
Ê-sai 61
Ê-sai 61 nói về sứ mạng của Đấng Mê-si, là Đấng đến để rao truyền tin lành, chữa lành những tấm lòng tan vỡ và công bố sự tự do cho những kẻ bị bắt làm phu tù. Chương này bày tỏ quyền năng biến đổi của Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu, Đấng sẽ đem đến sự an ủi, công lý và sự phục hồi cho Y-sơ-ra-ên. Chương này mô tả vinh quang tương lai của Si-ôn và giao ước phước lành của Đức Chúa Trời. Toàn bộ chương chứa đầy hy vọng và lời hứa về sự cứu chuộc.
Ê-sai 61:1 (VIE1934)
1. Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục;
Đấng Mê-si được ban quyền năng bởi Thần Linh của Đức Chúa Trời để rao truyền tin lành cho những người bị áp bức và khốn khổ. Sứ mạng của Ngài bao gồm việc chữa lành và đem tự do đến cho những người đang chịu đau khổ về thể xác, cảm xúc và tâm linh. Câu này chỉ về Giê-su, Đấng đã làm trọn lời tiên tri ấy qua việc phục vụ người nghèo, giải phóng con người khỏi sự trói buộc thuộc linh và đem lại hy vọng.
Ê-sai 61:2 (VIE1934)
2. Đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;
Sứ mạng của Giê-su có hai khía cạnh: công bố thời kỳ Đức Chúa Trời ban ân huệ—thời kỳ của ân điển và sự cứu rỗi—đồng thời cảnh báo về ngày phán xét trong tương lai. Bên cạnh đó, Ngài đem sự an ủi đến cho những người đang than khóc, ban sự yên ủi thiêng liêng cho những ai đau buồn và gặp cảnh khốn cùng.
Ê-sai 61:3 (VIE1934)
3. Đặng ban mão hoa cho kẻ buồn rầu ở Si-ôn thay vì tro bụi, ban dầu vui mừng thay vì tang chế, ban áo ngợi khen thay vì lòng nặng nề; hầu cho những kẻ ấy được gọi là cây công bình, là cây Đức Giê-hô-va trồng để làm vinh hiển Ngài.
Câu này mô tả sự biến đổi mà Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu sẽ đem đến cho dân Ngài. Sự than khóc và tuyệt vọng sẽ được thay thế bằng niềm vui, vẻ đẹp và sự ngợi khen. Dân sự sẽ trở nên mạnh mẽ và công bình, giống như những cây do chính Đức Chúa Trời trồng, qua đó phản chiếu vinh quang Ngài.
Ê-sai 61:4 (VIE1934)
4. Họ sẽ xây lại những nơi hoang vu ngày xưa, dựng lại những nơi đổ nát trước kia, sửa sang các thành hoang vu, là những nơi đổ nát từ đời nọ sang đời kia.
Dân sự Đức Chúa Trời, sau khi được phục hồi và ban phước, sẽ xây dựng lại những gì đã bị phá hủy. Họ sẽ khôi phục những nơi đã hoang tàn qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ biểu thị sự phục hồi về mặt vật chất của Y-sơ-ra-ên, mà còn nói đến sự đổi mới thuộc linh của quốc gia và dân tộc ấy.
Ê-sai 61:5 (VIE1934)
5. Người ngoại bang sẽ đứng chăn bầy chiên các ngươi; con cái người ngoại sẽ làm kẻ cày ruộng và trồng nho cho các ngươi.
Trong tương lai, người ngoại bang sẽ giúp đỡ Y-sơ-ra-ên trong công việc lao động, gợi lên một thời kỳ thịnh vượng và được tôn trọng. Dân sự Đức Chúa Trời sẽ nhận được sự phục vụ từ những người khác. Đây là sự đảo ngược hoàn cảnh so với những đau khổ và cảnh lưu đày mà họ đã trải qua trước kia.
Ê-sai 61:6 (VIE1934)
6. Nhưng các ngươi sẽ được gọi là thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va; người ta sẽ gọi các ngươi là tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta. Các ngươi sẽ ăn của cải các nước, và được vinh hiển trong sự vinh hiển của chúng nó.
