
Ma-thi-ơ 19
Ma-thi-ơ 19 bao gồm sự dạy dỗ của Giê-su về hôn nhân, ly dị, trẻ em, sự sống đời đời, sự giàu có, sự hy sinh và phần thưởng. Chương này bắt đầu với việc Giê-su trả lời câu hỏi của người Pha-ri-si về ly dị bằng cách đưa họ trở lại thiết kế ban đầu của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân. Ngài cho thấy hôn nhân là sự kết hiệp thánh giữa một người nam và một người nữ, được Đức Chúa Trời kết hợp, và không nên bị phá vỡ cách nhẹ nhàng. Sau đó, Giê-su tiếp nhận các trẻ nhỏ, cho thấy vương quốc thuộc về những ai đến với sự khiêm nhường và tin cậy. Tiếp theo, Ngài nói chuyện với người thanh niên giàu có, phơi bày sự nguy hiểm của tôn giáo bên ngoài mà không có sự đầu phục trọn vẹn trong lòng. Chương này kết thúc với lời dạy của Giê-su rằng sự cứu rỗi là điều không thể bởi nỗ lực con người, nhưng là điều có thể với Đức Chúa Trời, và những ai hy sinh vì danh Ngài sẽ không mất phần thưởng của mình.
Ma-thi-ơ 19:1-2
1 Khi Giê-su đã phán xong những lời ấy, Ngài rời Ga-li-lê và đi đến vùng Giu-đê bên kia sông Giô-đanh.
2 Có đoàn dân đông đi theo Ngài, và Ngài chữa lành họ tại đó.
Sau khi kết thúc sự dạy dỗ của mình, Giê-su rời Ga-li-lê và đi đến vùng Giu-đê bên kia sông Giô-đanh. Những đoàn dân đông đi theo Ngài, và Ngài chữa lành họ tại đó. Điều này cho thấy chức vụ của Giê-su tiếp tục mở rộng, chạm đến nhiều người ở nhiều vùng khác nhau. Dù Ngài đi đến đâu, dân chúng cũng đến với Ngài vì họ thấy lòng thương xót, thẩm quyền và quyền năng chữa lành của Ngài. Giê-su không xua đuổi những người có nhu cầu, nhưng phục vụ họ với lòng thương xót. Công việc chữa lành của Ngài cho thấy vương quốc Đức Chúa Trời không chỉ là lời nói, nhưng cũng là sự phục hồi, lòng thương xót và quyền năng của Đức Chúa Trời chạm đến nỗi đau khổ của con người. Ngay cả khi Giê-su đang tiến gần hơn đến những sự kiện dẫn đến cái chết của Ngài, Ngài vẫn tiếp tục phục vụ người khác.
Ma-thi-ơ 19:3
3 Những người Pha-ri-si cũng đến với Ngài để thử Ngài và hỏi: “Một người nam có được phép ly dị vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”
Những người Pha-ri-si đến với Giê-su không phải để thành thật tìm kiếm lẽ thật, nhưng để thử Ngài. Họ hỏi một người nam có được phép ly dị vợ mình vì bất cứ lý do nào không. Vào thời đó, ly dị là một vấn đề được tranh luận, và một số giáo sư tôn giáo cho phép ly dị vì những lý do rất nhỏ hoặc ích kỷ. Người Pha-ri-si muốn gài bẫy Giê-su trong một câu hỏi gây tranh cãi, để xem Ngài có mâu thuẫn với Môi-se hoặc làm mất lòng dân chúng không. Nhưng Giê-su không trả lời bằng cách hạ thấp hôn nhân thành một cuộc tranh luận pháp lý về điều một người có thể làm mà không bị xử phạt. Thay vào đó, Ngài đưa họ trở lại mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy ý muốn của Đức Chúa Trời không phải lúc nào cũng được tìm thấy bằng câu hỏi: “Điều gì được phép theo luật?” nhưng bằng câu hỏi: “Thiết kế và tấm lòng ban đầu của Đức Chúa Trời là gì?”
