
Ma-thi-ơ 22
Ma-thi-ơ 22 trình bày nhiều cuộc đối thoại trong đó Giê-su dạy những lẽ thật sâu sắc về vương quốc thiên đàng, sự cứu rỗi, sự công chính, sự sống lại, tình yêu thương và danh tính thật của Đấng Mê-si. Chương này bắt đầu với ẩn dụ tiệc cưới, cho thấy lời mời của Đức Chúa Trời vào vương quốc Ngài, sự nguy hiểm của việc từ chối lời mời ấy, và nhu cầu phải được mặc lấy sự công chính mà Đức Chúa Trời ban. Sau đó, Giê-su trả lời những câu hỏi khó từ người Pha-ri-si, người Hê-rốt và người Sa-đu-sê, là những người cố gài bẫy Ngài nhưng lại bị sự khôn ngoan của Ngài làm cho im lặng. Ngài dạy về mối quan hệ đúng đắn giữa trách nhiệm trên đất và lòng trung thành với Đức Chúa Trời, xác nhận sự sống lại, tóm tắt toàn bộ luật pháp trong tình yêu đối với Đức Chúa Trời và người lân cận, và cuối cùng bày tỏ rằng Đấng Christ không chỉ là Con của Đa-vít, nhưng cũng là Chúa của Đa-vít, Con thần thượng của Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ 22:1-14
1 Giê-su lại dùng ẩn dụ phán với họ rằng:
2 “Vương quốc thiên đàng giống như một vua kia tổ chức tiệc cưới cho con trai mình.
3 Vua sai các đầy tớ đi gọi những người đã được mời đến dự tiệc cưới, nhưng họ không muốn đến.
4 Vua lại sai những đầy tớ khác và nói: ‘Hãy nói với những người được mời rằng: Kìa, ta đã chuẩn bị bữa tiệc; bò và thú béo đã làm thịt, mọi sự đã sẵn sàng. Hãy đến dự tiệc cưới.’
5 Nhưng họ xem thường lời mời, rồi đi đường mình, người thì ra ruộng, người thì đi buôn bán.
6 Những người còn lại thì bắt các đầy tớ, đối xử tàn tệ và giết họ.
7 Khi vua nghe điều đó, ông nổi giận, sai quân đội tiêu diệt những kẻ giết người ấy và đốt thành của họ.
8 Bấy giờ vua nói với các đầy tớ: ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng, nhưng những người được mời không xứng đáng.
9 Vậy hãy đi ra các ngã đường, gặp ai thì mời người ấy đến dự tiệc cưới.’
10 Các đầy tớ đi ra các ngã đường, tập hợp tất cả những người họ gặp, cả xấu lẫn tốt; và phòng tiệc cưới đầy khách dự tiệc.
11 Nhưng khi vua vào xem khách dự tiệc, ông thấy tại đó có một người không mặc áo cưới.
12 Vua hỏi người ấy: ‘Bạn ơi, sao bạn vào đây mà không mặc áo cưới?’ Người ấy im lặng.
13 Bấy giờ vua nói với các đầy tớ: ‘Hãy trói tay chân người ấy, đem ra ngoài nơi tối tăm; tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.’
