
1 Các Vua 2
Chương này ghi lại những lời cuối cùng và lời chỉ dẫn của vua Đa-vít dành cho con trai mình là Sa-lô-môn khi ông chuẩn bị qua đời và Sa-lô-môn kế vị làm vua. Đa-vít khuyên Sa-lô-môn cách đối xử với một số người, cả bạn lẫn kẻ thù, đồng thời hướng dẫn ông thiết lập một triều đại vững mạnh và công bình. Chương này cũng kể lại cách Sa-lô-môn củng cố quyền cai trị bằng cách xử lý những mối đe dọa tiềm tàng đối với vương quốc.
1 Các Vua 2:1-5 (VIE1934)
1 Khi ngày Đa-vít gần qua đời, người truyền dặn Sa-lô-môn, con trai mình, rằng:
2 Ta đi theo đường chung của cả thế gian; vậy, hãy mạnh mẽ và nên người trượng phu.
3 Hãy giữ lời phán dặn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đi theo đường lối Ngài, gìn giữ các luật lệ, điều răn, mạng lịnh và chứng cớ Ngài, y như đã chép trong luật pháp Môi-se, hầu cho ngươi được thạnh vượng trong mọi việc mình làm, và trong mọi nơi mình đi đến;
4 hầu cho Đức Giê-hô-va làm trọn lời Ngài đã phán về ta rằng: Nếu con trai ngươi giữ đường lối mình, hết lòng hết linh hồn bước đi cách thành thật trước mặt ta, thì Ngài phán, ngươi sẽ chẳng hề thiếu một người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.
5 Vả lại, ngươi biết điều Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, đã làm cho ta, và điều hắn đã làm cho hai quan tổng binh của Y-sơ-ra-ên, là Aùp-ne, con trai Nê-rơ, và A-ma-sa, con trai Giê-the, mà hắn đã giết; hắn đã làm đổ máu chiến tranh giữa lúc hòa bình, và làm cho máu chiến tranh dính trên dây nịt mình và trên giày mình.
Đa-vít gần qua đời nên khuyên Sa-lô-môn phải mạnh mẽ và chứng tỏ mình là một người trưởng thành, có trách nhiệm trong vai trò vua. Nhưng điều quan trọng đầu tiên Đa-vít nhấn mạnh không phải là quyền lực chính trị mà là sự vâng lời Đức Chúa Trời. Sa-lô-môn phải đi trong đường lối của Ngài, giữ luật pháp và các điều răn. Đa-vít nhắc lại lời hứa của Đức Chúa Trời rằng nếu các con trai ông trung tín với Ngài, dòng dõi ông sẽ tiếp tục ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên. Sau đó, Đa-vít nói đến Giô-áp, người đã giết Aùp-ne và A-ma-sa trong thời bình. Đối với Đa-vít, những hành động đó là một món nợ công lý chưa được giải quyết và cần phải được xử lý để tránh cho sự đổ máu vô tội tiếp tục ảnh hưởng đến vương quốc.
1 Các Vua 2:6-9 (VIE1934)
6 Vậy, hãy tùy theo sự khôn ngoan ngươi mà xử với hắn, chớ để cho tóc bạc hắn xuống mồ bình an.
7 Nhưng hãy lấy lòng nhân từ đãi các con trai của Ba-xi-lai, người Ga-la-át, cho chúng nó ăn tại bàn ngươi; vì chúng nó đã đến cùng ta khi ta trốn khỏi Áp-sa-lôm, anh ngươi.
8 Kìa, ngươi còn có Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min, ở Ba-hu-rim, là kẻ đã rủa sả ta cách độc ác ngày ta đi đến Ma-ha-na-im; nhưng hắn có xuống đón ta bên sông Giô-đanh, và ta có thề cùng hắn bởi Đức Giê-hô-va rằng: Ta sẽ chẳng dùng gươm giết ngươi.
9 Vậy, bây giờ, chớ coi hắn như vô tội; vì ngươi là người khôn ngoan, biết phải làm gì với hắn; hãy làm cho tóc bạc hắn xuống mồ trong máu.
