
Ma-thi-ơ 27
Ma-thi-ơ 27 mô tả những sự kiện dẫn đến việc Giê-su bị đóng đinh, chết, được chôn cất, và ngôi mộ của Ngài bị niêm phong. Chương này bắt đầu với việc các lãnh đạo tôn giáo giao Giê-su cho Phi-lát, rồi cho thấy sự hối hận của Giu-đa, phiên tòa xét xử Giê-su, việc thả Ba-ra-ba, sự nhạo báng của lính La Mã, sự đóng đinh tại Gô-gô-tha, và những dấu lạ xảy ra khi Giê-su chết. Chương này cũng ghi lại sự trung tín của những người phụ nữ đứng nhìn từ xa, sự chăm sóc của Giô-sép người A-ri-ma-thê khi chôn cất Giê-su, và nỗ lực của các lãnh đạo tôn giáo nhằm canh giữ ngôi mộ. Chương này cho thấy sự bất công mà Giê-su phải chịu, sự ứng nghiệm lời tiên tri, sự yếu đuối và tội lỗi của con người, cùng sự trung tín của Giê-su khi Ngài phó chính mình vì nhân loại.
Ma-thi-ơ 27:1-2
1 Đến sáng, tất cả các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân bàn mưu chống lại Giê-su để giết Ngài.
2 Họ trói Ngài lại, giải đi và giao cho Phi-lát, quan tổng đốc.
Các thầy tế lễ cả và các trưởng lão đã quyết định rằng Giê-su phải chết, nên đến sáng họ trói Ngài và đem Ngài đến cho Bôn-xơ Phi-lát, quan tổng đốc La Mã. Vì các lãnh đạo Do Thái không có trọn quyền thi hành án đóng đinh, họ cần sự chấp thuận của La Mã để xử tử Giê-su theo cách đó. Điều này cho thấy họ quyết tâm loại bỏ Giê-su, dù Ngài vô tội. Khi giao Ngài cho Phi-lát, họ đối xử với Ngài như một tội phạm, nhưng hành động của họ vẫn đang dẫn đến sự ứng nghiệm chương trình của Đức Chúa Trời và những lời tiên tri về Đấng Mê-si-a chịu khổ.
Ma-thi-ơ 27:3-10
3 Bấy giờ Giu-đa, kẻ phản Ngài, thấy Ngài đã bị kết án, thì hối hận và đem trả lại ba mươi miếng bạc cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão,
4 mà nói: “Tôi đã phạm tội vì đã phản nộp huyết vô tội.” Nhưng họ nói: “Can gì đến chúng ta? Ngươi tự lo lấy!”
5 Giu-đa ném các miếng bạc vào đền thờ, rồi bỏ đi và treo cổ tự tử.
6 Các thầy tế lễ cả lấy các miếng bạc ấy và nói: “Không được bỏ vào kho đền thờ, vì đó là giá của huyết.”
7 Sau khi bàn bạc, họ dùng tiền ấy mua ruộng của người thợ gốm để làm nơi chôn cất người ngoại quốc.
8 Vì vậy ruộng ấy được gọi là Ruộng Huyết cho đến ngày nay.
9 Bấy giờ lời của tiên tri Giê-rê-mi được ứng nghiệm rằng: “Họ lấy ba mươi miếng bạc, là giá của Đấng đã bị định giá, giá mà con cái Y-sơ-ra-ên đã định cho Ngài,
10 và dùng số bạc ấy mua ruộng của người thợ gốm, như Chúa đã truyền cho tôi.”
