồm những chỉ dẫn cho sứ mạng trước mắt của họ đến với Y-sơ-ra-ên, nhưng cũng đưa ra những nguyên tắc rộng hơn áp dụng cho những người theo Đấng Christ trong mọi thời đại. Giê-su chuẩn bị họ không chỉ cho niềm vui trong chức vụ, nhưng cũng cho sự chối bỏ, bắt bớ, khó khăn và hy sinh. Ngài dạy họ hoàn toàn nương cậy nơi Đức Chúa Trời, phục vụ cách nhưng không, chịu đựng cách trung tín, và dạn dĩ xưng nhận Ngài trước mặt người khác. Chương này cho thấy công việc của Đấng Christ được tiếp tục qua những sứ giả được Ngài chọn, nhưng cũng nhắc chúng ta rằng đời sống môn đồ thật đòi hỏi lòng can đảm, sự từ bỏ bản thân, lòng trung thành và sự tin cậy trọn vẹn nơi sự chăm sóc của Cha.

Ma-thi-ơ 10:1-4
1 Giê-su gọi mười hai môn đồ đến với Ngài, ban cho họ quyền trên các uế linh để đuổi chúng ra, và chữa lành mọi thứ bệnh tật cùng mọi sự đau yếu.
2 Tên của mười hai sứ đồ là: trước hết, Si-môn, gọi là Phi-e-rơ, và Anh-rê em ông; Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng em ông;
3 Phi-líp và Ba-thê-lê-my; Thô-ma và Ma-thi-ơ người thu thuế; Gia-cơ con A-phê, và Lê-bê, cũng gọi là Tha-đê;
4 Si-môn người Ca-na-an, và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là người đã phản bội Ngài.

Giê-su gọi mười hai môn đồ đến với mình và ban cho họ thẩm quyền để tiếp tục chính công việc Ngài đã làm: rao giảng vương quốc, chữa lành người bệnh và giải cứu con người khỏi các uế linh. Quyền năng của họ không đến từ sự khôn ngoan, học thức, sức mạnh hay sự thánh thiện riêng của họ, nhưng đến từ Đấng Christ, Đấng đã gọi và sai họ. Danh sách các tên nhắc chúng ta rằng Giê-su đã chọn những con người bình thường, đến từ nhiều hoàn cảnh và tính cách khác nhau. Một số là ngư phủ, Ma-thi-ơ từng là người thu thuế, Si-môn được gọi là người Ca-na-an hay người Nhiệt Thành, còn Giu-đa về sau sẽ phản bội Ngài. Điều này cho thấy được Đấng Christ kêu gọi là một đặc ân lớn, nhưng cũng mang theo trách nhiệm lớn. Các môn đồ chưa hoàn hảo khi Giê-su gọi họ, nhưng họ được mời gọi bước đi với Ngài, học từ Ngài và trở thành công cụ của vương quốc Ngài. Sự hữu dụng của họ tùy thuộc vào mối liên hệ của họ với Ngài.

Ma-thi-ơ 10:5-6
5 Mười hai người này được Giê-su sai đi và truyền rằng: “Đừng đi vào đường của dân Ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri;
6 nhưng hãy đi đến với những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.”

Trước hết, Giê-su sai các môn đồ đến với “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.” Điều này không có nghĩa Đức Chúa Trời không quan tâm đến dân Ngoại hay người Sa-ma-ri, vì về sau Giê-su truyền Phúc Âm phải được rao giảng cho muôn dân. Đúng hơn, sứ mạng này cho thấy thứ tự trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Y-sơ-ra-ên là dân giao ước, dòng dõi Áp-ra-ham, và là dân tộc mà qua đó Đấng Mê-si đã đến. Họ được ban cơ hội đầu tiên để nghe rằng vương quốc thiên đàng đã đến gần. Khi gọi họ là “chiên lạc mất,” Giê-su bày tỏ cả lòng thương xót lẫn nỗi buồn. Họ có Kinh Thánh, các nghi lễ, đền thờ và các lãnh đạo tôn giáo, nhưng nhiều người vẫn lạc mất thuộc linh và cần Đấng Chăn Chiên thật. Phúc Âm về sau sẽ đi đến cả thế gian, nhưng nó bắt đầu với Y-sơ-ra-ên, làm ứng nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời và kêu gọi dân giao ước của Ngài trước hết ăn năn.

