top of page

Rô-ma 3

Rô-ma 3 là phần tiếp tục trong lập luận của Phao-lô về tình trạng tội lỗi phổ quát của nhân loại. Trong chương này, Phao-lô cho thấy rằng cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều ở dưới quyền lực của tội lỗi. Ông cũng giải thích rằng luật pháp bày tỏ tội lỗi, nhưng không thể xưng công chính cho tội nhân. Chương này đạt đến cao điểm khi Phao-lô tuyên bố rằng sự công chính đến qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, tách biệt khỏi các việc làm của luật pháp, dành cho tất cả những ai tin.

Rô-ma 3:1-2
1 Vậy người Do Thái có lợi gì? Hay phép cắt bì có ích lợi gì?
2 Có nhiều lợi ích mọi mặt! Trước hết, vì các lời phán của Đức Chúa Trời đã được giao phó cho họ.

Phao-lô bắt đầu bằng cách thừa nhận rằng người Do Thái thật sự có những đặc ân đặc biệt. Đặc ân lớn nhất của họ là Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ các lời phán của Ngài—nghĩa là lời mặc khải của Ngài qua luật pháp và các tiên tri. Đây là một phước lành lớn, vì các lời hứa, điều răn và kế hoạch của Đức Chúa Trời trước hết đã được bày tỏ cho Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, việc có luật pháp không khiến người Do Thái được miễn khỏi tội lỗi hay sự phán xét. Đặc ân của họ cho họ một vai trò đặc biệt trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, nhưng cũng đem đến cho họ trách nhiệm lớn hơn để sống theo lẽ thật mà họ đã nhận được.

Rô-ma 3:3-4
3 Vậy nếu một số người không tin thì sao? Sự vô tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu không?
4 Chắc chắn không! Trái lại, hãy để Đức Chúa Trời là chân thật, còn mọi người là kẻ nói dối, như có chép rằng:
“Để Ngài được xưng là công chính trong lời Ngài,
Và thắng khi Ngài bị xét đoán.”

Sau đó, Phao-lô giải quyết một câu hỏi quan trọng: nếu một số người Do Thái không trung tín và không tin, điều đó có nghĩa là các lời hứa của Đức Chúa Trời thất bại sao? Phao-lô trả lời mạnh mẽ: “Chắc chắn không!” Sự thành tín của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào sự trung tín của con người. Ngay cả khi con người vô tín, dối trá hay bất trung, Đức Chúa Trời vẫn chân thật. Phao-lô trích Kinh Thánh để cho thấy rằng Đức Chúa Trời luôn công chính trong lời nói và sự phán xét của Ngài. Sự thất bại của con người không hủy bỏ lẽ thật của Đức Chúa Trời hay làm cho các lời hứa của Ngài trở nên vô hiệu.

Rô-ma 3:5-6
5 Nhưng nếu sự bất chính của chúng ta làm nổi bật sự công chính của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ nói gì? Đức Chúa Trời có bất công khi giáng cơn thịnh nộ không? Tôi nói theo cách loài người.
6 Chắc chắn không! Vì nếu vậy, Đức Chúa Trời sẽ phán xét thế gian như thế nào?

Bây giờ Phao-lô đối diện với một sự phản đối khác có thể được nêu ra. Có người có thể nói: “Nếu tội lỗi của chúng ta làm cho sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ rõ hơn, vậy Đức Chúa Trời có bất công khi hình phạt chúng ta không?” Phao-lô hoàn toàn bác bỏ ý tưởng này. Tội lỗi có thể làm nổi bật sự tương phản giữa sự bất chính của con người và sự công chính của Đức Chúa Trời, nhưng điều đó không làm cho tội lỗi trở nên chấp nhận được. Đức Chúa Trời không bất công khi phán xét tội lỗi. Nếu Đức Chúa Trời không thể phán xét tội lỗi, thì Ngài không thể là Đấng Phán Xét công chính của cả thế gian. Tội lỗi của con người không thể tự bào chữa chỉ vì sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ rõ hơn qua sự tương phản.