Khi Giu-đa thấy Giê-su bị kết án, ông hối hận và đem trả lại ba mươi miếng bạc cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, nói rằng: “Tôi đã phạm tội vì đã phản nộp huyết vô tội.” Giu-đa nhận ra Giê-su là vô tội, nhưng sự hối hận của ông không dẫn ông đến sự ăn năn thật và đức tin nơi lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ không hề thương xót, nhưng nói với ông: “Can gì đến chúng ta? Ngươi tự lo lấy!” Rồi Giu-đa ném tiền vào đền thờ, bỏ đi và treo cổ tự tử. Các thầy tế lễ biết số tiền ấy là “giá của huyết,” nên họ không bỏ vào kho đền thờ, nhưng họ lại không thấy có vấn đề gì khi dùng nó để kết án một Người vô tội. Họ dùng tiền ấy mua ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất người ngoại quốc, làm ứng nghiệm lời tiên tri. Phân đoạn này cho thấy kết quả khủng khiếp của sự phản bội, tội lỗi và tuyệt vọng, đồng thời cũng cho thấy sự giả hình của các lãnh đạo tôn giáo, những người quan tâm đến luật lệ nghi lễ nhưng lại bỏ qua công lý, lòng thương xót và lẽ thật.
Ma-thi-ơ 27:11-14
11 Giê-su đứng trước quan tổng đốc. Quan hỏi Ngài rằng: “Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” Giê-su đáp: “Chính ông nói đó.”
12 Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài không trả lời gì cả.
13 Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi không nghe họ làm chứng biết bao nhiêu điều chống lại Ngươi sao?”
14 Nhưng Ngài không trả lời ông một lời nào, khiến quan tổng đốc rất ngạc nhiên.
Giê-su đứng trước Phi-lát, và Phi-lát hỏi Ngài: “Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” Giê-su đáp: “Chính ông nói đó,” nhưng khi các thầy tế lễ cả và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài vẫn im lặng. Sự im lặng của Ngài cho thấy sự vô tội, bình tĩnh và thuận phục ý muốn của Cha. Ngài không tranh cãi cách tuyệt vọng hay tự bào chữa trước những lời cáo buộc giả dối của họ, vì Ngài biết mình đang bước đi trên con đường Đức Chúa Trời cho phép. Phi-lát ngạc nhiên vì Giê-su không hành động như những người bị cáo khác thường tìm cách cứu lấy mình. Giây phút này bày tỏ phẩm giá, sự tự chủ và sự sẵn lòng chịu khổ cách bất công của Giê-su mà không lấy ác trả ác.
Ma-thi-ơ 27:15-26
15 Vào dịp lễ, quan tổng đốc thường thả cho dân chúng một tù nhân nào họ muốn.
16 Lúc ấy có một tù nhân nổi tiếng tên là Ba-ra-ba.
17 Vậy khi dân chúng nhóm lại, Phi-lát hỏi họ: “Các ngươi muốn ta thả ai cho các ngươi? Ba-ra-ba hay Giê-su, gọi là Đấng Christ?”
18 Vì ông biết họ nộp Ngài vì lòng ganh ghét.
19 Khi Phi-lát đang ngồi trên ghế xét xử, vợ ông sai người đến nói với ông: “Đừng can dự gì đến Người công chính ấy, vì hôm nay trong giấc mộng, tôi đã chịu nhiều điều khổ sở vì Người.”
20 Nhưng các thầy tế lễ cả và các trưởng lão xúi giục dân chúng xin thả Ba-ra-ba và giết Giê-su.
21 Quan tổng đốc hỏi họ: “Trong hai người này, các ngươi muốn ta thả ai?” Họ nói: “Ba-ra-ba!”
22 Phi-lát hỏi họ: “Vậy ta phải làm gì với Giê-su, gọi là Đấng Christ?” Tất cả đều nói: “Hãy đóng đinh hắn!”
23 Quan nói: “Vì sao? Người này đã làm điều ác gì?” Nhưng họ càng la lớn hơn: “Hãy đóng đinh hắn!”
24 Khi Phi-lát thấy mình không thể làm gì được, mà sự náo động lại càng tăng, ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: “Ta vô tội về huyết của Người công chính này. Các ngươi tự lo lấy!”