14 Vì nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn.”
Giê-su so sánh vương quốc thiên đàng với một vua chuẩn bị tiệc cưới cho con trai mình. Vua tượng trưng cho Đức Chúa Trời, người con trai tượng trưng cho Đấng Christ, còn tiệc cưới tượng trưng cho lời mời vui mừng để bước vào vương quốc Đức Chúa Trời và được hiệp thông với Đấng Christ. Những người được mời trước tiên tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên, đặc biệt là các lãnh đạo tôn giáo, là những người đã được Đức Chúa Trời kêu gọi qua các tiên tri nhưng không muốn đến. Một số người xem nhẹ lời mời vì bận rộn với ruộng đất hoặc việc buôn bán, bày tỏ sự thờ ơ đối với những điều thuộc linh; những người khác thì đối xử tàn tệ và giết các đầy tớ, tượng trưng cho việc họ chối bỏ và bắt bớ các sứ giả của Đức Chúa Trời. Việc thành bị đốt chỉ về sự phán xét và có thể được hiểu như một lời cảnh báo tiên tri về sự hủy phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 SCN sau khi dân tộc ấy chối bỏ Đấng Mê-si. Tuy nhiên, lời mời của Đức Chúa Trời không dừng lại tại đó. Các đầy tớ được sai ra các ngã đường để mời tất cả những ai họ gặp, cả xấu lẫn tốt, cho thấy Phúc Âm vượt ra ngoài Y-sơ-ra-ên và được ban cách nhưng không cho mọi người, bất kể bối cảnh, tội lỗi quá khứ hay địa vị xã hội.
Tuy nhiên, người không mặc áo cưới cho thấy chỉ chấp nhận lời mời bên ngoài là chưa đủ. Áo cưới tượng trưng cho sự công chính của Đấng Christ, là điều Đức Chúa Trời cung cấp và phải được tiếp nhận bởi đức tin. Người này cố ở lại trong tiệc cưới mà không mặc lấy điều vua đã ban, tượng trưng cho những người cố bước vào vương quốc Đức Chúa Trời bằng sự công chính riêng, tôn giáo bên ngoài hoặc sự tự tin nơi bản thân, thay vì tiếp nhận sự công chính của Đấng Christ. Sự im lặng của người ấy cho thấy người ấy không có lời bào chữa. Giê-su kết luận: “Nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn,” nghĩa là lời mời của Đức Chúa Trời được ban rộng rãi, nhưng chỉ những ai thật sự đáp lại bằng đức tin, sự khiêm nhường, sự ăn năn và sự tiếp nhận điều Đức Chúa Trời cung cấp mới là người được chọn. Sự cứu rỗi được ban cách nhưng không, nhưng không ai có thể đứng trước mặt Đức Chúa Trời nếu không mặc áo công chính của Đấng Christ.
Ma-thi-ơ 22:15-17
15 Bấy giờ những người Pha-ri-si đi bàn mưu để gài bẫy Ngài trong lời nói.
16 Họ sai các môn đồ mình cùng với những người Hê-rốt đến với Ngài và nói: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, dạy đường lối Đức Chúa Trời cách chân thật, và không vị nể ai, vì Thầy không nhìn theo bề ngoài của người ta.
17 Vậy xin cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có hợp pháp để nộp thuế cho Sê-sa hay không?”
Những người Pha-ri-si lập mưu để gài bẫy Giê-su bằng lời nói, và họ sai các môn đồ của mình cùng với những người Hê-rốt đến với Ngài. Điều này khá đặc biệt vì người Pha-ri-si là những người bảo thủ tôn giáo, không ưa sự cai trị của La Mã, còn người Hê-rốt thì ủng hộ hệ thống chính trị liên kết với La Mã. Tuy nhiên, cả hai nhóm lại hiệp lại chống Giê-su. Họ bắt đầu bằng lời nịnh hót, nói rằng Ngài chân thật, dạy đường lối Đức Chúa Trời cách chân thật, và không thiên vị ai. Những lời ấy thật ra đúng, nhưng lòng họ thì giả dối. Họ hỏi có hợp pháp để nộp thuế cho Sê-sa hay không, hy vọng đẩy Giê-su vào nguy hiểm. Nếu Ngài nói có, nhiều người Do Thái có thể cáo buộc Ngài ủng hộ sự áp bức của La Mã. Nếu Ngài nói không, người La Mã có thể cáo buộc Ngài phản loạn. Câu hỏi của họ cho thấy các quyền lực tôn giáo và chính trị có thể liên kết với nhau khi họ cảm thấy bị lẽ thật đe dọa. Họ không tìm kiếm sự khôn ngoan; họ đang cố hủy diệt Ngài.