Rô-ma 3:7-8
7 Nhưng nếu lẽ thật của Đức Chúa Trời bởi sự nói dối của tôi mà càng thêm vinh hiển cho Ngài, thì tại sao tôi vẫn bị xét đoán như một tội nhân?
8 Và tại sao không nói: “Hãy làm điều ác để điều tốt đến”?—như chúng tôi bị vu cáo, và như một số người quả quyết rằng chúng tôi nói như vậy. Sự kết án của họ là công chính.

Phao-lô trình bày một lập luận sai lầm khác: nếu sự nói dối của một người làm cho lẽ thật của Đức Chúa Trời được bày tỏ lớn hơn và đem vinh hiển cho Ngài, thì tại sao người ấy vẫn bị xét đoán như một tội nhân? Lối suy nghĩ này rất nguy hiểm vì nó biến tội lỗi thành cái cớ để tôn vinh Đức Chúa Trời. Một số người thậm chí còn vu cáo Phao-lô rằng ông dạy: “Hãy làm điều ác để điều tốt đến.” Họ bóp méo sứ điệp ân điển của ông, như thể ông dạy rằng càng phạm tội nhiều thì ân điển càng nhiều, và như vậy Đức Chúa Trời càng được vinh hiển. Phao-lô mạnh mẽ bác bỏ sự xuyên tạc Tin Lành này. Ân điển của Đức Chúa Trời không bao giờ là giấy phép để phạm tội. Ân điển không khuyến khích điều ác; ân điển kêu gọi con người ra khỏi tội lỗi để bước vào sự công chính, sự biến đổi và sự vâng phục. Những ai cổ xúy lối suy nghĩ sai lạc như vậy đáng bị kết án, vì họ lạm dụng sự tốt lành của Đức Chúa Trời làm cớ cho sự phản nghịch.

Rô-ma 3:9-10
9 Vậy thì sao? Chúng ta có hơn họ không? Hoàn toàn không. Vì chúng ta đã cáo buộc trước rằng cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp đều ở dưới tội lỗi.
10 Như có chép rằng:
“Chẳng có ai công chính, dù một người cũng không;

Bây giờ Phao-lô đưa lập luận của mình đến một kết luận rõ ràng: người Do Thái không tốt hơn dân ngoại, và dân ngoại cũng không tốt hơn người Do Thái. Cả hai nhóm đều ở dưới tội lỗi. Điều này có nghĩa là toàn thể nhân loại ở dưới quyền lực, tội lỗi và sự định tội của tội lỗi. Sau đó, Phao-lô trích Cựu Ước để chứng minh rằng không ai tự mình là công chính. Không một người nào, bởi bản chất hay việc làm riêng của mình, có thể đứng trước mặt Đức Chúa Trời như người công chính. Mọi người đều cần ân điển của Đức Chúa Trời và sự công chính đến qua Đấng Christ.

Rô-ma 3:11-12
11 Chẳng có ai hiểu biết;
Chẳng có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời.
12 Tất cả đều quay lạc;
Tất cả đều trở nên vô ích;
Chẳng có ai làm điều lành, dù một người cũng không.”

Phao-lô tiếp tục trích Kinh Thánh để mô tả tình trạng tự nhiên của nhân loại sa ngã. Nếu không có công việc của Thần Linh Đức Chúa Trời, không ai thật sự hiểu các điều thuộc linh hay tìm kiếm Đức Chúa Trời với tấm lòng trong sạch. Nhân loại đã quay khỏi Đức Chúa Trời và trở nên vô ích về mặt thuộc linh, giống như một vật đã đánh mất mục đích đúng đắn của nó. Điều này không có nghĩa là con người không bao giờ làm những hành động tốt bên ngoài, nhưng có nghĩa là không ai tự nhiên là công chính trước mặt Đức Chúa Trời hay có thể sinh ra sự công chính thật từ một tấm lòng tội lỗi. Điều này cho thấy vì sao sự xưng công chính không thể đến qua nỗ lực con người hay việc giữ luật pháp. Nhân loại cần một Đấng Cứu Rỗi và một tấm lòng mới.

Rô-ma 3:13-14
13 “Cổ họng chúng là mồ mả mở ra;
Chúng dùng lưỡi mình mà lừa dối”;
“Nọc độc rắn hổ mang ở dưới môi chúng”;
14 “Miệng chúng đầy sự nguyền rủa và cay đắng.”

