top of page

1 Các Vua 6

Chương này tập trung vào việc xây dựng đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, mà Sa-lô-môn bắt đầu xây vào năm thứ tư trong triều đại mình. Đền thờ là một công trình lớn lao và thánh khiết, trở thành nơi thờ phượng trung tâm của dân Y-sơ-ra-ên. Chương này mô tả chi tiết về kích thước, vật liệu và những đặc điểm trong thiết kế của đền thờ, cho thấy tầm quan trọng của công trình thánh này.

1 Các Vua 6:1-5 (VIE1934)
1 Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức năm thứ tư đời trị vì của Sa-lô-môn trên Y-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, là tháng thứ hai, thì người khởi công xây cất đền của Đức Giê-hô-va.
2 Đền mà vua Sa-lô-môn xây cho Đức Giê-hô-va dài sáu mươi cu-bít, rộng hai mươi cu-bít, và cao ba mươi cu-bít.
3 Hành lang trước nơi thánh của đền dài hai mươi cu-bít, ngang theo bề rộng của đền; bề rộng hành lang là mười cu-bít, ở phía trước đền.
4 Vua làm các cửa sổ có khung và song ở trong đền.
5 Dọc theo vách đền, chung quanh nơi thánh và nơi chí thánh, người xây các phòng bên cạnh chung quanh.

Việc xây dựng đền thờ bắt đầu 480 năm sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, cho thấy đây là một thời điểm quan trọng trong lịch sử của dân sự Đức Chúa Trời. Đền thờ của Sa-lô-môn có chiều dài sáu mươi cu-bít, rộng hai mươi cu-bít và cao ba mươi cu-bít, là một công trình rất lớn lao. Hành lang phía trước tạo thành lối vào của đền. Các cửa sổ và những phòng bên cạnh vừa có giá trị thực tế vừa làm cho công trình trở nên đẹp đẽ và trang trọng. Những chi tiết này cho thấy sự cẩn thận và lòng tôn kính được dành cho nơi được biệt riêng cho sự thờ phượng Đức Chúa Trời.

1 Các Vua 6:6 (VIE1934)
6 Tầng dưới rộng năm cu-bít, tầng giữa rộng sáu cu-bít, tầng thứ ba rộng bảy cu-bít; vì bên ngoài vách đền, chung quanh, vua làm những chỗ giật cấp, hầu cho các xà không phải đâm vào vách đền.

Các phòng bên cạnh của đền được thiết kế với chiều rộng tăng dần từ tầng dưới lên tầng trên, tạo thêm không gian ở các tầng cao hơn. Sa-lô-môn cũng cho làm những chỗ giật cấp bên ngoài vách đền để các xà có thể được nâng đỡ mà không cần đục xuyên vào các vách chính của đền. Thiết kế này cho thấy sự cẩn thận trong việc bảo vệ cấu trúc của đền thờ, đồng thời giữ cho công trình được xây dựng theo một trật tự và thiết kế phù hợp.

1 Các Vua 6:7 (VIE1934)
7 Khi xây đền, người ta dùng đá đã đẽo sẵn tại nơi khai thác, đến đỗi trong khi xây đền, không nghe tiếng búa, tiếng đục, hay bất cứ dụng cụ bằng sắt nào.

Đá được đẽo và chuẩn bị trước tại nơi khai thác, vì vậy không có tiếng búa, tiếng đục hay dụng cụ bằng sắt vang lên tại công trường. Điều này nhấn mạnh sự trang nghiêm của việc xây dựng đền thờ. Nơi được biệt riêng cho sự thờ phượng Đức Chúa Trời được xây dựng trong sự yên tĩnh, không có những âm thanh ồn ào của việc đẽo đá và thi công.

1 Các Vua 6:8-9 (VIE1934)
8 Cửa vào các phòng giữa ở phía hữu đền; người ta đi lên bằng thang đến tầng giữa, rồi từ tầng giữa đến tầng thứ ba.
9 Vậy, vua xây đền và làm xong; người đóng ván gỗ bá hương trên các xà và các tấm ván của đền.