Ma-thi-ơ 22:18-22
18 Nhưng Giê-su nhận biết sự gian ác của họ và phán: “Hỡi những kẻ giả hình, tại sao các ông thử Ta?
19 Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế.” Họ đem đến cho Ngài một đồng đơ-ni-ê.
20 Ngài hỏi họ: “Hình và dòng chữ này là của ai?”
21 Họ đáp: “Của Sê-sa.” Ngài phán với họ: “Vậy, hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.”
22 Khi nghe những lời ấy, họ kinh ngạc, rồi bỏ Ngài mà đi.
Giê-su nhìn thấu sự gian ác của họ và gọi họ là những kẻ giả hình. Ngài bảo họ đưa cho Ngài đồng tiền nộp thuế, và khi họ đem đến một đồng đơ-ni-ê, Ngài hỏi hình và dòng chữ trên đó là của ai. Họ đáp: “Của Sê-sa.” Giê-su phán: “Vậy, hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.” Câu trả lời này tránh được cái bẫy của họ và dạy một nguyên tắc sâu sắc. Vì hình của Sê-sa ở trên đồng tiền, thuế có thể được nộp cho chính quyền trần thế trong phạm vi thẩm quyền chính đáng của họ. Nhưng con người mang hình ảnh Đức Chúa Trời, nên lòng trung thành cao nhất, sự thờ phượng, sự vâng phục và toàn bộ đời sống của chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời. Giê-su không dạy sự vâng phục mù quáng đối với chính quyền trên Đức Chúa Trời; Ngài dạy trách nhiệm đúng đắn. Chúng ta có thể trao cho chính quyền dân sự điều thuộc về họ, nhưng không bao giờ được trao cho họ điều chỉ thuộc về Đức Chúa Trời. Câu trả lời của Ngài làm kẻ thù im lặng và bày tỏ sự khôn ngoan thần thượng: các tín hữu nên là công dân có trách nhiệm, nhưng lòng trung thành tối cao của họ luôn thuộc về Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ 22:23-28
23 Cùng ngày đó, những người Sa-đu-sê, là những người nói rằng không có sự sống lại, đến hỏi Ngài rằng:
24 “Thưa Thầy, Môi-se đã nói: nếu một người chết mà không có con, thì em trai người ấy phải cưới vợ góa của anh mình để sinh dòng dõi cho anh.
25 Trong chúng tôi có bảy anh em. Người thứ nhất cưới vợ rồi chết, không có con, nên để vợ lại cho em mình.
26 Người thứ hai cũng vậy, rồi người thứ ba, cho đến người thứ bảy.
27 Sau cùng, người đàn bà ấy cũng chết.
28 Vậy, trong sự sống lại, nàng sẽ là vợ của ai trong bảy người? Vì tất cả đều đã cưới nàng.”
Những người Sa-đu-sê đến với Giê-su bằng một câu hỏi về sự sống lại, dù chính họ không tin sự sống lại. Họ dùng luật hôn nhân thế huynh, trong đó em trai phải cưới vợ góa của anh mình để sinh dòng dõi cho anh, rồi họ tạo ra một ví dụ cực đoan về một người phụ nữ đã lần lượt kết hôn với bảy anh em. Mục đích của họ không phải là hiểu lẽ thật, nhưng là làm cho sự sống lại có vẻ ngu dại và không thể xảy ra. Giống như nhiều lập luận vô tín, câu hỏi của họ giả định rằng đời sống tương lai phải hoạt động y như đời sống hiện tại. Họ cố dùng Kinh Thánh để chống lại Giê-su, nhưng họ không hiểu ý nghĩa thật của Kinh Thánh hay quyền năng của Đức Chúa Trời. Câu hỏi của họ cho thấy các lập luận trí thức có thể nghe có vẻ thông minh nhưng vẫn mù lòa thuộc linh.