Bây giờ Phao-lô cho thấy tội lỗi bày tỏ qua lời nói của con người. Ông so sánh cổ họng với một mồ mả mở ra, cho thấy những lời nói hư hoại phát xuất từ sự chết thuộc linh bên trong. Lưỡi được dùng cho sự lừa dối, dối trá, thao túng, nguyền rủa và cay đắng. Hình ảnh nọc độc dưới môi cho thấy lời nói có thể gây hại, phá hủy và lan truyền sự hư hoại. Tội lỗi không chỉ được thấy trong hành động bên ngoài, nhưng cũng trong cách con người nói năng. Miệng bày tỏ tình trạng của tấm lòng, và nhân loại sa ngã thường dùng lời nói để làm tổn thương người khác thay vì phản chiếu bản tính của Đức Chúa Trời.

Rô-ma 3:15-18
15 “Chân chúng nhanh chóng làm đổ máu;
16 Sự hủy phá và khốn khổ ở trong đường lối chúng;
17 Chúng không biết con đường bình an.”
18 “Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt chúng.”

Phao-lô tiếp tục mô tả kết quả của tội lỗi trong đời sống con người. Tội lỗi không chỉ ảnh hưởng đến tâm trí và miệng lưỡi; nó cũng ảnh hưởng đến hướng đi của đời sống một người. “Chân chúng nhanh chóng làm đổ máu” cho thấy nhân loại sa ngã dễ chạy theo bạo lực, thù ghét và hủy phá. Nơi nào tội lỗi cai trị, nơi đó sinh ra khốn khổ, đổ vỡ, xung đột và sự thiếu vắng bình an thật. Sau đó, Phao-lô chỉ ra gốc rễ của vấn đề: “Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt chúng.” Khi con người không kính sợ Đức Chúa Trời, họ đánh mất nền tảng của sự khôn ngoan, công chính và bình an thật. Thiếu sự kính sợ Đức Chúa Trời dẫn đến một đời sống chạy theo ham muốn tội lỗi thay vì ý muốn của Đức Chúa Trời.

Rô-ma 3:19-20
19 Bây giờ chúng ta biết rằng bất cứ điều gì luật pháp nói, thì nói với những người ở dưới luật pháp, để mọi miệng đều phải im lặng, và cả thế gian trở nên có tội trước mặt Đức Chúa Trời.
20 Vì bởi các việc làm của luật pháp, chẳng xác thịt nào được xưng công chính trước mặt Ngài; vì bởi luật pháp mà có sự nhận biết tội lỗi.