25 Cả dân chúng đáp: “Huyết của hắn đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi!”
26 Rồi Phi-lát thả Ba-ra-ba cho họ; còn Giê-su, sau khi sai đánh đòn, thì giao Ngài cho họ đem đi đóng đinh.
Phi-lát cố gắng thả Giê-su bằng cách cho đám đông chọn giữa Giê-su và Ba-ra-ba, một tù nhân nổi tiếng. Phi-lát biết các lãnh đạo tôn giáo nộp Giê-su vì lòng ganh ghét, và ngay cả vợ Phi-lát cũng cảnh báo ông đừng can dự gì đến “Người công chính ấy” vì một giấc mộng gây đau khổ cho bà. Nhưng các thầy tế lễ cả và các trưởng lão xúi giục đám đông xin thả Ba-ra-ba và đòi đóng đinh Giê-su. Phi-lát hỏi Giê-su đã làm điều ác gì, nhưng đám đông chỉ càng la lớn hơn: “Hãy đóng đinh hắn!” Rồi Phi-lát rửa tay trước dân chúng, cố tỏ ra mình vô tội về huyết của Giê-su, nhưng việc rửa tay không thể xóa trách nhiệm của ông. Ông chọn sự an toàn chính trị thay vì công lý. Dân chúng nhận trách nhiệm khi nói: “Huyết của hắn đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi.” Sau đó Phi-lát thả Ba-ra-ba, sai đánh đòn Giê-su, rồi giao Ngài đi đóng đinh. Cảnh này cho thấy sự bất công trong việc kết án Giê-su: người có tội được thả, còn Đấng Christ vô tội bị giao nộp để chết.
Ma-thi-ơ 27:27-31
27 Bấy giờ lính của quan tổng đốc đem Giê-su vào dinh tổng đốc và tập hợp cả đội quân quanh Ngài.
28 Họ lột áo Ngài ra và khoác cho Ngài một áo choàng đỏ.
29 Họ kết một mão bằng gai đặt trên đầu Ngài, và đặt một cây sậy trong tay phải Ngài. Rồi họ quỳ xuống trước mặt Ngài, nhạo báng rằng: “Kính chào Vua dân Do Thái!”
30 Họ nhổ vào Ngài, lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài.
31 Sau khi nhạo báng Ngài, họ cởi áo choàng ra, mặc lại áo của Ngài, rồi dẫn Ngài đi đóng đinh.
Lính La Mã đem Giê-su vào dinh tổng đốc và nhạo báng Ngài cách tàn nhẫn. Họ lột áo Ngài, khoác cho Ngài một áo choàng đỏ, đặt mão gai trên đầu Ngài, và đưa cho Ngài một cây sậy như thể đó là vương trượng. Rồi họ quỳ xuống trước Ngài để chế nhạo, nói rằng: “Kính chào Vua dân Do Thái!” Họ nhổ vào Ngài và lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài. Cảnh này cho thấy cả sự đau đớn thể xác lẫn sự sỉ nhục sâu sắc. Những người lính nghĩ rằng họ đang chế nhạo một tù nhân thất bại, nhưng thật ra họ đang chế nhạo Vị Vua thật. Sự tàn nhẫn của họ cũng phản chiếu lời tiên tri về Đấng Mê-si-a chịu khổ trong Ê-sai 53, Đấng sẽ bị khinh dể, bị từ bỏ và bị đối xử nhục nhã. Giê-su âm thầm chịu sự ngược đãi này như một phần trong con đường chịu khổ của Ngài.
Ma-thi-ơ 27:32-37
32 Khi đi ra, họ gặp một người Sy-ren tên là Si-môn. Họ ép người ấy vác thập tự giá cho Ngài.
33 Khi đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là Nơi Sọ,
34 họ cho Ngài uống rượu chua pha với mật đắng. Nhưng khi nếm rồi, Ngài không chịu uống.
35 Sau khi đóng đinh Ngài, họ chia áo Ngài bằng cách bắt thăm, để ứng nghiệm lời tiên tri: “Chúng chia áo Ta cho nhau, và bắt thăm áo xống Ta.”