Ma-thi-ơ 22:29-33
29 Giê-su đáp: “Các ông lầm rồi, vì không biết Kinh Thánh cũng không biết quyền năng của Đức Chúa Trời.
30 Vì trong sự sống lại, người ta không cưới vợ cũng không gả chồng, nhưng giống như các thiên sứ của Đức Chúa Trời ở trên trời.
31 Còn về sự sống lại của người chết, các ông chưa đọc điều Đức Chúa Trời đã phán với các ông sao:
32 ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp’? Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống.”
33 Khi đoàn dân nghe điều đó, họ kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài.
Giê-su nói thẳng với những người Sa-đu-sê rằng họ lầm vì không biết Kinh Thánh cũng không biết quyền năng của Đức Chúa Trời. Đây là gốc rễ của nhiều niềm tin sai lầm: hiểu sai lời Đức Chúa Trời và đánh giá thấp điều Đức Chúa Trời có thể làm. Giê-su giải thích rằng trong sự sống lại, người ta không cưới vợ cũng không gả chồng, nhưng giống như các thiên sứ của Đức Chúa Trời ở trên trời. Điều này không có nghĩa loài người trở thành thiên sứ, nhưng nghĩa là đời sống phục sinh sẽ khác với đời sống trên đất, và hôn nhân như chúng ta biết hiện nay sẽ không còn cần thiết nữa. Sau đó, Giê-su chứng minh sự sống lại từ Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, nơi Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Đức Chúa Trời không phán: “Ta đã từng là Đức Chúa Trời của họ,” như thể mối quan hệ của Ngài với họ đã kết thúc mãi mãi. Ngài vẫn là Đức Chúa Trời của họ, và Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống. Điều này cho thấy các tổ phụ vẫn sống đối với Đức Chúa Trời trong mục đích của Ngài và sẽ được phục sinh bởi quyền năng của Ngài. Câu trả lời của Giê-su xác nhận thực tại của sự sống lại và cho thấy sự sống đời đời không chỉ là sự tiếp tục của các sắp xếp trên đất, nhưng là một đời sống được biến đổi trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đoàn dân kinh ngạc vì Giê-su trả lời bằng cả Kinh Thánh và thẩm quyền.
Ma-thi-ơ 22:34-36
34 Khi những người Pha-ri-si nghe rằng Ngài đã làm cho người Sa-đu-sê im lặng, họ nhóm lại.
35 Một người trong số họ, là chuyên gia luật pháp, hỏi Ngài để thử Ngài rằng:
36 “Thưa Thầy, điều răn nào là lớn nhất trong luật pháp?”
Sau khi Giê-su làm cho người Sa-đu-sê im lặng, những người Pha-ri-si nhóm lại và sai một chuyên gia luật pháp đến thử Ngài bằng một câu hỏi khác. Người ấy hỏi điều răn nào là lớn nhất trong luật pháp. Giữa các giáo sư Do Thái, có nhiều cuộc thảo luận về điều răn nào quan trọng hơn hoặc nặng ký hơn. Người Pha-ri-si có thể hy vọng rằng câu trả lời của Giê-su sẽ khiến Ngài có vẻ xem nhẹ một phần của luật pháp hoặc gây tranh cãi. Nhưng một lần nữa, Giê-su không rơi vào cái bẫy của họ. Thay vào đó, Ngài đưa ra câu trả lời bày tỏ tấm lòng và mục đích của toàn bộ luật pháp. Điều này cho thấy các điều răn của Đức Chúa Trời không phải là một danh sách rời rạc các luật lệ, nhưng được hiệp nhất bởi một nguyên tắc trung tâm: tình yêu thương.
Ma-thi-ơ 22:37-38
37 Giê-su phán với người ấy: “‘Ngươi phải yêu Chúa là Đức Chúa Trời ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn.’
38 Đây là điều răn thứ nhất và lớn nhất.”