Ma-thi-ơ 10:7-8
7 Khi đi, hãy rao giảng rằng: ‘Vương quốc thiên đàng đã đến gần.’
8 Hãy chữa lành người bệnh, làm sạch người phong hủi, khiến kẻ chết sống lại, đuổi quỷ. Các con đã nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không.

Các môn đồ được ban một sứ điệp đơn giản và khẩn cấp: “Vương quốc thiên đàng đã đến gần.” Họ phải công bố rằng sự cai trị của Đức Chúa Trời đang đến gần qua chức vụ của Đấng Christ. Sự rao giảng của họ cũng được đi kèm với các công việc của lòng thương xót và quyền năng: chữa lành người bệnh, làm sạch người phong hủi, khiến kẻ chết sống lại và đuổi quỷ. Những phép lạ này không nhằm để giải trí, tìm danh tiếng hay tự tôn cao, nhưng là các dấu hiệu cho thấy vương quốc Đức Chúa Trời đem sự phục hồi đến cho toàn thể con người—thân thể, tâm trí và tâm linh. Giê-su cũng phán: “Các con đã nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không.” Vì các môn đồ đã nhận thẩm quyền và phước lành cách nhưng không từ Đức Chúa Trời, họ không được dùng chức vụ cho lợi ích ích kỷ. Sự phục vụ thật trong vương quốc Đức Chúa Trời phải tuôn chảy từ ân điển, lòng thương xót và tình yêu thương, chứ không phải từ lòng tham, tham vọng hay mong muốn kiếm lợi.

Ma-thi-ơ 10:9-10
9 Đừng đem vàng, bạc hay tiền đồng trong túi;
10 đừng đem bao cho cuộc hành trình, cũng đừng đem hai áo, giày dép hay gậy; vì người làm công đáng được nuôi ăn.

Giê-su bảo các môn đồ đi cách đơn sơ và nương cậy vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời qua những người tiếp nhận sứ điệp. Họ không được nương dựa vào tiền bạc, đồ dự trữ hay sự an toàn vật chất, nhưng vào Đấng đã sai họ. Điều này sẽ dạy họ đức tin, sự khiêm nhường và sự nương cậy nơi Cha. Cách đi đơn sơ của họ cũng cho thấy sứ mạng của họ không nhằm tìm kiếm lợi ích trần gian, nhưng vì vương quốc thiên đàng. Đồng thời, Giê-su phán: “Người làm công đáng được nuôi ăn,” nghĩa là những người trung tín lao nhọc trong công việc Đức Chúa Trời có thể được hỗ trợ cách chính đáng bởi những người nhận lợi ích từ chức vụ của họ. Điều này đưa ra một nguyên tắc quân bình: người hầu việc Chúa không nên phục vụ vì lòng tham, nhưng dân Đức Chúa Trời nên nhận biết và hỗ trợ công việc thuộc linh chân thật.

Ma-thi-ơ 10:11-15
11 “Khi vào bất cứ thành hay làng nào, hãy hỏi xem ai trong đó là người xứng đáng, rồi ở lại đó cho đến khi các con rời đi.
12 Khi vào một nhà, hãy chào bình an cho nhà ấy.
13 Nếu nhà ấy xứng đáng, sự bình an của các con sẽ đến trên nhà đó; nhưng nếu không xứng đáng, sự bình an của các con sẽ trở về với các con.
14 Ai không tiếp nhận các con và không nghe lời các con, khi rời khỏi nhà ấy hoặc thành ấy, hãy phủi bụi khỏi chân mình.
15 Thật, Ta nói với các con, trong ngày phán xét, đất Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu nhẹ hơn thành ấy!”

