top of page

Ê-xê-chi-ên 40

Ê-xê-chi-ên 40 mở đầu khải tượng cuối cùng trong sách Ê-xê-chi-ên, mô tả những kế hoạch chi tiết về một đền thờ mới tại Giê-ru-sa-lem. Khải tượng này được ban cho Ê-xê-chi-ên sau khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ, trình bày các số đo, cách bố trí và những đặc điểm kiến trúc của toàn bộ khu đền thờ, tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời được phục hồi giữa dân Ngài. Chương này mô tả chi tiết các cổng, sân và phòng, nhấn mạnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời cũng như tầm quan trọng của việc thờ phượng đúng đắn.

Ê-xê-chi-ên 40:1-2 (VIE1934)
1. Năm thứ hai mươi lăm về sự phu tù của chúng ta, nhằm đầu năm, ngày mồng mười tháng, tức là năm thứ mười bốn sau khi thành bị đánh hạ, cũng trong chính ngày ấy, tay Đức Giê-hô-va đặt trên ta, và Ngài đem ta đến đó.
2. Trong các sự hiện thấy của Đức Chúa Trời, Ngài đem ta vào đất Y-sơ-ra-ên, đặt ta trên một núi rất cao; về phía nam núi ấy có một vật giống như hình dạng một thành.

Khải tượng này được xác định thời điểm một cách chính xác nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa của nó trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, tượng trưng cho niềm hy vọng và sự phục hồi. Đức Chúa Trời đưa Ê-xê-chi-ên lên một ngọn núi cao, biểu thị một nơi mặc khải, tại đó ông nhìn thấy một công trình có hình dạng giống như một thành phố. Điều này mở đầu cho khải tượng về đền thờ mới, làm nổi bật tầm quan trọng của sự hiện diện và ngự giữa dân Ngài của Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:3-4 (VIE1934)
3. Ngài đem ta đến đó, và nầy, có một người, hình dạng người ấy giống như đồng sáng; tay người cầm một dây gai và một cây thước đo, người đứng tại cửa thành.
4. Người ấy nói cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy lấy mắt mà xem, lấy tai mà nghe, và để lòng ngươi chú ý đến mọi điều ta sẽ chỉ cho ngươi xem; vì ngươi được đem đến đây để ta chỉ cho ngươi xem những điều ấy. Hãy thuật lại cho nhà Y-sơ-ra-ên mọi điều ngươi thấy.

Ê-xê-chi-ên gặp một nhân vật có hình dạng giống như đồng sáng, tượng trưng cho sức mạnh và sự tinh sạch, được giao nhiệm vụ dẫn dắt ông đi qua đền thờ. Người này mang theo các dụng cụ đo đạc để đo đền thờ một cách chính xác. Ê-xê-chi-ên được truyền bảo phải quan sát và hiểu rõ từng chi tiết để thuật lại cho Y-sơ-ra-ên, nhấn mạnh mục đích của khải tượng là khôi phục lòng tôn kính đối với sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:5 (VIE1934)
5. Nầy, có một bức tường ở phía ngoài nhà khắp chung quanh. Tay người ấy cầm một cây thước đo dài sáu thước, mỗi thước bằng một thước thường và một gang tay; người đo bề ngang của bức tường, một cây thước, và chiều cao cũng một cây thước.

Bức tường bao quanh đền thờ tượng trưng cho sự phân biệt giữa điều thánh và điều thông thường, nhấn mạnh tính thánh khiết của khu vực đền thờ. Những số đo cụ thể làm nổi bật các tiêu chuẩn chính xác và trật tự mà Đức Chúa Trời đặt ra cho nơi ngự của Ngài. Bức tường cũng tượng trưng cho sự bảo vệ và ranh giới cần thiết để duy trì sự thánh khiết trong việc thờ phượng.