Giê-su trả lời bằng cách trích Phục Truyền 6:5: “Ngươi phải yêu Chúa là Đức Chúa Trời ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn.” Đây là điều răn thứ nhất và lớn nhất vì mọi sự vâng phục thật bắt đầu bằng tình yêu đối với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không chỉ muốn các hành động tôn giáo bên ngoài, nhưng muốn cả con người—tấm lòng, linh hồn và trí khôn. Yêu Đức Chúa Trời hết lòng nghĩa là tình cảm và ước muốn của chúng ta thuộc về Ngài. Yêu Ngài hết linh hồn nghĩa là đời sống và toàn bộ bản thể của chúng ta được đầu phục Ngài. Yêu Ngài hết trí khôn nghĩa là tư tưởng, sự hiểu biết và các lựa chọn của chúng ta được đặt dưới lẽ thật của Ngài. Điều răn này cho thấy sự thờ phượng thật không chỉ là nghi lễ, truyền thống hay sự vâng phục bên ngoài, nhưng là một mối quan hệ sống động của sự tận hiến trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Nếu không có tình yêu đối với Đức Chúa Trời, ngay cả các việc tôn giáo cũng trở nên trống rỗng.
Ma-thi-ơ 22:39-40
39 “Điều răn thứ hai cũng giống như vậy: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’
40 Toàn bộ Luật Pháp và các Tiên Tri đều treo trên hai điều răn này.”
Sau đó, Giê-su đưa ra điều răn lớn thứ hai: “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình,” trích từ Lê-vi Ký 19:18. Điều răn này giống điều răn thứ nhất vì tình yêu thật đối với Đức Chúa Trời luôn sinh ra tình yêu đối với người khác. Một người không thể thật sự yêu Đức Chúa Trời trong khi khinh thường, lợi dụng hoặc làm hại những người được dựng nên theo hình ảnh Ngài. Giê-su nói rằng toàn bộ Luật Pháp và các Tiên Tri đều treo trên hai điều răn này. Điều này có nghĩa toàn bộ sứ điệp đạo đức của Cựu Ước tùy thuộc vào tình yêu đối với Đức Chúa Trời và tình yêu đối với người khác. Các điều răn không bị hủy bỏ bởi tình yêu; đúng hơn, tình yêu là tinh thần thật và sự làm trọn của chúng. Tình yêu đối với Đức Chúa Trời gìn giữ sự thờ phượng, lòng trung thành và sự thánh khiết. Tình yêu đối với người lân cận gìn giữ lòng thương xót, công lý, sự trung thực, sự trung tín và lòng cảm thông. Giê-su cho thấy luật pháp Đức Chúa Trời không chỉ nói về các quy tắc bên ngoài, nhưng về tính cách của Đức Chúa Trời được tái hiện trong dân Ngài.
Ma-thi-ơ 22:41-42
41 Khi những người Pha-ri-si đang nhóm lại, Giê-su hỏi họ:
42 “Các ông nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là Con của ai?” Họ đáp: “Con của Đa-vít.”
Sau khi trả lời các câu hỏi của họ, Giê-su bây giờ hỏi người Pha-ri-si một câu hỏi: “Các ông nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là Con của ai?” Họ trả lời đúng nhưng chưa đầy đủ: “Con của Đa-vít.” Đấng Mê-si thật sự được hứa sẽ đến từ dòng dõi hoàng gia Đa-vít, và đây là một sự mong đợi đúng theo Kinh Thánh. Tuy nhiên, Giê-su đang dẫn họ thấy rằng Đấng Mê-si không chỉ là một hậu duệ loài người của Đa-vít. Câu hỏi quan trọng nhất mà bất cứ ai có thể trả lời là họ nghĩ gì về Đấng Christ. Một người có thể biết nhiều giáo lý, luật pháp và lời tiên tri, nhưng nếu hiểu sai Đấng Christ là ai, người ấy sẽ bỏ lỡ trung tâm của sự mặc khải Đức Chúa Trời. Bây giờ Giê-su đưa họ đến một sự hiểu biết sâu hơn về danh tính của Đấng Mê-si.