36 Rồi họ ngồi đó canh giữ Ngài.
37 Phía trên đầu Ngài, họ đặt bảng ghi tội danh: ĐÂY LÀ GIÊ-SU, VUA DÂN DO THÁI.
Khi Giê-su bị dẫn đến Gô-gô-tha, Si-môn người Sy-ren bị ép vác thập tự giá của Ngài. Tại nơi đóng đinh, họ cho Giê-su uống rượu chua pha với mật đắng, nhưng Ngài không chịu uống. Ngài chọn đối diện với sự đau khổ trong sự tỉnh thức trọn vẹn, không dùng điều gì để làm giảm cảm giác đau đớn. Rồi họ đóng đinh Ngài và chia áo Ngài bằng cách bắt thăm, làm ứng nghiệm Thi Thiên 22:18. Những người lính ngồi đó canh giữ Ngài, trong khi bảng tội danh phía trên đầu Ngài ghi rằng: “ĐÂY LÀ GIÊ-SU, VUA DÂN DO THÁI.” Danh hiệu này được viết như một lời buộc tội và có lẽ để chế nhạo, nhưng nó nói lên sự thật: Giê-su thật sự là Vua. Ngay trong sự sỉ nhục của Ngài, lời Đức Chúa Trời vẫn được ứng nghiệm, và thân phận thật của Ngài vẫn được công bố.
Ma-thi-ơ 27:38-44
38 Bấy giờ có hai tên cướp bị đóng đinh với Ngài, một tên bên phải và một tên bên trái.
39 Những kẻ đi ngang qua mắng nhiếc Ngài, lắc đầu
40 và nói: “Ngươi là kẻ phá đền thờ và xây lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi! Nếu Ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi thập tự giá!”
41 Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng nhạo báng Ngài như vậy, nói rằng:
42 “Hắn đã cứu người khác, mà không cứu được chính mình. Nếu hắn là Vua Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi thập tự giá, rồi chúng ta sẽ tin hắn.
43 Hắn tin cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu hắn, hãy giải cứu hắn bây giờ, vì hắn đã nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’”
44 Ngay cả những tên cướp bị đóng đinh với Ngài cũng sỉ nhục Ngài như vậy.
Giê-su bị đóng đinh giữa hai tên cướp, cho thấy Ngài bị kể chung với những kẻ phạm pháp và bị đối xử như một tội nhân. Những người đi ngang qua chế nhạo Ngài, bảo Ngài hãy tự cứu mình nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ cả, thầy thông giáo và trưởng lão cũng nhạo báng Ngài, nói rằng Ngài đã cứu người khác nhưng không cứu được chính mình. Họ nói họ sẽ tin nếu Ngài xuống khỏi thập tự giá, nhưng lời nói của họ bày tỏ sự mù lòa thuộc linh. Nếu Giê-su xuống khỏi thập tự giá để cứu chính mình, Ngài sẽ không hoàn thành sứ mạng cứu người khác. Ban đầu, ngay cả hai tên cướp cũng cùng chế nhạo Ngài. Nhưng sau đó Lu-ca cho thấy một tên cướp đã thay đổi lòng mình và xin Giê-su nhớ đến ông khi Ngài vào vương quốc của Ngài, và Giê-su ban cho ông niềm hy vọng. Cảnh này cho thấy sự sỉ nhục sâu sắc mà Giê-su chịu đựng, nhưng cũng cho thấy lòng thương xót có thể chạm đến cả một tội nhân sắp chết khi người ấy quay về với Ngài trong đức tin.
Ma-thi-ơ 27:45-50
45 Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, bóng tối bao phủ khắp xứ.
46 Khoảng giờ thứ chín, Giê-su kêu lớn tiếng rằng: “Ê-li, Ê-li, la-ma sa-bách-tha-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời của Con, Đức Chúa Trời của Con, sao Ngài lìa bỏ Con?”