Giê-su dạy các môn đồ tìm những tấm lòng sẵn sàng tiếp nhận và ở lại với những người chào đón sứ điệp. Một gia đình “xứng đáng” không có nghĩa là một gia đình vô tội, nhưng là một gia đình khiêm nhường, mở lòng và sẵn sàng tiếp nhận các sứ giả của Đấng Christ. Lời chào bình an của họ không chỉ là lời lịch sự; nó mang theo phước lành của vương quốc. Nhưng nếu một gia đình hay một thành chối bỏ họ, các môn đồ không được ép buộc sứ điệp hoặc phí thời gian trong những cuộc tranh luận vô tận. Việc phủi bụi khỏi chân tượng trưng cho sự tách khỏi sự vô tín và cho thấy trách nhiệm về sự chối bỏ thuộc về những người đã từ chối sứ điệp. Việc Giê-su nhắc đến Sô-đôm và Gô-mô-rơ cho thấy sự nghiêm trọng của việc chối bỏ ánh sáng lớn hơn. Những thành ấy bị phán xét vì sự gian ác lớn, nhưng chối bỏ Phúc Âm sau khi đã nhận sự mặc khải rõ ràng hơn sẽ đem lại trách nhiệm lớn hơn trước mặt Đức Chúa Trời.

Ma-thi-ơ 10:16-20
16 “Này, Ta sai các con đi như chiên giữa bầy sói. Vậy, hãy khôn ngoan như rắn và hiền lành như chim bồ câu.
17 Nhưng hãy coi chừng người ta, vì họ sẽ nộp các con cho các hội đồng và đánh đòn các con trong các nhà hội của họ.
18 Các con sẽ bị đem ra trước các quan tổng đốc và các vua vì cớ Ta, để làm chứng cho họ và cho dân Ngoại.
19 Nhưng khi họ nộp các con, đừng lo phải nói thế nào hoặc nói điều gì; vì trong giờ ấy, điều các con phải nói sẽ được ban cho các con.
20 Vì không phải các con nói, nhưng là Thần Linh của Cha các con nói trong các con.”

Giê-su cảnh báo các môn đồ rằng họ được sai đi “như chiên giữa bầy sói,” nghĩa là họ sẽ đối diện với nguy hiểm, sự chống đối và thù nghịch trong khi mang một sứ điệp bình an. Vì vậy, họ phải “khôn ngoan như rắn và hiền lành như chim bồ câu.” Sự khôn ngoan là cần thiết để họ không bất cẩn, ngây thơ hoặc tự đặt mình vào nguy hiểm không cần thiết, còn sự hiền lành là cần thiết để họ không đáp lại bằng sự lừa dối, bạo lực hay trả thù. Giê-su cũng chuẩn bị họ cho sự bắt bớ từ các nhà cầm quyền tôn giáo và chính trị. Tuy nhiên, những thử thách ấy sẽ trở thành cơ hội để làm chứng trước các nhà cai trị và dân Ngoại. Khi họ bị đem ra trước các thẩm quyền, họ không cần lo lắng phải nói điều gì, vì Thần Linh của Cha sẽ nói qua họ. Lời hứa này được ứng nghiệm đặc biệt sau Lễ Ngũ Tuần, khi Thần Linh ban quyền năng cho Hội Thánh đầu tiên, nhưng nó cũng ban sự can đảm cho các tín hữu trong mọi thời đại. Trong lúc khủng hoảng và bắt bớ, Đức Chúa Trời có thể ban cho dân Ngài sự khôn ngoan, sức mạnh và lời nói đúng đắn để làm chứng cho Đấng Christ.