Bây giờ Phao-lô giải thích mục đích của luật pháp trong lập luận của mình. Những đoạn ông trích trong Rô-ma 3:10-18 đến từ Kinh Thánh Cựu Ước, và chúng đặc biệt nói với những người “ở dưới luật pháp,” tức là người Do Thái, những người đã nhận được luật pháp thành văn. Điều này có nghĩa là người Do Thái không thể dùng luật pháp làm lý do để khoe khoang hay làm bằng chứng rằng họ công chính trước mặt Đức Chúa Trời. Trái lại, chính luật pháp làm chứng chống lại họ và phơi bày tội lỗi của họ. Cụm từ “để mọi miệng đều phải im lặng” có nghĩa là mọi lời bào chữa, mọi sự khoe khoang và mọi tuyên bố về sự vượt trội đạo đức đều bị làm cho im lặng. Người Do Thái có luật pháp, nhưng họ không giữ luật pháp cách trọn vẹn. Dân ngoại không có luật pháp thành văn, nhưng họ vẫn phạm tội chống lại ánh sáng mà họ có. Vì vậy, kết luận của Phao-lô là “cả thế gian trở nên có tội trước mặt Đức Chúa Trời.” Cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều đứng trước mặt Ngài trong trách nhiệm. Không ai có thể tuyên bố mình công chính dựa trên tri thức, đặc ân, phép cắt bì, nỗ lực đạo đức hay các việc làm của luật pháp. Điều này chuẩn bị con đường để Phao-lô giới thiệu sự công chính của Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ trong Rô-ma 3:21-22. Vì mọi người đều đã phạm tội, nên mọi người đều cần cùng một Đấng Cứu Rỗi. Luật pháp có thể cho thấy sự công chính đòi hỏi điều gì, nhưng không thể ban sự công chính cho tội nhân. Luật pháp có thể phơi bày tội lỗi, nhưng không thể xưng công chính. Vì vậy, Phao-lô nói: “Bởi các việc làm của luật pháp, chẳng xác thịt nào được xưng công chính trước mặt Ngài.” Khi Phao-lô nói: “bởi luật pháp mà có sự nhận biết tội lỗi,” ông có ý rằng luật pháp của Đức Chúa Trời định nghĩa tội lỗi, phơi bày tội lỗi và làm cho tội lỗi được nhận biết (xem Rô-ma 7:7). Luật pháp hoạt động như một tấm gương, cho tội nhân thấy tình trạng thật của mình. Nó cũng hoạt động như một người giám hộ, dẫn tội nhân đến chỗ thấy nhu cầu cần Đấng Christ (xem Ga-la-ti 3:24). Nhưng luật pháp không bao giờ được ban như một phương tiện để xưng công chính tội nhân hay biến đổi tấm lòng. Nó có thể bày tỏ căn bệnh, nhưng không thể chữa lành bệnh đó. Trước khi một người đến với Đấng Christ, luật pháp phơi bày tội lỗi và cho thấy người ấy đang ở dưới quyền thống trị của tội lỗi. Nhưng một khi đức tin đã đến, người tin không còn ở dưới luật pháp như một giao ước của sự định tội, nhưng ở dưới ân điển (xem Rô-ma 6:14; Ga-la-ti 3:25). Điều này không có nghĩa là người tin được tự do phạm tội. Đúng hơn, điều đó có nghĩa là người tin không còn bị cai trị bởi sợ hãi, sự định tội hay văn tự của luật pháp như một vị quan tòa của giao ước. Thay vào đó, người ấy được đem vào một đời sống mới trong Đấng Christ, nơi sự vâng phục tuôn ra từ Thần Linh hành động bên trong tấm lòng. Trong Giao Ước Mới, Thánh Linh—Đấng Yên Ủi, tức Thần Linh của Đấng Christ được đổ xuống và ngự trong các tín hữu—không dẫn dắt con cái Đức Chúa Trời bằng sự định tội pháp lý, vì “hiện nay chẳng còn sự định tội nào cho những ai ở trong Đấng Christ Giê-su” (Rô-ma 8:1). Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi bằng cách phơi bày sự vô tín nơi Đấng Christ (Giăng 16:8-9), nhưng các tín hữu được dẫn dắt, đổi mới và biến đổi từ bên trong như con trai con gái của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:9-14; 2 Cô-rinh-tô 3:17-18). Thánh Linh không chỉ chỉ ra tội lỗi từ bên ngoài; Ngài đem sự sống của Đấng Christ vào trong người tin, khiến sự vâng phục thật phát sinh từ tấm lòng. Và khi các tín hữu phạm tội, họ không bị ném trở lại dưới sự định tội hay sự phán xét dựa trên luật pháp. Họ có một Đấng Biện Hộ ở cùng Cha, là Chúa Giê-su Christ công chính, Đấng mà của lễ hoàn tất của Ngài bảo đảm địa vị của họ và phục hồi sự thông công (1 Giăng 2:1-2). Vì vậy, nếu một tín hữu sa vào tội lỗi, câu trả lời không phải là tuyệt vọng, tự kết án mình, hay cố gắng kiếm lại ân huệ của Đức Chúa Trời bằng việc giữ luật pháp. Câu trả lời là đến với Đấng Christ cách thành thật, xưng nhận tội lỗi, ăn năn và tin cậy sự tha thứ cùng sự tẩy sạch của Ngài (1 Giăng 1:9). Sau đó, Thần Linh tiếp tục công việc đổi mới tấm lòng, phục hồi người tin và dẫn người ấy trở lại sự vâng phục. Điều này có nghĩa là sự yếu đuối hay vấp ngã thỉnh thoảng không có nghĩa là một tín hữu đã bị mất. Một tín hữu thật có thể vấp ngã, nhưng người ấy không làm hòa với tội lỗi hay chọn sống trong sự phản nghịch chống lại Đấng Christ. Người ấy đau buồn vì tội lỗi, được đưa đến sự ăn năn và được Thần Linh kéo trở lại với Đấng Christ. Niềm hy vọng của người ấy vẫn ở trong sự công chính của Đấng Christ, của lễ của Đấng Christ, sự cầu thay của Đấng Christ và sự sống nội trú của Đấng Christ. Vì vậy, cách duy nhất một tín hữu Tân Ước đang ở trong Đấng Christ có thể bị mất không phải là bởi sự yếu đuối, thất bại hay vấp ngã đã được xưng nhận và ăn năn, nhưng bởi sự cố ý chối bỏ, từ chối hoặc lìa bỏ đức tin nơi chính Đấng Christ (xem Hê-bơ-rơ 3:12; Hê-bơ-rơ 10:26; Giăng 15:6; 1 Giăng 2:22). Sự cứu rỗi không được tìm thấy ở nơi nào khác. Luật pháp đem đến sự nhận biết tội lỗi và làm cho mọi miệng phải im lặng trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Christ đem đến sự công chính, sự tha thứ, sự sống mới, sự phục hồi và sự chiến thắng qua Thần Linh của Ngài. Luật pháp phơi bày nhu cầu của tội nhân; Tin Lành cung cấp Đấng Cứu Rỗi. Sau đó, đời sống trong Thần Linh cai trị người tin, để sự vâng phục đến không phải từ nỗi sợ bị định tội, nhưng từ sự sống chiến thắng của Đấng Christ đang ngự bên trong.