47 Một số người đứng đó nghe vậy thì nói: “Người này đang gọi Ê-li!”
48 Lập tức, một người trong bọn họ chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy rượu chua, buộc vào cây sậy và đưa cho Ngài uống.
49 Những người khác nói: “Hãy để xem Ê-li có đến cứu hắn không!”
50 Giê-su lại kêu lớn tiếng một lần nữa, rồi trút linh hồn.
Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, bóng tối bao phủ khắp xứ, cho thấy sự nghiêm trọng và gánh nặng thuộc linh của những gì đang xảy ra tại thập tự giá. Giê-su kêu lên: “Đức Chúa Trời của Con, Đức Chúa Trời của Con, sao Ngài lìa bỏ Con?” Lời này bày tỏ nỗi thống khổ sâu xa mà Ngài trải qua khi Ngài mang lấy hậu quả khủng khiếp của tội lỗi và cảm nhận sự xa cách với Cha. Đây không phải là nỗi sợ chết bình thường, nhưng là sự đau khổ của Đấng đứng thay cho nhân loại và chịu đựng bóng tối do tội lỗi gây ra. Một số người hiểu lầm tiếng kêu của Ngài và nghĩ Ngài đang gọi Ê-li. Họ tiếp tục nhìn với sự tò mò tàn nhẫn, chờ xem Ê-li có đến cứu Ngài không, mà không nhận ra chính Giê-su là sự ứng nghiệm chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Trước đó, Giê-su đã từ chối bất cứ điều gì làm giảm nhẹ sự đau khổ của Ngài, và Ngài tiếp tục chịu thập tự giá trong sự tỉnh thức hoàn toàn. Tiếng kêu lớn cuối cùng và việc Ngài trút linh hồn không phải là thất bại, nhưng là sự phó mình cách tự nguyện. Ngài vẫn trung tín với ý muốn của Cha cho đến chết. Qua sự vâng phục và tình yêu tự hiến của Ngài, Giê-su đã đánh bại tội lỗi trong xác thịt và mở đường để sự sống phục sinh của Ngài được ban cho những người tin qua Thần Linh của Ngài, để họ được giải phóng khỏi quyền thống trị của tội lỗi và được chuẩn bị cho sự sống đời đời. Thập tự giá bày tỏ tình yêu sâu nhiệm nhất của Đức Chúa Trời: tình yêu sẵn sàng chịu bóng tối, nhục nhã, đau khổ và sự xa cách vì nhân loại.
Ma-thi-ơ 27:51-54
51 Kìa, màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới; đất rung chuyển, đá nứt ra,
52 các mồ mả mở ra, và nhiều thân thể của các thánh đồ đã ngủ được sống lại.
53 Sau khi Ngài sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cho nhiều người.
54 Khi viên đội trưởng và những người cùng canh giữ Giê-su thấy động đất và những việc đã xảy ra, họ rất sợ hãi và nói: “Thật người này là Con Đức Chúa Trời!”
Khi Giê-su chết, màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới, cho thấy chính Đức Chúa Trời đã mở con đường vào sự hiện diện của Ngài qua sự chết của Đấng Christ. Hệ thống tế lễ đã đạt đến sự ứng nghiệm vì Chiên Con thật đã chết. Động đất, đá nứt, mồ mả mở ra, và nhiều thánh đồ sống lại cho thấy quyền năng và ý nghĩa lớn lao của sự chết của Giê-su. Chính tạo vật cũng đáp lại, và sự chết bắt đầu mất quyền lực của nó. Những thánh đồ được sống lại sau sự phục sinh của Ngài đã hiện ra cho nhiều người tại Giê-ru-sa-lem như những nhân chứng rằng chiến thắng của Đấng Christ trên tội lỗi cũng đem lại chiến thắng trên sự chết. Những dấu lạ này cho thấy thập tự giá không chỉ là một bi kịch, nhưng là bước ngoặt của sự cứu chuộc. Khi viên đội trưởng và những người canh giữ Giê-su thấy những điều này, họ rất sợ hãi và nói: “Thật người này là Con Đức Chúa Trời!” Ngay cả những người lính ngoại bang cũng nhận ra rằng một điều thần thượng đã xảy ra.