Ma-thi-ơ 19:4-6
4 Ngài đáp rằng: “Các ông chưa đọc sao? Đấng đã tạo dựng họ từ ban đầu đã dựng nên họ là nam và nữ,
5 và phán: ‘Vì lý do đó, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và hai người sẽ trở nên một thịt.’
6 Như vậy, họ không còn là hai nữa, nhưng là một thịt. Vậy, điều gì Đức Chúa Trời đã kết hợp, loài người không được phân rẽ.”
Giê-su trả lời bằng cách chỉ về sự sáng tạo, trước khi tội lỗi, sự cứng lòng và sự thất bại của con người bước vào thế gian. Đức Chúa Trời dựng nên họ là nam và nữ, và Ngài thiết lập hôn nhân như một sự kết hiệp thánh giữa một người nam và một người nữ. Người chồng lìa cha mẹ và gắn bó với vợ mình, và hai người trở nên một thịt. Điều này có nghĩa hôn nhân không chỉ là một hợp đồng xã hội, một sự sắp xếp pháp lý hay một mối quan hệ tạm thời, nhưng là một giao ước kết hiệp do Đức Chúa Trời thiết lập. “Một thịt” bao gồm sự kết hiệp thể xác, nhưng còn hơn thế nữa; nó cũng chỉ về đời sống chung, tình yêu, lòng trung thành, mục đích, trách nhiệm và sự chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng không còn sống như hai cá nhân riêng biệt kéo về hai hướng khác nhau, nhưng như một đời sống hiệp nhất dưới quyền Đức Chúa Trời. Vì vậy, Giê-su phán: “Điều gì Đức Chúa Trời đã kết hợp, loài người không được phân rẽ.” Hôn nhân là thánh vì chính Đức Chúa Trời kết hợp người chồng và người vợ với nhau. Đây là lý do hôn nhân phải được đối xử bằng sự trung tín, tôn kính, kiên nhẫn, tha thứ và tình yêu giao ước.
Ma-thi-ơ 19:7-9
7 Họ hỏi Ngài: “Vậy tại sao Môi-se truyền phải cấp giấy ly dị và cho vợ ra đi?”
8 Ngài phán với họ: “Vì lòng các ông cứng cỏi nên Môi-se cho phép các ông ly dị vợ mình; nhưng từ ban đầu thì không phải như vậy.
9 Còn Ta nói với các ông: ai ly dị vợ mình, ngoại trừ vì cớ gian dâm, rồi cưới người khác, thì phạm tội ngoại tình; và ai cưới người nữ bị ly dị cũng phạm tội ngoại tình.”
Người Pha-ri-si đáp lại bằng cách hỏi tại sao Môi-se truyền phải cấp giấy ly dị nếu hôn nhân được định là bền vững. Nhưng cách họ đặt câu hỏi cho thấy trọng tâm sai lầm của họ. Họ nói như thể Môi-se truyền lệnh ly dị, trong khi Giê-su giải thích rằng Môi-se chỉ cho phép điều đó vì sự cứng lòng của con người. Người Pha-ri-si tập trung vào điều được luật pháp cho phép, thay vì tìm kiếm ý định ban đầu của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân. Đây là một nguy hiểm thường thấy trong tôn giáo: người ta có thể dùng luật pháp để biện minh cho điều lòng mình đã muốn, thay vì để ý muốn Đức Chúa Trời sửa trị và biến đổi mình.
Giê-su đưa vấn đề trở lại sự sáng tạo, phán rằng: “Từ ban đầu thì không phải như vậy.” Điều này có nghĩa ly dị chưa bao giờ là một phần trong thiết kế ban đầu của Đức Chúa Trời. Dưới Giao Ước Cũ, ly dị được cho phép và được điều chỉnh qua giấy ly dị, nhưng đó là sự nhượng bộ vì tội lỗi của con người, chứ không phải sự bày tỏ trọn vẹn tấm lòng của Đức Chúa Trời. Trong một xã hội sa ngã, một số người nam có thể hà khắc, bất trung, bỏ bê hoặc sẵn sàng bỏ vợ. Vì vậy, giấy ly dị có thể đã đóng vai trò bảo vệ người phụ nữ, cho nàng sự tự do hợp pháp thay vì để nàng bị từ bỏ, mắc kẹt và dễ bị tổn thương trong xã hội.