Rô-ma 3:21-22
21 Nhưng hiện nay, sự công chính của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ tách biệt khỏi luật pháp, nhưng được Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng,
22 tức là sự công chính của Đức Chúa Trời, qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, cho mọi người và trên mọi người tin. Vì không có sự phân biệt;

Bây giờ Phao-lô chuyển từ sự thất bại hoàn toàn của con người dưới tội lỗi sang câu trả lời của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. “Sự công chính của Đức Chúa Trời” ở đây không phải là sự công chính mà con người tự tạo ra bằng cách cố giữ luật pháp trong sức riêng. Đó là sự công chính của chính Đức Chúa Trời, được bày tỏ trong Chúa Giê-su Christ và được nhận lãnh bởi đức tin. Luật pháp có thể mô tả sự công chính, phơi bày tội lỗi và cho thấy bản tính của Đức Chúa Trời ra sao, nhưng luật pháp không thể ban sự sống hay tạo ra sự công chính trong một con người sa ngã. Vì vậy, sự công chính này là “tách biệt khỏi luật pháp,” nghĩa là nó không đến qua việc giữ luật, nỗ lực con người hay sự thực hành tôn giáo bên ngoài. Sự công chính này được tìm thấy trong chính Đấng Christ. Đấng Christ là sự bày tỏ sống động của sự công chính của Đức Chúa Trời. Ngài không chỉ là Đấng tha thứ cho chúng ta và làm cho chúng ta được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng cũng là Đấng đến sống trong chúng ta bởi Thần Linh của Ngài. Khi chúng ta tin nơi Chúa Giê-su, chúng ta nhận được nhiều hơn một lời tuyên bố pháp lý; chúng ta nhận được sự sống của Đấng Christ. Thần Linh Ngài ngự trong chúng ta trở thành quyền năng của một đời sống mới, điều mà về sau Phao-lô gọi là “luật của Thần Linh sự sống trong Đấng Christ Giê-su.” Sự sống này giải phóng chúng ta khỏi luật của tội lỗi và sự chết, đồng thời sản sinh trong chúng ta sự công chính mà luật pháp chỉ có thể mô tả. Điều này không có nghĩa là sự công chính của Đức Chúa Trời chống lại luật pháp. Phao-lô nói rằng sự công chính ấy được “Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng.” Cựu Ước đã chỉ về một sự công chính đến từ Đức Chúa Trời, qua Đấng Mê-si-a đã được hứa, và được viết trong tấm lòng bởi Thần Linh của Ngài. Vì vậy, sự công chính của Đức Chúa Trời là Đấng Christ vì chúng ta và Đấng Christ trong chúng ta: Đấng Christ là sự chấp nhận của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, và Đấng Christ là quyền năng sống động của sự công chính bên trong người tin. Phao-lô cũng nói rằng sự công chính này là “cho mọi người và trên mọi người tin.” Nó không bị giới hạn cho người Do Thái, và cũng không được nhận qua phép cắt bì, nghi lễ hay việc làm của con người. Người Do Thái và dân ngoại đều là tội nhân và đều cần cùng một Đấng Cứu Rỗi. Vì vậy, sự công chính của Đức Chúa Trời chỉ được ban qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, cho mọi người tin.