Ma-thi-ơ 10:21-23
21 “Anh em sẽ nộp anh em mình để bị giết, cha sẽ nộp con, con cái sẽ nổi lên chống lại cha mẹ và khiến họ bị giết.
22 Các con sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta. Nhưng ai bền đỗ đến cuối cùng sẽ được cứu.
23 Khi họ bắt bớ các con trong thành này, hãy trốn sang thành khác. Vì thật, Ta nói với các con, các con chưa đi hết các thành của Y-sơ-ra-ên thì Con Người sẽ đến.”

Giê-su cảnh báo các môn đồ rằng theo Ngài có thể đem đến sự chống đối nghiêm trọng, ngay cả từ chính gia đình. Lòng trung thành với Đấng Christ có thể bày tỏ tình trạng thật của tấm lòng, gây chia rẽ giữa những người tiếp nhận Ngài và những người chối bỏ Ngài. Anh em, cha mẹ và con cái có thể quay lại chống nhau, và các môn đồ sẽ bị ghét vì danh Ngài. Tuy nhiên, Giê-su phán: “Ai bền đỗ đến cuối cùng sẽ được cứu,” cho thấy sự kiên trì là điều thiết yếu trong đời sống đức tin. Khi bị bắt bớ trong một thành, họ phải trốn sang thành khác, không phải vì hèn nhát, nhưng để bảo toàn mạng sống và tiếp tục sứ mạng. Cụm từ “các thành của Y-sơ-ra-ên” phù hợp với sứ mạng trước mắt đến với những con chiên lạc mất của Y-sơ-ra-ên. Công việc của họ giữa dân Do Thái sẽ gặp sự chối bỏ và sẽ chưa hoàn tất trước khi Con Người đến trong thẩm quyền và sự phán xét thần thượng. Điều này có thể chỉ về sự đến của Đấng Christ trong quyền năng vương quốc qua sự phục sinh của Ngài, sự lan rộng của Phúc Âm và sự phán xét về sau trên Giê-ru-sa-lem, đồng thời cũng mang một ứng dụng tiên tri rộng hơn cho sứ mạng tiếp tục của dân Đức Chúa Trời cho đến khi Đấng Christ tái lâm cuối cùng. Điểm chính là sự bắt bớ sẽ không ngăn được Phúc Âm; nó sẽ đẩy các sứ giả đi từ nơi này sang nơi khác và thúc đẩy công việc tiến tới cách khẩn cấp cho đến khi Con Người đến.

Ma-thi-ơ 10:24-25
24 “Môn đồ không hơn thầy, tôi tớ cũng không hơn chủ mình.
25 Môn đồ được như thầy, tôi tớ được như chủ mình là đủ rồi. Nếu người ta đã gọi Chủ nhà là Bê-ên-xê-bun, huống chi là người nhà Ngài!”

Giê-su chuẩn bị các môn đồ để họ biết rằng họ sẽ gặp cùng loại đối xử mà chính Ngài đã nhận. Một môn đồ không nên mong được thế gian tôn trọng trong khi thế gian đã chối bỏ Thầy. Nếu Giê-su, Đấng tinh sạch, yêu thương, chân thật và đầy Thần Linh của Đức Chúa Trời, còn bị vu cáo là làm việc bởi quyền lực của Bê-ên-xê-bun, thì những người theo Ngài không nên ngạc nhiên khi họ bị hiểu lầm, vu khống hoặc ghét bỏ. Phân đoạn này dạy rằng chịu khổ vì Đấng Christ không phải là bằng chứng Đức Chúa Trời đã bỏ rơi dân Ngài. Trái lại, điều đó thường cho thấy sự liên hệ của họ với Chúa mình. Trở nên giống Thầy nghĩa là chia sẻ không chỉ sứ mạng của Ngài, nhưng cả sự chối bỏ mà Ngài đã chịu. Tuy nhiên, điều này cũng đem lại sự an ủi, vì môn đồ không bao giờ chịu khổ một mình. Đấng Christ đã đi con đường này trước những người theo Ngài.