Đa-vít tiếp tục chỉ dẫn Sa-lô-môn về Giô-áp và Si-mê-i, cho thấy những hành động trong quá khứ của họ không thể đơn giản bị bỏ qua. Ông giao việc xử lý họ cho sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, để ông hành động một cách thích hợp. Tuy nhiên, Đa-vít cũng nhắc Sa-lô-môn nhớ đến lòng trung thành của gia đình Ba-xi-lai. Khi Đa-vít chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm, các con trai của Ba-xi-lai đã giúp đỡ ông, và vì vậy họ phải được đối xử tử tế. Những lời này cho thấy Đa-vít muốn Sa-lô-môn vừa nhớ đến những món nợ cần được giải quyết, vừa biết ghi nhớ và đền đáp lòng trung thành.
1 Các Vua 2:10-12 (VIE1934)
10 Đa-vít an giấc với các tổ phụ mình, và được chôn trong thành Đa-vít.
11 Những ngày Đa-vít cai trị trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: người cai trị tại Hếp-rôn bảy năm, và tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.
12 Sa-lô-môn ngồi trên ngai của Đa-vít, cha mình; và nước người được vững chắc lắm.
Sau bốn mươi năm cai trị, Đa-vít qua đời và được chôn trong thành Đa-vít. Triều đại của ông kết thúc, mở ra một giai đoạn mới dưới sự cai trị của Sa-lô-môn. Sa-lô-môn kế vị cha mình và quyền cai trị của ông nhanh chóng được củng cố. Di sản của Đa-vít tạo nền tảng cho triều đại mới, nhưng Sa-lô-môn vẫn phải hành động khôn ngoan để duy trì sự ổn định của vương quốc và tiếp tục bước đi trong giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Đa-vít.
1 Các Vua 2:13-18 (VIE1934)
13 A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đến cùng Bát-Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn. Bát-Sê-ba hỏi rằng: Ngươi đến có phải bình an chăng? Người đáp rằng: Bình an.
14 Người lại nói rằng: Tôi có một lời muốn nói cùng bà. Bà đáp: Hãy nói đi.
15 Người nói rằng: Bà biết rằng nước vốn thuộc về tôi, và cả Y-sơ-ra-ên đều trông đợi tôi làm vua; nhưng nước đã đổi, và trở nên của em tôi, vì ấy là của nó bởi Đức Giê-hô-va.
16 Bây giờ, tôi xin bà một điều; xin chớ từ chối. Bà đáp: Hãy nói đi.
17 Người nói rằng: Xin bà hãy nói cùng vua Sa-lô-môn, vì vua sẽ chẳng từ chối bà, để vua gả A-bi-sác, người Su-nem, cho tôi làm vợ.
18 Bát-Sê-ba đáp rằng: Được, ta sẽ nói cho vua về việc ấy.
A-đô-ni-gia đến gặp Bát-Sê-ba với một lời thỉnh cầu có vẻ vô hại, nhưng đằng sau đó có một ý nghĩa chính trị nghiêm trọng. Sau khi thất bại trong việc chiếm ngai trước đây, ông xin được cưới A-bi-sác, người Su-nem, là người từng phục vụ Đa-vít. Trong bối cảnh vương quyền thời đó, việc một người kế vị lấy người phụ nữ từng thuộc về vị vua trước có thể được xem như một dấu hiệu cho thấy người ấy đang đưa ra yêu sách đối với ngai vua. A-đô-ni-gia thừa nhận rằng vương quyền đã được trao cho Sa-lô-môn bởi Đức Giê-hô-va, nhưng yêu cầu này vẫn có thể trở thành một thách thức đối với quyền cai trị của Sa-lô-môn. Bát-Sê-ba chưa nhận ra ý nghĩa chính trị sâu xa của lời thỉnh cầu nên đồng ý trình bày với Sa-lô-môn.
1 Các Vua 2:19-25 (VIE1934)
19 Bát-Sê-ba đến cùng vua Sa-lô-môn đặng nói với vua về việc của A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đón mẹ mình, cúi mình trước mặt mẹ, rồi ngồi trên ngai mình, và khiến đặt một ngai cho mẹ vua; mẹ vua ngồi bên hữu vua.
20 Bát-Sê-ba nói rằng: Tôi xin vua một điều nhỏ; xin chớ từ chối tôi. Vua đáp rằng: Mẹ ơi, hãy xin đi, tôi sẽ chẳng từ chối mẹ.
21 Nàng nói rằng: Xin hãy gả A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia, anh vua.
22 Vua Sa-lô-môn đáp cùng mẹ mình rằng: Cớ sao mẹ xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Xin mẹ hãy xin cho người cả nước đi! Vì người là anh tôi, và cho A-bi-tha, thầy tế lễ, và cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia!