Ê-xê-chi-ên 40:6-16 (VIE1934)
6. Người đi đến cửa hướng về phía đông, lên những bậc thang của cửa ấy, rồi đo ngạch cửa, rộng một cây thước; ngạch cửa kia cũng rộng một cây thước.
7. Mỗi phòng gác của cửa rộng một cây thước và dài một cây thước; khoảng cách giữa các phòng gác là năm thước; ngạch cửa bên trong, gần tiền sảnh của cửa phía trong, rộng một cây thước.
8. Người cũng đo tiền sảnh phía trong của cửa, rộng một cây thước.
9. Người đo tiền sảnh của cửa, dài tám thước, và các trụ cửa, rộng hai thước. Tiền sảnh của cửa ở phía trong.
10. Cửa phía đông có ba phòng gác bên này và ba phòng gác bên kia; cả ba phòng đều có cùng kích thước. Các trụ cửa ở hai bên cũng có cùng kích thước.
11. Người đo chiều rộng lối vào cửa, mười thước; chiều dài của cửa, mười ba thước.
12. Trước các phòng gác có một khoảng trống rộng một thước ở mỗi bên; các phòng gác rộng sáu thước ở bên này và sáu thước ở bên kia.
13. Người đo cửa từ mái phòng gác bên này đến mái phòng gác bên kia; bề rộng là hai mươi lăm thước, cửa đối diện cửa.
14. Người đo các trụ cửa, cao sáu mươi thước; sân kéo dài đến các trụ cửa chung quanh cửa ấy.
15. Từ mặt trước lối vào cửa đến mặt trước tiền sảnh của cửa phía trong là năm mươi thước.
16. Các phòng gác và những vòm nối liền bên trong cửa đều có cửa sổ khung hẹp chung quanh; tiền sảnh cũng vậy. Các cửa sổ ở khắp phía trong. Trên mỗi trụ cửa đều có hình cây chà là.

Cổng phía đông được đo đạc rất tỉ mỉ, với những kích thước cụ thể cho từng bộ phận, từ các phòng gác đến tiền sảnh và các trụ cửa. Cổng hướng đông có thể tượng trưng cho sự khởi đầu của một thời đại mới hoặc cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời, vì hướng đông thường gắn liền với sự hiện diện của Ngài. Những hình cây chà là trang trí trên các trụ cửa có thể tượng trưng cho sự chiến thắng, bình an và sự sống đời đời, phù hợp với mục đích của đền thờ là nơi con người tương giao với Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:17-19 (VIE1934)
17. Người đem ta vào sân ngoài, và nầy, có những phòng và một nền lát đá chạy chung quanh sân; có ba mươi phòng đối diện với nền lát ấy.
18. Nền lát đá nằm dọc theo các cửa, có chiều dài tương ứng với chiều dài các cửa; đó là nền lát phía dưới.
19. Người đo khoảng cách từ mặt trước cửa phía ngoài đến mặt trước phía ngoài của sân trong, một trăm thước, về phía đông và phía bắc.

Sân ngoài, với các phòng và nền lát đá, tượng trưng cho khu vực dành cho những người đến thờ phượng và các hoạt động khác nhau của đền thờ. Ba mươi phòng dọc theo sân cho thấy có đủ không gian để dân chúng và các thầy tế lễ chuẩn bị cũng như tiến hành những nghi lễ. Các số đo cho thấy sự rộng lớn và trật tự của đền thờ, với những khoảng cách cụ thể góp phần tạo nên cấu trúc và thiết kế tổng thể.

Ê-xê-chi-ên 40:20-23 (VIE1934)
20. Cửa phía ngoài của sân, hướng về phía bắc, cũng được đo chiều dài và chiều rộng.
21. Các phòng gác của cửa ấy có ba phòng bên này và ba phòng bên kia; các trụ cửa và những vòm của nó có cùng kích thước như cửa thứ nhất. Cửa dài năm mươi thước và rộng hai mươi lăm thước.
22. Các cửa sổ, những vòm và hình cây chà là của nó có cùng kích thước như cửa hướng về phía đông. Người ta đi lên cửa ấy bằng bảy bậc thang, và vòm cửa ở phía trước.
23. Có một cửa của sân trong đối diện với cửa phía bắc, giống như cửa phía đông; người đo khoảng cách từ cửa này đến cửa kia là một trăm thước.

Cổng phía bắc phản chiếu thiết kế và kích thước của cổng phía đông, làm nổi bật tính đối xứng của đền thờ. Bảy bậc thang dẫn lên cổng tượng trưng cho sự trọn vẹn và tiến đến gần Đức Chúa Trời. Việc lặp lại những chi tiết như cửa sổ và hình cây chà là càng nhấn mạnh thiết kế nhất quán của đền thờ, qua đó làm nổi bật trật tự và vẻ đẹp thiêng liêng.