Ma-thi-ơ 10:26-31
26 “Vậy, đừng sợ họ. Vì chẳng có điều gì che giấu mà sẽ không bị bày tỏ, cũng chẳng có điều gì kín nhiệm mà sẽ không được biết.
27 Điều Ta nói với các con trong bóng tối, hãy nói ra trong ánh sáng; điều các con nghe bên tai, hãy rao trên mái nhà.
28 Đừng sợ những kẻ giết thân thể nhưng không thể giết linh hồn; nhưng hãy kính sợ Đấng có thể hủy diệt cả linh hồn lẫn thân thể trong địa ngục.
29 Chẳng phải hai con chim sẻ được bán với giá một đồng xu sao? Nhưng không một con nào rơi xuống đất ngoài ý Cha các con.
30 Ngay cả tóc trên đầu các con cũng đã được đếm hết.
31 Vậy, đừng sợ; các con quý hơn nhiều chim sẻ.”

Giê-su nhiều lần bảo các môn đồ đừng sợ. Dù kẻ thù có thể đe dọa, vu khống, bỏ tù, hoặc thậm chí giết thân thể, họ không thể hủy diệt linh hồn hay lấy đi sự sống đời đời. Chỉ Đức Chúa Trời có thẩm quyền cuối cùng trên cả thân thể lẫn linh hồn, vì vậy lòng kính sợ Ngài phải lớn hơn nỗi sợ con người. Giê-su cũng bảo đảm với những người theo Ngài rằng lẽ thật bị che giấu một ngày kia sẽ được bày tỏ, nên họ phải dạn dĩ công bố điều Ngài đã dạy. Điều họ nhận riêng phải được nói công khai. Sau đó, Giê-su an ủi họ bằng ví dụ về chim sẻ. Chim sẻ nhỏ bé và rẻ tiền trong mắt con người, nhưng không một con nào rơi xuống ngoài sự biết và chăm sóc của Cha. Nếu Đức Chúa Trời chú ý đến cả chim sẻ, thì Ngài càng chăm sóc con cái Ngài hơn biết bao. Tóc trên đầu họ cũng đã được đếm hết, cho thấy sự hiểu biết gần gũi và sự chăm sóc dịu dàng của Đức Chúa Trời. Phân đoạn này dạy rằng lòng can đảm lớn lên từ việc nhận biết quyền tể trị, sự công bình và tình yêu của Cha. Các tín hữu có thể đối diện với sự chống đối vì đời sống của họ rất quý giá trong mắt Đức Chúa Trời.

Ma-thi-ơ 10:32-33
32 “Vậy, ai xưng nhận Ta trước mặt người ta, Ta cũng sẽ xưng nhận người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời.
33 Nhưng ai chối Ta trước mặt người ta, Ta cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời.”

Giê-su cho thấy sự nghiêm trọng của việc công khai thừa nhận Ngài trước mặt người khác. Xưng nhận Đấng Christ không chỉ là nói danh Ngài; đó là đứng với Ngài, tôn kính Ngài và đồng nhất mình với Ngài ngay cả khi điều đó có thể đem lại sự xấu hổ, mất mát, chối bỏ hoặc bắt bớ. Giê-su hứa rằng những ai xưng nhận Ngài trước mặt loài người sẽ được Ngài xưng nhận trước mặt Cha Ngài ở trên trời. Đây là một sự bảo đảm mạnh mẽ rằng Đấng Christ nhận biết và đại diện cho những người theo Ngài cách trung tín trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng những ai chối Ngài trước mặt loài người cho thấy họ quý trọng sự chấp nhận của con người, sự an toàn hoặc lợi ích thế gian hơn lòng trung thành với Đấng Christ. Vì vậy, đời sống môn đồ vừa là riêng tư vừa là công khai. Một người thật sự theo Giê-su có thể có những giai đoạn âm thầm tăng trưởng, nhưng khi lòng trung thành bị thử nghiệm, đức tin không được che giấu hay chối bỏ.