Y-sơ-ra-ên sẽ được tôn trọng với tư cách là những thầy tế lễ và tôi tớ của Đức Chúa Trời, đồng thời được hưởng sự giàu có của các dân tộc khác. Điều này phản ánh địa vị cao quý và trách nhiệm thuộc linh mà Đức Chúa Trời sẽ trao cho dân Ngài, khi họ trở thành ánh sáng cho thế gian.
Ê-sai 61:7 (VIE1934)
7. Các ngươi sẽ được gấp hai phần thay vì sự xấu hổ; họ sẽ vui mừng về phần mình thay vì sự sỉ nhục. Vậy nên trong xứ mình, họ sẽ được gấp hai phần; họ sẽ được vui mừng đời đời.
Sự xấu hổ và nhục nhã trong quá khứ sẽ được thay thế bằng phước lành gấp đôi và niềm vui đời đời. Đức Chúa Trời hứa phục hồi dân Ngài, ban cho họ phần phước gấp đôi để bù đắp cho mọi sự nhục nhã mà họ đã phải chịu đựng.
Ê-sai 61:8 (VIE1934)
8. Vì ta, Đức Giê-hô-va, yêu sự công bình, ghét sự trộm cướp và sự bất nghĩa; ta sẽ ban thưởng cho họ cách thành tín, và lập giao ước đời đời với họ.
Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Ngài yêu sự công bình và chống lại sự gian dối. Ngài sẽ bảo đảm rằng những việc làm của dân Ngài phù hợp với lẽ thật và sự công bình của Ngài. Hơn nữa, Ngài hứa lập với họ một giao ước đời đời, đem đến những phước lành lâu bền.
Ê-sai 61:9 (VIE1934)
9. Dòng dõi họ sẽ được biết giữa các nước, con cháu họ sẽ được biết giữa các dân. Phàm ai thấy họ sẽ nhận biết họ là dòng dõi mà Đức Giê-hô-va đã ban phước.
Các thế hệ tương lai của Y-sơ-ra-ên sẽ được nhận biết giữa các dân tộc là những người được Đức Giê-hô-va ban phước. Di sản về lòng trung tín của họ cùng với ân huệ của Đức Chúa Trời sẽ được mọi người nhìn thấy, khiến họ được tôn trọng giữa các dân.
Ê-sai 61:10 (VIE1934)
10. Ta sẽ rất vui vẻ trong Đức Giê-hô-va, linh hồn ta mừng rỡ trong Đức Chúa Trời ta; vì Ngài đã mặc áo cứu rỗi cho ta, khoác áo công bình cho ta, như chàng rể mới đội mão miện, như nàng dâu trang sức bằng châu báu mình.
Câu này bày tỏ niềm vui sâu sắc trong sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va. Hình ảnh chàng rể và nàng dâu nói lên vẻ đẹp và sự trọn vẹn trong công việc cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Người nói vui mừng vì Đức Chúa Trời đã ban sự cứu rỗi và sự công bình, được tượng trưng qua những bộ áo thể hiện danh dự và vẻ đẹp.
Ê-sai 61:11 (VIE1934)
11. Vì như đất làm cho cây nứt lộc, vườn làm cho hột giống mọc lên thể nào, thì Chúa Giê-hô-va cũng sẽ làm cho sự công bình và sự ngợi khen nứt lộc trước mặt mọi nước thể ấy.
Cũng như đất sinh ra cây cối và làm cho sự sống phát triển, Đức Chúa Trời sẽ khiến sự công bình và sự ngợi khen nảy nở giữa dân Ngài. Câu cuối cùng này nhấn mạnh rằng công việc của Đức Giê-hô-va sẽ đem đến sự biến đổi rõ ràng, không chỉ trong Y-sơ-ra-ên mà còn trước mặt mọi dân tộc, khiến họ nhận biết quyền năng và sự tốt lành của Ngài.