Tuy nhiên, Giê-su nâng vấn đề lên trên sự cho phép pháp lý đơn thuần và phục hồi hôn nhân về mục đích thật của Đức Chúa Trời. Hôn nhân không chỉ là giấy tờ có thể kết thúc vì những lý do ích kỷ; đó là một giao ước thánh trước mặt Đức Chúa Trời. Giê-su đưa ra sự gian dâm là ngoại lệ vì nó phá vỡ giao ước hôn nhân ở mức sâu sắc nhất. Sự dạy dỗ của Ngài cho thấy luật pháp, dù được Đức Chúa Trời ban, đôi khi điều chỉnh sự cứng lòng của con người mà chưa bày tỏ trọn vẹn lý tưởng của Đức Chúa Trời. Môi-se ban một sự quản trị giao ước chân thật nhưng có giới hạn, còn Giê-su bày tỏ tấm lòng của Cha cách đầy đủ hơn. Theo nghĩa biểu tượng, cũng như Môi-se chỉ có thể thấy phía sau của Đức Chúa Trời mà không thấy mặt Ngài cách trọn vẹn (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18-23), luật pháp ban một sự nhìn thấy thật nhưng vẫn còn một phần về mục đích của Đức Chúa Trời. Nhưng trong Đấng Christ, Cha được bày tỏ trọn vẹn và hoàn hảo (Giăng 1:17-18; Giăng 14:9). Giê-su không hạ thấp tiêu chuẩn; Ngài bày tỏ sự công chính sâu hơn của Giao Ước Mới—sự trung tín, sự trong sạch, lòng thương xót, sự bảo vệ người dễ bị tổn thương và tình yêu giao ước.
Ma-thi-ơ 19:10-12
10 Các môn đồ thưa với Ngài: “Nếu trường hợp của người nam với vợ mình là như vậy, thì thà không cưới vợ còn hơn.”
11 Nhưng Ngài phán với họ: “Không phải ai cũng nhận được lời này, nhưng chỉ những người được ban cho.
12 Vì có những người hoạn từ trong lòng mẹ sinh ra đã như vậy; có những người hoạn do người ta làm ra; và có những người tự làm mình như hoạn vì cớ vương quốc thiên đàng. Ai có thể nhận được, hãy nhận.”
Các môn đồ ngạc nhiên trước sự dạy dỗ mạnh mẽ của Giê-su về hôn nhân và ly dị, nên họ nói rằng nếu hôn nhân nghiêm trọng như vậy, thì có lẽ thà không cưới vợ còn hơn. Giê-su trả lời rằng không phải ai cũng nhận được lời này, nhưng chỉ những người được ban cho. Sau đó, Ngài nói về những lý do khác nhau khiến một số người sống không lập gia đình. Có những người hoạn từ lúc sinh ra, nghĩa là họ tự nhiên không có khả năng hoặc không thích hợp với hôn nhân theo cách thông thường. Có những người bị người ta làm thành hoạn, nghĩa là tình trạng hoặc hoàn cảnh của họ bị ép buộc trên họ. Cũng có những người tự làm mình như hoạn vì cớ vương quốc thiên đàng, nghĩa là họ tự nguyện chọn đời sống độc thân hoặc kiêng giữ để có thể tận hiến cho công việc Đức Chúa Trời cách trọn vẹn hơn. Giê-su không truyền lệnh mọi người phải độc thân, cũng không hạ thấp giá trị của hôn nhân. Ngài cho thấy cả hôn nhân lẫn sự độc thân đều có thể tôn vinh Đức Chúa Trời khi được sống theo ý muốn Ngài. Hôn nhân đòi hỏi sự trung tín và tình yêu giao ước, trong khi sự độc thân vì vương quốc đòi hỏi ân điển, sự tự chủ và sự tận hiến. Mỗi người phải nhận từ Đức Chúa Trời sự kêu gọi và sức mạnh được ban cho mình.
Ma-thi-ơ 19:13-15
13 Bấy giờ, người ta đem các trẻ nhỏ đến với Ngài để Ngài đặt tay trên chúng và cầu nguyện, nhưng các môn đồ quở trách họ.