Rô-ma 3:23-24
23 Vì mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,
24 nhưng được xưng công chính cách nhưng không bởi ân điển Ngài, qua sự cứu chuộc ở trong Đấng Christ Giê-su.

Phao-lô giải thích vì sao mọi người đều cần sự công chính của Đức Chúa Trời: tất cả đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là không ai phản chiếu trọn vẹn bản tính, sự thánh khiết, tình yêu thương và sự công chính của Đức Chúa Trời. Cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều ở trong cùng một tình trạng. Tất cả đều có tội, tất cả đều yếu đuối trong xác thịt, và tất cả đều cần sự cứu rỗi khỏi tội lỗi.

Nhưng tin mừng là Đức Chúa Trời xưng công chính cho tội nhân cách nhưng không bởi ân điển của Ngài. Sự xưng công chính này không kiếm được bằng việc giữ luật pháp, làm các công việc tôn giáo hay cố làm cho chính mình trở nên công chính. Đó là món quà miễn phí của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Được xưng công chính nghĩa là được tha thứ, được chấp nhận và được kể là công chính trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng còn hơn cả sự thay đổi địa vị pháp lý. Trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta chính sự sống và sự công chính mà chúng ta không có trong chính mình. Sự xưng công chính này đến “qua sự cứu chuộc ở trong Đấng Christ Giê-su.” Sự cứu chuộc nghĩa là được giải phóng khỏi sự nô lệ. Trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã cung cấp sự giải cứu khỏi tội lỗi, sự định tội và quyền lực của đời sống cũ. Chúa Giê-su không chỉ là Đấng tha thứ cho chúng ta; Ngài là sự công chính của chúng ta, sự sống mới của chúng ta, và là Đấng đem chúng ta trở lại trong sự hiệp nhất với Đức Chúa Trời.

Rô-ma 3:25-26
25 Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm của lễ chuộc tội bởi huyết Ngài, qua đức tin, để bày tỏ sự công chính của Ngài, vì trong sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời, Ngài đã bỏ qua các tội đã phạm trước kia,
26 để bày tỏ sự công chính của Ngài trong thời hiện tại, hầu cho Ngài vừa là công chính, vừa là Đấng xưng công chính cho người có đức tin nơi Chúa Giê-su.

Bây giờ Phao-lô giải thích cách Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho tội nhân mà vẫn là công chính. Đức Chúa Trời đã lập Chúa Giê-su làm “của lễ chuộc tội” bởi huyết Ngài. Từ này mang ý nghĩa về của lễ, đồng thời cũng chỉ đến nắp thi ân, nơi lòng thương xót và công lý gặp nhau. Điều này không có nghĩa là Chúa Giê-su phải làm dịu một Đức Cha không sẵn lòng hay đang giận dữ. Trái lại, chính Đức Chúa Trời đã ban Con Ngài làm của lễ cứu rỗi, cho thấy Đức Cha là nguồn của lòng thương xót và sự cứu rỗi. Qua huyết của Đấng Christ, tội lỗi được phơi bày, bị kết án và được xử lý, trong khi tội nhân được ban sự tha thứ, sự phục hồi và sự sống mới.

Đức Chúa Trời đã nhẫn nại đối với những tội lỗi đã phạm trong quá khứ. Ngài đã “bỏ qua” chúng trong sự nhịn nhục của Ngài, nghĩa là Ngài không lập tức đem sự phán xét cuối cùng trên tội nhân. Nhưng giờ đây, qua Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã bày tỏ trọn vẹn sự công chính của Ngài. Thập tự giá cho thấy cả sự nghiêm trọng của tội lỗi lẫn sự lớn lao của tình yêu Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không cứu bằng cách giả vờ rằng tội lỗi không quan trọng. Ngài xử lý tội lỗi trong Đấng Christ, kết án tội lỗi trong xác thịt, và ban cho người tin sự sống của Con Ngài. Vì vậy, Đức Chúa Trời là công chính vì Ngài vẫn công chính trong cách Ngài xử lý tội lỗi, và Ngài là Đấng xưng công chính vì Ngài tha thứ, chấp nhận, phục hồi và ban sự công chính của chính Ngài cho người có đức tin nơi Chúa Giê-su.