23 Vua Sa-lô-môn chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng: Nguyện Đức Chúa Trời giáng họa cho tôi, và giáng họa thêm nữa, nếu A-đô-ni-gia chẳng nói lời nầy nghịch cùng mạng sống mình!
24 Bây giờ, thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã lập tôi làm vua và đặt tôi ngồi trên ngai của Đa-vít, cha tôi, và đã lập nhà cho tôi như Ngài đã phán hứa, ngày nay A-đô-ni-gia sẽ phải chết.
25 Vua Sa-lô-môn sai Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đi; người đánh giết A-đô-ni-gia, và người chết.
Khi Bát-Sê-ba trình bày lời yêu cầu của A-đô-ni-gia, Sa-lô-môn lập tức nhận ra ý nghĩa chính trị của nó. Ông hiểu rằng A-đô-ni-gia không chỉ đơn giản muốn cưới A-bi-sác, mà có thể đang tìm cách khẳng định lại yêu sách đối với vương quyền. Vì A-đô-ni-gia trước đây đã từng tự xưng làm vua, Sa-lô-môn xem hành động này là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngai của mình. Ông tuyên bố rằng A-đô-ni-gia đã tự chuốc lấy án chết và sai Bê-na-gia xử tử ông. Qua đó, Sa-lô-môn loại bỏ một người từng trực tiếp tranh giành ngai vua với mình.
1 Các Vua 2:26-27 (VIE1934)
26 Vua lại nói cùng A-bi-tha, thầy tế lễ, rằng: Hãy đi đến A-na-tốt, trong ruộng của ngươi; vì ngươi đáng chết, nhưng ngày nay ta không giết ngươi, bởi vì ngươi đã khiêng hòm của Chúa Giê-hô-va trước mặt Đa-vít, cha ta, và vì ngươi đã chịu mọi sự khốn khổ mà cha ta đã chịu.
27 Vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bi-tha khỏi chức thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, để làm ứng nghiệm lời Đức Giê-hô-va đã phán tại Si-lô về nhà Hê-li.
Sa-lô-môn không xử tử A-bi-tha vì ông nhớ đến sự phục vụ trung thành của người này đối với Đa-vít, đặc biệt là việc ông đã mang hòm giao ước và chia sẻ những hoạn nạn của Đa-vít. Tuy nhiên, Sa-lô-môn loại ông khỏi chức thầy tế lễ và truyền ông trở về A-na-tốt. Điều này làm ứng nghiệm lời Đức Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li tại Si-lô. Việc A-bi-tha bị loại khỏi chức vụ cũng làm suy yếu một nhân vật từng ủng hộ A-đô-ni-gia và góp phần củng cố sự ổn định của triều đại mới.
1 Các Vua 2:28-35 (VIE1934)
28 Tin nầy đến tai Giô-áp; vì Giô-áp đã theo A-đô-ni-gia, dầu trước kia không theo Áp-sa-lôm. Giô-áp bèn trốn đến đền tạm của Đức Giê-hô-va, và nắm lấy các sừng của bàn thờ.
29 Người ta báo cho vua Sa-lô-môn rằng: Giô-áp đã trốn đến đền tạm của Đức Giê-hô-va; kìa, người ở gần bàn thờ. Sa-lô-môn sai Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đi mà rằng: Hãy đi đánh giết hắn.
30 Bê-na-gia đến đền tạm của Đức Giê-hô-va, nói cùng hắn rằng: Vua phán như vầy: Hãy đi ra! Hắn đáp: Không, ta sẽ chết tại đây. Bê-na-gia trở về tâu cùng vua rằng: Giô-áp đã nói và đã đáp cùng tôi như vậy.
31 Vua phán rằng: Hãy làm y như hắn đã nói, đánh giết hắn và chôn hắn đi; ngươi sẽ cất khỏi ta và nhà cha ta huyết vô tội mà Giô-áp đã làm đổ.
32 Đức Giê-hô-va sẽ báo ứng huyết hắn đã đổ trên đầu hắn, vì hắn đã đánh giết hai người công bình và tốt hơn hắn, tức là Aùp-ne, con trai Nê-rơ, quan tổng binh Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con trai Giê-the, quan tổng binh Giu-đa, mà cha ta là Đa-vít không hay biết.
33 Huyết của họ sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và trên đầu dòng dõi hắn đời đời; nhưng Đa-vít, dòng dõi người, nhà người, và ngai người sẽ được bình an đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va.