Ma-thi-ơ 22:43-45
43 Ngài phán với họ: “Vậy sao Đa-vít bởi Thần Linh gọi Ngài là ‘Chúa,’ khi nói rằng:
44 ‘Chúa phán với Chúa tôi:
Hãy ngồi bên hữu Ta,
cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của Con làm bệ chân Con’?
45 Vậy nếu Đa-vít gọi Ngài là ‘Chúa,’ thì làm sao Ngài là Con của Đa-vít?”
Giê-su trích Thi Thiên 110:1, nơi Đa-vít, bởi Thần Linh, nói: “Chúa phán với Chúa tôi: ‘Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của Con làm bệ chân Con.’” Người Pha-ri-si tin rằng Đấng Mê-si sẽ là Con của Đa-vít, nghĩa là một hậu duệ từ dòng dõi hoàng gia của Đa-vít, và điều đó đúng theo xác thịt (Ma-thi-ơ 1:1; Lu-ca 1:32-33). Nhưng Giê-su hỏi vì sao Đa-vít lại gọi Đấng Mê-si là “Chúa.” Thông thường, tổ phụ được xem là lớn hơn con cháu của mình, nên việc Đa-vít gọi Đấng Mê-si là “Chúa tôi” cho thấy Đấng Mê-si lớn hơn Đa-vít. Giê-su đang bày tỏ rằng Đấng Christ không chỉ là Con của Đa-vít; Ngài cũng là Chúa của Đa-vít. Ngài thật sự là con người qua dòng dõi Đa-vít, nhưng cũng là Đấng thần thượng, Con Đức Chúa Trời, Đấng hiện hữu trước khi nhập thể (Giăng 1:1-3, 14; Rô-ma 1:3-4). Cha mời Ngài ngồi bên hữu Ngài, cho thấy Cha đã ban cho Đấng Christ sự tôn trọng tối cao, thẩm quyền và chiến thắng trên các kẻ thù của Ngài (Công Vụ 2:32-36; Hê-bơ-rơ 1:3-4). Câu hỏi này phơi bày sự hiểu biết giới hạn của người Pha-ri-si về Kinh Thánh và chỉ đến danh tính đầy đủ của Giê-su: Đấng Mê-si đã được hứa, Con của Đa-vít, Con Đức Chúa Trời, được Cha tôn cao để cai trị, cứu chuộc và đặt mọi sự dưới chân Ngài.
Ma-thi-ơ 22:46
46 Không ai có thể đáp lại Ngài một lời; và từ ngày đó, không ai dám hỏi Ngài điều gì nữa.
Không ai có thể đáp lại Giê-su một lời, và từ ngày đó trở đi, không ai còn dám công khai chất vấn Ngài theo cách ấy nữa. Người Pha-ri-si, Sa-đu-sê, Hê-rốt và các chuyên gia luật pháp đều cố gài bẫy Ngài, nhưng mỗi câu hỏi chỉ càng bày tỏ sự khôn ngoan, thẩm quyền và sự hiểu biết Kinh Thánh của Ngài. Giê-su không chỉ là một thầy dạy giữa nhiều thầy dạy; Ngài phán với thẩm quyền thần thượng vì Ngài biết Cha, làm ứng nghiệm Kinh Thánh và bày tỏ lẽ thật cách trọn vẹn. Sự im lặng cuối cùng này cho thấy kẻ thù của Ngài không thể đánh bại Ngài bằng lý luận. Dù họ vẫn sẽ chối bỏ Ngài và âm mưu giết Ngài, họ không thể thắng hơn sự khôn ngoan của Ngài. Vì vậy, Ma-thi-ơ 22 kết thúc bằng cách cho thấy Giê-su là Con của Vua, Đấng ban sự công chính thật, Chúa của sự sống lại, Đấng giải thích luật pháp, và Đấng Mê-si vừa là Con của Đa-vít vừa là Chúa của Đa-vít.