Ma-thi-ơ 27:55-61
55 Có nhiều phụ nữ đã theo Giê-su từ Ga-li-lê để phục vụ Ngài, đứng nhìn từ xa.
56 Trong số đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-sê, cùng mẹ của các con trai Xê-bê-đê.
57 Đến chiều tối, có một người giàu từ A-ri-ma-thê tên là Giô-sép, cũng là môn đồ của Giê-su.
58 Người ấy đến gặp Phi-lát và xin thi thể Giê-su. Phi-lát truyền giao thi thể cho ông.
59 Giô-sép lấy thi thể, bọc trong vải gai sạch,
60 đặt trong ngôi mộ mới của mình đã đục trong đá, rồi lăn một tảng đá lớn chặn cửa mộ và đi về.
61 Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri kia ở đó, ngồi đối diện ngôi mộ.
Nhiều phụ nữ đã theo Giê-su từ Ga-li-lê vẫn ở gần thập tự giá, đứng nhìn từ xa. Sự hiện diện của họ cho thấy lòng tận tụy, sự can đảm và tình yêu, ngay cả khi nhiều người khác đã bỏ chạy. Giô-sép người A-ri-ma-thê, một người giàu và là môn đồ của Giê-su, đến gặp Phi-lát để xin thi thể Giê-su. Ông bọc thi thể trong vải gai sạch, đặt trong ngôi mộ mới của mình, rồi lăn một tảng đá lớn chặn cửa mộ. Việc chôn cất cẩn thận này xác nhận rằng Giê-su thật sự đã chết và được đặt trong một ngôi mộ được biết rõ. Những người phụ nữ cũng thấy nơi Ngài được chôn, điều này trở nên quan trọng trong câu chuyện phục sinh. Cảnh này cho thấy cả nỗi buồn lẫn sự trung tín, khi những người yêu mến Giê-su vẫn chăm sóc Ngài ngay cả trong sự chết của Ngài.
Ma-thi-ơ 27:62-66
62 Ngày hôm sau, tức là ngày sau Ngày Chuẩn Bị, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đến gặp Phi-lát,
63 nói rằng: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ khi tên lừa dối ấy còn sống, hắn đã nói: ‘Sau ba ngày Ta sẽ sống lại.’
64 Vậy xin ngài ra lệnh canh giữ mộ cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ hắn đến ban đêm lấy trộm xác rồi nói với dân chúng: ‘Ngài đã sống lại từ cõi chết.’ Như vậy sự lừa dối sau cùng sẽ còn tệ hơn sự lừa dối trước.”
65 Phi-lát nói với họ: “Các ngươi có lính canh; hãy đi, canh giữ cẩn thận như các ngươi biết.”
66 Vậy họ đi, niêm phong tảng đá và đặt lính canh giữ mộ.
Ngày hôm sau, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đến gặp Phi-lát vì họ nhớ Giê-su đã nói rằng Ngài sẽ sống lại sau ba ngày. Họ gọi Ngài là kẻ lừa dối và xin cho ngôi mộ được canh giữ cẩn thận để các môn đồ không thể lấy trộm xác Ngài rồi tuyên bố rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết. Phi-lát cho phép họ canh giữ mộ, nên họ niêm phong tảng đá và đặt lính canh. Họ làm điều này để ngăn chặn bất cứ lời tuyên bố nào về sự phục sinh, nhưng hành động của họ thật ra lại làm cho lời chứng về sự phục sinh càng mạnh hơn. Tảng đá được niêm phong, ngôi mộ được canh giữ, và đội lính chính thức cho thấy không có mưu mẹo nào của con người có thể giải thích điều sẽ xảy ra tiếp theo. Khi cố gắng ngăn chặn lẽ thật, họ lại vô tình giúp xác nhận lẽ thật ấy.