14 Nhưng Giê-su phán: “Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta, đừng ngăn cấm chúng; vì vương quốc thiên đàng thuộc về những người giống như vậy.”
15 Ngài đặt tay trên chúng rồi rời khỏi đó.
Người ta đem các trẻ nhỏ đến với Giê-su để Ngài đặt tay trên chúng và cầu nguyện, nhưng các môn đồ quở trách họ, có lẽ vì nghĩ rằng trẻ nhỏ không đủ quan trọng hoặc Giê-su quá bận. Giê-su sửa họ và phán: “Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta, đừng ngăn cấm chúng; vì vương quốc thiên đàng thuộc về những người giống như vậy.” Điều này bày tỏ tấm lòng dịu dàng của Giê-su đối với trẻ em và đối với tất cả những ai đến với sự khiêm nhường, đơn sơ và tin cậy. Trẻ em không đến với sự kiêu ngạo, địa vị hay thành tích tôn giáo; chúng chỉ đơn giản tiếp nhận tình yêu và phước lành. Giê-su dạy rằng vương quốc thuộc về những ai đến trong tinh thần đơn sơ như trẻ nhỏ. Điều này cũng nhắc cha mẹ và các tín hữu không được ngăn trở trẻ em đến với Đấng Christ. Trẻ em phải được đem đến gần Giê-su qua sự cầu nguyện, sự dạy dỗ, tình yêu thương, gương mẫu và sự chúc phước. Giê-su quý trọng các em, tiếp nhận các em và ban phước cho các em.
Ma-thi-ơ 19:16-17
16 Kìa, có một người đến thưa với Ngài: “Thưa Thầy tốt lành, tôi phải làm điều tốt gì để được sự sống đời đời?”
17 Ngài phán với người ấy: “Tại sao ngươi gọi Ta là tốt lành? Không ai tốt lành ngoài một Đấng, là Đức Chúa Trời. Nhưng nếu ngươi muốn vào sự sống, hãy giữ các điều răn.”
Một người đến với Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy tốt lành, tôi phải làm điều tốt gì để được sự sống đời đời?” Câu hỏi của ông cho thấy ông đang suy nghĩ theo hướng làm một việc lành nào đó để đạt được sự sống đời đời. Giê-su đáp: “Tại sao ngươi gọi Ta là tốt lành? Không ai tốt lành ngoài một Đấng, là Đức Chúa Trời.” Giê-su không phủ nhận sự tốt lành của chính Ngài, nhưng đang dẫn người ấy suy nghĩ sâu hơn về sự tốt lành thật là gì và đến từ đâu. Chỉ Đức Chúa Trời là tốt lành trong chính Ngài. Mọi sự tốt lành thật đều đến từ Ngài là nguồn. Giê-su, là Con được sinh ra của Đức Chúa Trời, phản chiếu và thừa hưởng trọn vẹn sự tốt lành cùng bản tính thần thượng của Cha, trong khi các loài thọ tạo chỉ tốt lành khi Đức Chúa Trời ngự trong họ và hành động qua họ. Sau đó, Giê-su nói với người ấy: “Nếu ngươi muốn vào sự sống, hãy giữ các điều răn.” Câu trả lời này thử nghiệm sự hiểu biết của người ấy. Giê-su không dạy sự cứu rỗi bằng thành tích của con người, nhưng Ngài đang đưa người ấy đối diện với ý muốn đạo đức của Đức Chúa Trời và chuẩn bị phơi bày vấn đề sâu xa hơn trong lòng ông. Người ấy nghĩ mình đã giữ các điều răn, nhưng Giê-su sắp cho thấy lòng ông vẫn bị trói buộc bởi sự giàu có.
Ma-thi-ơ 19:18-19
18 Người ấy hỏi Ngài: “Những điều răn nào?” Giê-su đáp: “‘Ngươi chớ giết người,’ ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình,’ ‘Ngươi chớ trộm cắp,’ ‘Ngươi chớ làm chứng dối,’
19 ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi,’ và ‘Hãy yêu người lân cận như chính mình.’”