Rô-ma 3:27-28
27 Vậy sự khoe khoang ở đâu? Đã bị loại trừ. Bởi luật nào? Bởi luật của việc làm sao? Không, nhưng bởi luật của đức tin.
28 Vì vậy, chúng ta kết luận rằng một người được xưng công chính bởi đức tin, tách biệt khỏi các việc làm của luật pháp.

Vì sự xưng công chính là món quà của ân điển qua Đấng Christ, nên không còn chỗ cho sự khoe khoang. Không ai có thể nói: “Tôi đã làm cho mình trở nên công chính,” hay “Tôi đã kiếm được sự cứu rỗi bằng sự vâng phục của tôi.” Nỗ lực con người, đặc ân tôn giáo và các việc làm của luật pháp không thể làm cho tội nhân được đúng đắn trước mặt Đức Chúa Trời. Luật pháp có thể phơi bày tội lỗi và cho thấy tiêu chuẩn của sự công chính, nhưng không thể ban sự sống cho tội nhân. Chỉ Đấng Christ mới có thể ban sự sống.

Phao-lô nói rằng sự khoe khoang bị loại trừ bởi “luật của đức tin.” Điều này có nghĩa là nguyên tắc của sự cứu rỗi không phải là việc làm, nhưng là đức tin. Đức tin tiếp nhận những gì Đức Chúa Trời đã cung cấp trong Đấng Christ. Đức tin không tạo ra sự công chính từ chính mình; đức tin tiếp nhận Đấng Christ, Đấng là sự công chính của chúng ta. Vì vậy, một người được xưng công chính bởi đức tin, tách biệt khỏi các việc làm của luật pháp. Các việc lành không phải là nền tảng để chúng ta được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng là trái của Đấng Christ sống trong chúng ta. Chúng ta được chấp nhận vì Đấng Christ, và Thần Linh của Ngài ở trong chúng ta sinh ra sự vâng phục thật mà luật pháp có thể mô tả nhưng không thể tạo ra trong con người sa ngã.

Rô-ma 3:29-30
29 Hay Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của người Do Thái thôi sao? Chẳng phải Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại sao? Phải, của dân ngoại nữa,
30 vì chỉ có một Đức Chúa Trời, Đấng sẽ xưng công chính cho người chịu cắt bì bởi đức tin và người không chịu cắt bì qua đức tin.

Bây giờ Phao-lô cho thấy rằng kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người. Đức Chúa Trời không chỉ là Đức Chúa Trời của người Do Thái; Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại. Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, nên chỉ có một con đường cứu rỗi. Người Do Thái, những người có phép cắt bì và luật pháp, được xưng công chính bởi đức tin. Dân ngoại, những người không có các đặc ân ấy, cũng được xưng công chính qua đức tin.

Điều này loại bỏ mọi sự kiêu ngạo và chia rẽ thuộc linh. Người Do Thái và dân ngoại đều là tội nhân, đều cần ân điển, và đều phải đến với Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-su Christ. Không ai được cứu vì chủng tộc, nền tảng tôn giáo, dấu hiệu bên ngoài hay việc giữ luật pháp. Tất cả đều được xưng công chính cùng một cách: bởi đức tin nơi Đấng Christ. Cùng một Đấng Cứu Rỗi, cùng một ân điển, và cùng một sự công chính của Đức Chúa Trời được ban cho tất cả những ai tin. Sự công chính này không phải là thành tựu của con người, nhưng là chính Đấng Christ được nhận lãnh bởi đức tin—Đấng Christ vì chúng ta, Đấng Christ trong chúng ta, và Đấng Christ sống bày tỏ đời sống công chính của Đức Chúa Trời qua Thần Linh của Ngài.

Rô-ma 3:31
31 Vậy chúng ta bởi đức tin mà làm cho luật pháp trở nên vô hiệu sao? Chắc chắn không! Trái lại, chúng ta xác lập luật pháp.