Ê-xê-chi-ên 40:24-27 (VIE1934)
24. Sau đó, người đem ta về phía nam; nầy, có một cửa hướng về phía nam. Người đo các trụ cửa và những vòm của nó theo cùng những kích thước ấy.
25. Cửa ấy và các vòm chung quanh cũng có những cửa sổ giống như các cửa sổ kia. Cửa dài năm mươi thước và rộng hai mươi lăm thước.
26. Có bảy bậc thang dẫn lên cửa ấy, vòm cửa ở phía trước; trên các trụ cửa có hình cây chà là, một hình ở bên này và một hình ở bên kia.
27. Cũng có một cửa của sân trong hướng về phía nam; người đo khoảng cách từ cửa này đến cửa kia về phía nam là một trăm thước.

Cổng phía nam có cấu trúc tương tự, với những kích thước, cửa sổ và hình cây chà là trang trí giống như các cổng khác, củng cố tính đồng nhất của đền thờ. Sự đối xứng giữa cả ba cổng phía đông, phía bắc và phía nam tượng trưng cho một cách tiếp cận có trật tự trong việc thờ phượng. Những yếu tố nhất quán này nhắc nhở về sự thánh khiết và vẻ đẹp của sự hiện diện Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:28-37 (VIE1934)
28. Người đem ta vào sân trong qua cửa phía nam; người đo cửa phía nam theo cùng những kích thước ấy.
29. Các phòng gác, các trụ cửa và những vòm của cửa ấy cũng có cùng kích thước. Cửa có các cửa sổ chung quanh, dài năm mươi thước và rộng hai mươi lăm thước.
30. Các vòm chung quanh dài hai mươi lăm thước và rộng năm thước.
31. Các vòm cửa hướng về sân ngoài; trên các trụ cửa có hình cây chà là, và có tám bậc thang dẫn lên cửa ấy.
32. Người đem ta vào sân trong, hướng về phía đông; người đo cửa theo cùng những kích thước ấy.
33. Các phòng gác, các trụ cửa và những vòm của cửa ấy cũng có cùng kích thước. Cửa có các cửa sổ chung quanh, dài năm mươi thước và rộng hai mươi lăm thước.
34. Các vòm cửa hướng về sân ngoài; trên các trụ cửa ở cả hai bên đều có hình cây chà là, và có tám bậc thang dẫn lên cửa ấy.
35. Người đem ta đến cửa phía bắc và đo nó theo cùng những kích thước ấy,
36. cùng với các phòng gác, các trụ cửa và những vòm của nó. Cửa có các cửa sổ chung quanh, dài năm mươi thước và rộng hai mươi lăm thước.
37. Các trụ cửa hướng về sân ngoài; trên các trụ cửa ở cả hai bên đều có hình cây chà là, và có tám bậc thang dẫn lên cửa ấy.

Trong sân trong, mỗi cổng—phía nam, phía đông và phía bắc—đều tương tự như các cổng của sân ngoài, nhưng có tám bậc thang thay vì bảy, biểu thị một cấp độ thánh khiết cao hơn. Những số đo được lặp lại này nhấn mạnh tính nhất quán trong thiết kế, trong khi vị trí cao hơn của sân trong càng làm nổi bật sự thánh khiết của khu vực gần với sự hiện diện của Đức Chúa Trời hơn.

Theo cách trình bày này, mỗi câu hoặc từng phần có thể được phân tích cho đến cuối chương. Phương pháp này giúp nội dung rõ ràng và duy trì bối cảnh khải tượng về đền thờ của Ê-xê-chi-ên. Nếu muốn tôi tiếp tục với phần còn lại của chương, hãy cho tôi biết!

Ê-xê-chi-ên 40:38-43 (VIE1934)
38. Có một phòng với lối vào ở gần các trụ cửa, tại đó người ta rửa của lễ thiêu.
39. Trong tiền sảnh của cửa có hai cái bàn ở bên này và hai cái bàn ở bên kia, trên đó người ta giết các của lễ thiêu, của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi.
40. Ở phía ngoài tiền sảnh, khi đi lên lối vào cửa phía bắc, có hai cái bàn; phía bên kia tiền sảnh của cửa cũng có hai cái bàn.
41. Có bốn cái bàn ở bên này và bốn cái bàn ở bên kia, cạnh cửa; tổng cộng tám cái bàn dùng để giết các sinh tế.
42. Cũng có bốn cái bàn bằng đá đẽo, dùng cho của lễ thiêu, mỗi bàn dài một thước rưỡi, rộng một thước rưỡi và cao một thước. Trên đó người ta đặt những dụng cụ dùng để giết các của lễ thiêu và các sinh tế.
43. Các móc rộng một gang tay được gắn chung quanh phía trong; thịt của các sinh tế được đặt trên những cái bàn.