Khi người ấy hỏi phải giữ những điều răn nào, Giê-su liệt kê các điều răn chủ yếu liên quan đến cách chúng ta đối xử với người khác: chớ giết người, chớ phạm tội ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ, và hãy yêu người lân cận như chính mình. Những điều răn này bày tỏ tấm lòng đạo đức của luật pháp Đức Chúa Trời trong các mối quan hệ con người. Giê-su bắt đầu ở đây vì người ấy có lẽ xem mình là người vâng phục bên ngoài. Ông có thể không phải là kẻ giết người, kẻ ngoại tình, kẻ trộm, kẻ nói dối hay người công khai bất hiếu. Nhưng Giê-su không chỉ nhìn vào hành vi bên ngoài; Ngài đang thử nghiệm tấm lòng phía sau sự vâng phục. Sự giữ điều răn thật không chỉ là tránh các tội thấy được, nhưng là sống trong tình yêu thương, lòng thương xót, sự trung thực, sự trung tín và sự đầu phục Đức Chúa Trời. Bằng cách chỉ đến “hãy yêu người lân cận như chính mình,” Giê-su chuẩn bị phơi bày sự gắn bó của người ấy với của cải. Nếu ông thật sự yêu người lân cận và tin cậy Đức Chúa Trời trên hết, ông sẽ sẵn lòng giúp người nghèo và theo Đấng Christ. Vấn đề không chỉ là ông đã làm gì bên ngoài, nhưng điều gì đang cai trị lòng ông bên trong.
Ma-thi-ơ 19:20-22
20 Người thanh niên thưa với Ngài: “Tất cả những điều này tôi đã giữ từ thuở nhỏ. Tôi còn thiếu điều gì?”
21 Giê-su phán với người ấy: “Nếu ngươi muốn nên trọn vẹn, hãy đi, bán những gì mình có và cho người nghèo, ngươi sẽ có của cải ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta.”
22 Nhưng khi người thanh niên nghe lời ấy, ông buồn rầu bỏ đi, vì ông có nhiều của cải.
Người thanh niên nói rằng ông đã giữ tất cả những điều răn này từ thuở nhỏ, nhưng ông vẫn cảm thấy còn thiếu điều gì đó. Câu hỏi: “Tôi còn thiếu điều gì?” cho thấy sự vâng phục bên ngoài chưa đem đến cho ông sự bảo đảm hay sự tự do trọn vẹn. Sau đó, Giê-su bày tỏ thần tượng thật trong lòng ông: tài sản của ông. Ngài bảo ông bán những gì mình có, cho người nghèo, có của cải ở trên trời, và theo Ngài. Đây không phải là mệnh lệnh rằng mọi tín hữu đều phải bán hết mọi thứ theo đúng cách như vậy, nhưng đây là sự thử nghiệm chính xác mà người này cần, vì sự giàu có đã chiếm chỗ của Đức Chúa Trời trong lòng ông. Giê-su đang mời gọi ông ra khỏi sự tự tin nơi bản thân và sự an toàn trên đất để bước vào đời sống môn đồ thật. Nhưng người ấy buồn rầu bỏ đi vì ông có nhiều của cải. Nỗi buồn của ông cho thấy ông muốn sự sống đời đời, nhưng không đủ để đầu phục điều đang kiểm soát mình. Phân đoạn này dạy rằng trở ngại lớn nhất cho sự cứu rỗi không phải lúc nào cũng là sự gian ác bên ngoài; đôi khi đó là sự thờ hình tượng đáng kính—một điều tự nó có thể tốt, nhưng trở nên lớn hơn Đức Chúa Trời trong lòng. Đời sống môn đồ thật nghĩa là Đấng Christ phải cao hơn mọi sự.
Ma-thi-ơ 19:23-26
23 Bấy giờ Giê-su phán với các môn đồ: “Thật, Ta nói với các con, người giàu khó vào vương quốc thiên đàng.
24 Ta lại nói với các con: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời.”
25 Khi các môn đồ nghe vậy, họ vô cùng kinh ngạc và hỏi: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
26 Giê-su nhìn họ và phán: “Đối với loài người, điều này không thể được; nhưng đối với Đức Chúa Trời, mọi sự đều có thể.”