Ma-thi-ơ 10:34-39
34 “Đừng tưởng rằng Ta đến để đem hòa bình trên đất. Ta không đến để đem hòa bình, nhưng đem gươm.
35 Vì Ta đến để ‘làm cho người nam chống lại cha mình, con gái chống lại mẹ mình, và nàng dâu chống lại mẹ chồng mình’;
36 và ‘kẻ thù của người ta sẽ là người nhà của mình.’
37 Ai yêu cha hoặc mẹ hơn Ta thì không xứng đáng với Ta; ai yêu con trai hoặc con gái hơn Ta thì không xứng đáng với Ta.
38 Ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta thì không xứng đáng với Ta.
39 Ai tìm được mạng sống mình thì sẽ mất nó; còn ai mất mạng sống mình vì cớ Ta thì sẽ tìm được nó.”

Giê-su không có ý nói rằng mục đích của Ngài là tạo ra sự thù ghét hay xung đột không cần thiết, nhưng là lẽ thật của Ngài chắc chắn sẽ phân rẽ con người. Đấng Christ đem hòa bình cho những ai tiếp nhận Ngài, nhưng sứ điệp của Ngài cũng phơi bày tấm lòng và phân rẽ những người yêu Đức Chúa Trời khỏi những người chối bỏ Ngài. Ngay cả các mối quan hệ gia đình cũng có thể bị thử nghiệm khi lòng trung thành với Giê-su xung đột với các mong đợi của con người. Giê-su kêu gọi những người theo Ngài yêu Ngài hơn cha, mẹ, con trai, con gái, và ngay cả chính mạng sống mình. Điều này không phá hủy tình yêu gia đình; đúng hơn, nó đặt mọi mối quan hệ con người dưới quyền làm Chúa tối cao của Đấng Christ. Vác thập tự giá nghĩa là chấp nhận sự từ bỏ bản thân, chịu khổ, bị chối bỏ và vâng phục vì cớ Ngài. Người cố giữ mạng sống mình bằng cách thỏa hiệp với thế gian cuối cùng sẽ mất nó, nhưng người đầu phục đời sống mình cho Đấng Christ sẽ thật sự tìm được nó. Giê-su dạy rằng sự sống thật chỉ được tìm thấy trong sự đầu phục hoàn toàn cho Ngài.

Ma-thi-ơ 10:40-42
40 “Ai tiếp nhận các con là tiếp nhận Ta, và ai tiếp nhận Ta là tiếp nhận Đấng đã sai Ta.
41 Ai tiếp nhận một tiên tri vì danh nghĩa là tiên tri thì sẽ nhận phần thưởng của tiên tri; ai tiếp nhận một người công chính vì danh nghĩa là người công chính thì sẽ nhận phần thưởng của người công chính.
42 Ai cho một trong những người bé mọn này chỉ một chén nước lạnh vì danh nghĩa là môn đồ, thật, Ta nói với các con, người ấy chắc chắn sẽ không mất phần thưởng của mình.”

Giê-su dạy rằng việc tiếp đón và hỗ trợ các sứ giả của Ngài, dù là tiên tri, người công chính hay môn đồ, cũng tương đương với việc tiếp nhận chính Giê-su. Ngài nhấn mạnh rằng những hành động tử tế, ngay cả điều đơn giản như cho một chén nước lạnh, nếu được làm để tôn kính một môn đồ của Đấng Christ, thì đều có ý nghĩa lớn và sẽ được ban thưởng. Cụm từ “vì danh nghĩa là môn đồ” nhấn mạnh rằng những hành động này được làm vì mối liên hệ của người ấy với sứ mạng của Đấng Christ. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời xem trọng ngay cả những hành động phục vụ nhỏ bé khi chúng được thúc đẩy bởi lòng tôn kính công việc của Ngài qua những người theo Ngài. Giê-su bảo đảm rằng không một hành động tử tế nào dành cho các đại diện của Ngài bị bỏ qua, và mỗi hành động, dù nhỏ đến đâu, đều có giá trị trong mắt Đức Chúa Trời và góp phần vào sứ mạng lớn hơn của vương quốc Ngài.

bottom of page