Những câu này mô tả khu vực chuẩn bị các của lễ, nhấn mạnh cách bố trí chi tiết dành cho việc dâng tế lễ. Các bàn và những chiếc móc tượng trưng cho những công việc thực tế trong nghi lễ thờ phượng, nơi các của lễ được chuẩn bị với lòng tôn kính và sự sạch sẽ. Những trang bị này củng cố vai trò của đền thờ như một nơi chuộc tội, làm nổi bật sự chuẩn bị cẩn thận cần thiết cho mỗi của lễ. Vị trí cụ thể của các vật dụng nhấn mạnh trật tự cần thiết trong việc thờ phượng tại đền thờ thánh của Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:44-46 (VIE1934)
44. Ở phía ngoài cửa trong có các phòng dành cho những người ca hát trong sân trong; một phòng quay về phía nam, bên cạnh cửa phía bắc, và phòng kia quay về phía bắc, bên cạnh cửa phía nam.
45. Người nói cùng ta rằng: Phòng quay về phía nam dành cho các thầy tế lễ có trách nhiệm coi sóc đền thờ.
46. Phòng quay về phía bắc dành cho các thầy tế lễ có trách nhiệm coi sóc bàn thờ. Những người này là con cháu Xa-đốc, thuộc dòng Lê-vi, là những người đến gần Đức Giê-hô-va để phục vụ Ngài.

Các phòng dành cho người ca hát và các thầy tế lễ làm nổi bật vai trò của âm nhạc và chức vụ tế lễ trong việc thờ phượng tại đền thờ. Các thầy tế lễ, đặc biệt là những người thuộc dòng Xa-đốc, được giao phó trách nhiệm coi sóc đền thờ và phục vụ tại bàn thờ. Việc bố trí những phòng riêng cho người ca hát và các thầy tế lễ phản ánh một hình thức thờ phượng có tổ chức, trong đó mỗi nhóm đều có nơi dành riêng, tượng trưng cho cách tiếp cận sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong trật tự và lòng tôn kính.

Ê-xê-chi-ên 40:47 (VIE1934)
47. Người đo sân, dài một trăm thước, rộng một trăm thước, hình vuông. Bàn thờ ở trước đền thờ.

Sân hình vuông, với bàn thờ được đặt ở phía trước đền thờ, nhấn mạnh tính đối xứng và cân bằng, tượng trưng cho sự hoàn hảo và thánh khiết của Đức Chúa Trời. Vị trí của bàn thờ trước đền thờ cho thấy tầm quan trọng của nó như trung tâm của việc dâng tế lễ và các của lễ, là nơi dân chúng có thể tìm kiếm sự chuộc tội và tương giao với Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 40:48-49 (VIE1934)
48. Người đem ta đến tiền sảnh của đền thờ và đo các trụ cửa tiền sảnh, mỗi bên rộng năm thước; chiều rộng của cửa là ba thước ở mỗi bên.
49. Tiền sảnh dài hai mươi thước và rộng mười một thước. Có những bậc thang dẫn lên tiền sảnh, và hai cây trụ ở hai bên các trụ cửa, một cây bên này và một cây bên kia.

Tiền sảnh là lối vào chính của đền thờ, với những số đo và các cây trụ nhấn mạnh tầm quan trọng của nó như ranh giới chuyển tiếp giữa các sân bên ngoài và nơi thánh bên trong. Những cây trụ ở hai bên trụ cửa tượng trưng cho sức mạnh và sự vững chắc, trong khi các kích thước cụ thể làm nổi bật sự chính xác và kế hoạch cẩn thận đặc trưng cho không gian thánh này. Lối vào này đánh dấu tiến trình đi đến những khu vực sâu bên trong đền thờ, tượng trưng cho việc đến gần hơn với sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời.

bottom of page