Giê-su nói với các môn đồ rằng người giàu khó vào vương quốc thiên đàng. Sự giàu có có thể dễ dàng tạo ra sự tự tin, kiêu ngạo, tiện nghi, sự xao lãng và sự gắn bó với thế gian này. Sau đó, Giê-su dùng một hình ảnh sống động: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời. “Lỗ kim” tốt nhất nên hiểu là một cây kim may thật, khiến hình ảnh này trở thành điều không thể. Các môn đồ kinh ngạc và hỏi: “Vậy thì ai có thể được cứu?” Trong suy nghĩ của họ, sự giàu có thường được xem là dấu hiệu của phước lành Đức Chúa Trời, nên nếu ngay cả người giàu cũng khó được cứu, thì ai có thể được? Giê-su đáp: “Đối với loài người, điều này không thể được; nhưng đối với Đức Chúa Trời, mọi sự đều có thể.” Điều này bày tỏ trọng tâm của Phúc Âm. Sự cứu rỗi là điều không thể bởi nỗ lực con người, thành tích đạo đức, địa vị tôn giáo hay sự giàu có. Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể phá vỡ quyền lực của tội lỗi, thần tượng, sự kiêu ngạo và sự tự tin nơi bản thân. Một người giàu có thể được cứu, nhưng không phải bằng cách tin cậy nơi của cải; chỉ bởi ân điển và quyền năng biến đổi của Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ 19:27-30
27 Bấy giờ Phi-e-rơ thưa với Ngài: “Kìa, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?”
28 Giê-su phán với họ: “Thật, Ta nói với các con, trong sự tái tạo, khi Con Người ngồi trên ngai vinh quang của Ngài, các con là những người đã theo Ta cũng sẽ ngồi trên mười hai ngai, xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
29 Và bất cứ ai vì danh Ta mà bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, vợ con hay ruộng đất, thì sẽ nhận được gấp trăm lần và thừa hưởng sự sống đời đời.
30 Nhưng nhiều người đầu sẽ trở nên cuối, và người cuối sẽ trở nên đầu.”
Phi-e-rơ đáp lại bằng cách nói rằng các môn đồ đã bỏ mọi sự mà theo Giê-su, và ông hỏi họ sẽ nhận được gì. Giê-su không quở trách ông vì đã hỏi, nhưng bảo đảm rằng không một sự hy sinh nào vì Đấng Christ sẽ bị quên lãng. Trong sự tái tạo, khi Con Người ngồi trên ngai vinh quang của Ngài, các sứ đồ đã theo Ngài sẽ ngồi trên mười hai ngai, xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. “Sự tái tạo” chỉ về sự đổi mới tương lai của muôn vật khi vương quốc của Đấng Christ được bày tỏ trọn vẹn. Sau đó, Giê-su mở rộng lời hứa này vượt ra ngoài các sứ đồ: bất cứ ai vì danh Ngài mà bỏ nhà cửa, gia đình hay ruộng đất sẽ nhận được gấp trăm lần và thừa hưởng sự sống đời đời. Điều này không có nghĩa mọi tín hữu sẽ nhận được của cải thế gian, nhưng Đức Chúa Trời sẽ bù đắp vượt hơn mọi hy sinh bằng các phước lành thuộc linh, gia đình trong vương quốc, sự chu cấp của Ngài và cơ nghiệp đời đời. Giê-su kết thúc bằng câu: “Nhiều người đầu sẽ trở nên cuối, và người cuối sẽ trở nên đầu.” Vương quốc Đức Chúa Trời không đo lường con người bằng địa vị, sự giàu có, danh tiếng hay đặc quyền theo thế gian. Một số người có vẻ đứng đầu bây giờ có thể trở nên cuối nếu lòng họ xa cách Đức Chúa Trời, trong khi những người có vẻ cuối, nghèo khó, thấp hèn hoặc bị lãng quên có thể được Đức Chúa Trời tôn trọng vì họ đã theo Đấng Christ với sự khiêm nhường và đức tin. Sự cao trọng thật không nằm ở điều chúng ta giữ cho mình, nhưng ở điều chúng ta đầu phục cho Đấng Christ.

