
Ê-sai 16
Ê-sai 16 tiếp tục lời tiên tri về Mô-áp, tập trung vào tình trạng của họ sau khi bị tàn phá và lời cầu xin được nương náu nơi Giu-đa. Chương này kêu gọi Mô-áp bày tỏ lòng thương xót đối với những người bị lưu lạc, đồng thời nói đến sự kiêu ngạo đã dẫn họ đến chỗ suy vong. Chương cũng hướng đến sự thiết lập của ngôi Đa-vít, nơi một Đấng cai trị trong sự nhân từ, lẽ thật và công bình. Qua đó, chương nhấn mạnh sự công bình của Đức Chúa Trời và hậu quả nghiêm trọng của lòng kiêu ngạo.
Ê-sai 16:1-5 (VIE1934)
1. Hãy gởi chiên con phải dâng cho quan cai trị đất nầy, từ Sê-la sang đồng vắng, đến núi của con gái Si-ôn.
2. Các con gái Mô-áp tại bến đò Aït-nôn sẽ giống như chim bay tán loạn, và như một lứa chim con bị quăng ra ngoài ổ.
3. Ngươi hãy lập mưu, hãy làm sự công bình, đang lúc giữa trưa hãy phủ bóng ngươi như ban đêm; hãy che giấu kẻ bị đuổi; chớ bươi móc kẻ trốn tránh!
4. Hãy cho phép những kẻ bị đuổi của ta trú ngụ nơi ngươi! Hãy làm nơi ẩn náu cho Mô-áp khỏi mặt kẻ tàn hại! Vì kẻ cướp giựt đã mất, sự tàn hại đã hết, kẻ giày đạp đã bị diệt khỏi đất nầy.
5. Aáy vậy, ngôi sẽ bởi sự nhân từ mà bền lập; và trong trại Đa-vít sẽ có một Đấng lấy lẽ thật ngồi lên, sẽ đoán xét, sẽ tìm sự ngay thẳng, và vội vàng làm sự công bình.
Mô-áp được truyền phải đem chiên con đến dâng cho người cai trị, tượng trưng cho việc họ phải nhìn nhận quyền cai trị của Giu-đa trong bối cảnh sự suy vong đang đến. Dân Mô-áp được ví như những con chim bị quăng khỏi tổ, tán loạn và không còn nơi nương náu. Sau đó, lời tiên tri kêu gọi Mô-áp tiếp nhận và che chở những người bị lưu lạc, bày tỏ lòng thương xót đối với những người đang chạy trốn. Điều này xảy ra trong bối cảnh kẻ tàn hại và những kẻ áp bức sẽ không còn nữa. Câu 5 mở ra một niềm hy vọng đặc biệt: ngôi Đa-vít sẽ được thiết lập trong sự nhân từ, và một Đấng cai trị sẽ ngồi trên ngôi ấy trong lẽ thật, xét đoán công bình và mau chóng thực hiện sự công bình. Đây hướng đến lời hứa về một Đấng cai trị công bình trong dòng dõi Đa-vít.
Ê-sai 16:6-10 (VIE1934)
6. Chúng ta có nghe sự kiêu ngạo của Mô-áp, nó kiêu ngạo lắm, cũng nghe nó xấc xược, kiêu căng, giận dữ; sự khoe khoang của nó là vô ích.
7. Vậy nên Mô-áp sẽ than khóc vì Mô-áp, ai nấy đều than khóc; các ngươi hãy khóc, hãy thở than vì sự mất bánh trái nho của Kiệt-Ha-rê-sết!
8. Vì ruộng nương của Hết-bôn và cây nho của Síp-ma đều mòn mỏi; ngày trước nó giàng ra tới Gia-ê-xe, lan ra tới đồng vắng, chồi tược đâm ra tới bên kia biển, mà bây giờ vua chúa các nước đã bẻ gãy nhánh tốt.
9. Vậy nên ta vì cây nho của Síp-ma mà khóc lóc như Gia-ê-xe. Hỡi Hết-bôn, hỡi Ê-lê-a-lê, ta sẽ tưới nước mắt ta trên các ngươi; vì đang lúc trái mùa hạ và mùa gặt thì có tiếng reo của giặc xảy đến.
10. Sự vui mừng hớn hở đã cất khỏi ruộng tốt; trong vườn nho chẳng còn hò hát, reo vui, kẻ đạp rượu chẳng còn đạp trong thùng; ta đã làm dứt tiếng reo vui.
Lòng kiêu ngạo của Mô-áp được nhấn mạnh như một nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của họ. Dù kiêu căng và tự tin, sự khoe khoang của họ sẽ không thể cứu họ khỏi sự phán xét. Đất nước Mô-áp, đặc biệt là các thành phố và vùng trồng trọt, sẽ phải chịu sự tàn phá. Những ruộng nho từng đem lại sự thịnh vượng, đặc biệt là ở Hết-bôn và Síp-ma, sẽ bị phá hủy. Những cành nho từng vươn xa sẽ bị các vua chúa của các nước bẻ gãy. Niềm vui trước đây sẽ biến thành than khóc. Những vườn nho từng vang tiếng hát và tiếng reo vui sẽ trở nên im lặng. Không còn tiếng người đạp nho trong thùng ép rượu. Sự im lặng ấy cho thấy mức độ tàn phá nghiêm trọng mà chiến tranh và sự phán xét đem lại cho Mô-áp.
Ê-sai 16:11-14 (VIE1934)
11. Cho nên lòng ta vì Mô-áp kêu vang như đàn cầm, ruột ta vì Kiệt-Hê-re cũng vậy.
12. Vì dầu Mô-áp chịu mệt nhọc đặng đi đến nơi cao, dầu vào trong nơi thánh mình để cầu nguyện, cũng chẳng được nhậm!
13. Aáy là lời mà xưa kia Đức Giê-hô-va đã phán về Mô-áp.
14. Bây giờ thì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong ba năm, kể như năm kẻ ở mướn, sự vinh hiển của Mô-áp với cả đoàn dân đông của nó sẽ bị khinh hèn; và số còn sót lại sẽ ít lắm, không kể ra gì.
Đức Chúa Trời bày tỏ sự đau buồn trước tình trạng của Mô-áp, cho thấy sự phán xét không phải là điều Ngài vui thích. Lòng Ngài vì Mô-áp kêu vang như tiếng đàn cầm, cho thấy sự thương xót giữa bối cảnh phán xét. Tuy nhiên, Mô-áp sẽ không thể tránh khỏi hậu quả của mình. Dù họ mệt nhọc đi lên nơi cao và đến nơi thánh để cầu nguyện, họ cũng sẽ không được nhậm. Những nghi lễ tôn giáo của họ không thể cứu họ khỏi sự phán xét khi lòng họ vẫn ở trong tình trạng sai trật. Đức Giê-hô-va xác nhận lại lời Ngài đã phán về Mô-áp và đưa ra một thời hạn cụ thể: trong vòng ba năm, sự vinh hiển của Mô-áp cùng dân số đông đúc của họ sẽ bị hạ xuống. Chỉ còn lại một số rất ít người, yếu ớt và không đáng kể. Thời hạn này nhấn mạnh rằng sự sụp đổ của Mô-áp chắc chắn sẽ xảy đến và không còn xa.