34 Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đi lên, đánh giết hắn, và hắn chết; hắn được chôn trong nhà mình tại đồng vắng.
35 Vua lập Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, thế chức Giô-áp, coi sóc đạo binh; vua lập Xa-đốc, thầy tế lễ, thế chức A-bi-tha.
Giô-áp biết rằng những hành động trong quá khứ của mình cuối cùng đã đuổi kịp ông. Ông chạy đến đền tạm và nắm lấy các sừng của bàn thờ để tìm nơi trú ẩn. Tuy nhiên, Sa-lô-môn không coi việc Giô-áp bám lấy bàn thờ là lý do để bỏ qua những tội ác ông đã phạm. Giô-áp đã giết Aùp-ne và A-ma-sa trong thời bình, và những người này không đáng phải chết. Vì vậy, Sa-lô-môn ra lệnh xử tử Giô-áp. Sau khi Giô-áp chết, Bê-na-gia được lập lên thay ông làm quan tổng binh, còn Xa-đốc thay A-bi-tha làm thầy tế lễ. Những thay đổi này giúp Sa-lô-môn củng cố bộ máy cai trị của mình.
1 Các Vua 2:36-46 (VIE1934)
36 Vua sai gọi Si-mê-i, nói rằng: Hãy xây cho ngươi một nhà tại Giê-ru-sa-lem, ở tại đó, chớ đi ra khỏi đó đến nơi nào.
37 Vì chắc rằng ngày nào ngươi đi ra và qua khỏi khe Xết-rôn, thì ngày đó ngươi sẽ chết; huyết ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.
38 Si-mê-i thưa cùng vua rằng: Lời vua nói là tốt; tôi tớ vua sẽ làm theo lời chúa tôi là vua. Vậy, Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.
39 Nhưng xảy ra cuối ba năm, hai đứa đầy tớ của Si-mê-i trốn đi đến A-kích, con trai Ma-a-ca, vua Gát. Người ta báo cho Si-mê-i rằng: Kìa, hai đứa đầy tớ ngươi ở tại Gát.
40 Si-mê-i bèn chỗi dậy, thắng lừa, đi đến Gát, đến A-kích đặng tìm đầy tớ mình; Si-mê-i đi, đem đầy tớ mình từ Gát về.
41 Người ta báo cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i đã đi khỏi Giê-ru-sa-lem đến Gát, và đã trở về.
42 Vua sai gọi Si-mê-i, nói rằng: Ta há chẳng bắt ngươi thề bởi Đức Giê-hô-va, và cảnh cáo ngươi rằng: Chắc chắn ngày nào ngươi đi ra và đi đến nơi nào, thì ngày đó ngươi sẽ chết sao? Ngươi lại nói với ta rằng: Lời vua nói là tốt.
43 Cớ sao ngươi không giữ lời thề của Đức Giê-hô-va và điều răn ta đã truyền cho ngươi?
44 Vua lại nói cùng Si-mê-i rằng: Ngươi biết trong lòng ngươi mọi điều ác ngươi đã làm cho Đa-vít, cha ta; vậy, Đức Giê-hô-va sẽ báo ứng điều ác ngươi đã làm trên đầu ngươi.
45 Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được phước, và ngai Đa-vít sẽ được lập vững trước mặt Đức Giê-hô-va đời đời.
46 Vua truyền cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa; người đi ra đánh giết Si-mê-i, và người chết. Nước được vững chắc trong tay Sa-lô-môn.
Sa-lô-môn đặt Si-mê-i dưới sự hạn chế rõ ràng: ông phải sống tại Giê-ru-sa-lem và không được vượt qua khe Xết-rôn. Si-mê-i đồng ý và thề sẽ tuân theo. Tuy nhiên, ba năm sau, khi hai người đầy tớ của ông trốn đến Gát, Si-mê-i rời khỏi Giê-ru-sa-lem để tìm họ. Ông đã vi phạm điều kiện mà mình đã cam kết. Khi biết việc này, Sa-lô-môn truyền xử tử Si-mê-i. Với cái chết của Si-mê-i và việc loại bỏ những nhân vật từng có khả năng gây bất ổn, quyền cai trị của Sa-lô-môn được củng cố. Chương kết thúc bằng lời tuyên bố rằng vương quốc đã được vững chắc trong tay Sa-lô-môn.