Phao-lô giải quyết một sự hiểu lầm có thể xảy ra về sự xưng công chính bởi đức tin. Có người có thể nghĩ rằng nếu một người được xưng công chính bởi đức tin, tách biệt khỏi các việc làm của luật pháp, thì đức tin làm cho luật pháp trở nên vô ích hoặc bãi bỏ luật pháp. Nhưng Phao-lô mạnh mẽ phủ nhận điều này khi nói: “Chắc chắn không! Trái lại, chúng ta xác lập luật pháp.” “Luật pháp” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng là Luật Pháp, các sách của Môi-se và lời chứng của Cựu Ước, chứ không chỉ riêng Mười Điều Răn. Phao-lô đã nói rằng sự công chính của Đức Chúa Trời được “Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng” (Rô-ma 3:21). Vì vậy, đức tin không phá hủy luật pháp; đức tin xác nhận điều mà luật pháp luôn hướng đến.

Điều này không có nghĩa là các tín hữu xác lập luật pháp bằng cách quay trở lại với luật pháp như một hệ thống bên ngoài của việc giữ luật, việc làm, sự định tội hay sự công chính do chính mình tạo ra. Luật pháp, trong các sách viết và các điều răn của nó, có thể mô tả sự công chính, bày tỏ tội lỗi, đưa ra các hình bóng và kiểu mẫu, và chỉ về Đấng Christ, nhưng nó không thể ban sự sống hay tạo ra sự công chính trong con người sa ngã. Chỉ Đấng Christ mới có thể làm điều đó. Vì vậy, “chúng ta xác lập luật pháp” có nghĩa là qua đức tin nơi Đấng Christ, mục đích thật và lời chứng thật của luật pháp được làm ứng nghiệm và được xác nhận.

Theo nghĩa này, luật pháp bao gồm các nguyên tắc đạo đức công chính của Đức Chúa Trời, các sách của Môi-se, hệ thống tế lễ, và toàn bộ lời chứng của Cựu Ước đã chỉ về sự công chính của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Đức tin tiếp nhận chính Đấng Christ, và Đấng Christ là sự công chính của Đức Chúa Trời. Khi sự sống và Thần Linh của Ngài ngự trong người tin, Ngài sinh ra tình yêu thương, sự thánh khiết, sự vâng phục và bản tính mà luật pháp đã mô tả nhưng tự nó không bao giờ có thể tạo ra.

Điều này không có nghĩa là các tín hữu được tự do phạm tội hay bỏ qua lẽ thật đạo đức được bày tỏ trong luật pháp, chẳng hạn như Mười Điều Răn. Tội lỗi vẫn là tội lỗi, và luật pháp vẫn bày tỏ tội lỗi là gì. Nhưng như Ga-la-ti 3:24–26 giải thích, luật pháp có vai trò như một người giám hộ để dẫn con người đến Đấng Christ, và sau khi đức tin đã đến, các tín hữu không còn ở dưới người giám hộ ấy nữa. Phao-lô cũng giải thích trong Rô-ma 7:6 và 2 Cô-rinh-tô 3:6–11 rằng các tín hữu hiện nay phục vụ trong sự mới mẻ của Thần Linh, chứ không trong sự cũ kỹ của văn tự. Hệ thống bên ngoài cũ đã qua đi trong chức năng Giao Ước Cũ của nó, không phải vì sự công chính của Đức Chúa Trời đã qua đi, nhưng vì nó đã được thay thế bởi chức vụ lớn hơn của Thần Linh.

Vì vậy, khi Phao-lô nói: “chúng ta xác lập luật pháp,” ông có ý rằng đức tin xác nhận mục đích thật của luật pháp và các sách của nó. Luật pháp chưa bao giờ có thể làm cho tội nhân trở nên công chính, nhưng nó đã chỉ về sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Đấng Christ. Giờ đây, qua đức tin, sự công chính ấy được nhận lãnh như một thực tại sống động. Những ai thật sự có Đấng Christ sống trong họ sẽ bước đi theo Thần Linh, và yêu cầu công chính của luật pháp được làm trọn trong họ, như Rô-ma 8:4 nói. Theo cách này, luật pháp không bị bãi bỏ, nhưng được làm ứng nghiệm, được xác nhận và được bày tỏ trong một cách cao hơn và sống động hơn qua Đấng Christ trong chúng ta.

bottom of page