Lối vào các phòng bên cạnh được bố trí ở phía hữu của đền, với cầu thang dẫn lên các tầng cao hơn. Cách bố trí này cho thấy công trình được thiết kế cẩn thận để vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng vừa giữ được trật tự của khu vực thánh. Gỗ bá hương được sử dụng để ốp và hoàn thiện công trình, góp phần tạo nên vẻ đẹp và sự trang trọng của đền thờ.

1 Các Vua 6:10 (VIE1934)
10 Người xây các phòng bên cạnh chung quanh đền, mỗi phòng cao năm cu-bít, và dùng những cây gỗ bá hương nối chúng với đền.

Các phòng bên cạnh chung quanh đền cao năm cu-bít và được nối với đền bằng những cây gỗ bá hương. Những phòng này có chức năng thực tế, nhưng vẫn được xây dựng bằng vật liệu quý và phù hợp với vẻ trang trọng của toàn bộ công trình. Điều này tạo nên sự thống nhất giữa các phần khác nhau của đền thờ.

1 Các Vua 6:11-13 (VIE1934)
11 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-lô-môn rằng:
12 Về đền nầy ngươi đang xây, nếu ngươi đi theo luật lệ ta, làm theo mạng lịnh ta, giữ các điều răn ta, và đi theo các điều đó, thì ta sẽ làm cho ngươi ứng nghiệm lời ta đã phán cùng Đa-vít, cha ngươi.
13 Ta sẽ ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, chẳng lìa bỏ dân Y-sơ-ra-ên ta.

Đức Chúa Trời nhắc Sa-lô-môn rằng sự hiện diện của Ngài giữa dân Y-sơ-ra-ên không chỉ tùy thuộc vào việc xây dựng một công trình nguy nga. Điều quan trọng hơn là sự vâng lời của nhà vua và dân sự đối với luật lệ, mạng lịnh và điều răn của Ngài. Đền thờ có một vị trí rất quan trọng trong sự thờ phượng, nhưng bản thân tòa nhà không thể thay thế cho sự trung tín với Đức Chúa Trời. Lời hứa này cũng liên kết với giao ước Đức Chúa Trời đã lập với Đa-vít, nhắc Sa-lô-môn rằng mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài phải được đặt trên nền tảng của sự vâng lời và trung tín.

1 Các Vua 6:14-18 (VIE1934)
14 Vậy, Sa-lô-môn xây đền và làm xong.
15 Người dùng ván gỗ bá hương đóng vách trong đền, từ nền đến trần; dùng ván gỗ thông lót nền đền.
16 Người đóng ván bá hương phía trong, từ nền đến trần, dài hai mươi cu-bít, làm nơi chí thánh ở phía sau đền.
17 Phần đền, tức là nơi thánh ở phía trước nơi chí thánh, dài bốn mươi cu-bít.
18 Gỗ bá hương ở phía trong đền, chạm trổ hình trái bầu và hoa nở; mọi vật đều bằng gỗ bá hương, chẳng thấy đá.

Các vách bên trong và nền của đền được phủ bằng những loại gỗ quý như bá hương và gỗ thông, tạo nên một không gian trang trọng và đẹp đẽ. Ở phía sau đền có một căn phòng dài hai mươi cu-bít, được biệt riêng làm nơi chí thánh. Những hình chạm trổ về trái bầu và hoa nở trên gỗ bá hương làm tăng thêm vẻ đẹp của nội thất. Đá xây dựng không còn được nhìn thấy bên trong, vì toàn bộ bề mặt đã được hoàn thiện bằng gỗ.

1 Các Vua 6:19-22 (VIE1934)
19 Người chuẩn bị nơi chí thánh ở phía trong đền, đặng đặt hòm giao ước của Đức Giê-hô-va tại đó.
20 Nơi chí thánh dài hai mươi cu-bít, rộng hai mươi cu-bít, cao hai mươi cu-bít; người bọc nó bằng vàng ròng, và bọc bàn thờ bằng gỗ bá hương.
21 Sa-lô-môn bọc phía trong đền bằng vàng ròng, giăng những dây chuyền vàng trước nơi chí thánh, và bọc nơi ấy bằng vàng.
22 Người bọc cả đền bằng vàng, cho đến khi làm xong toàn đền; người cũng bọc bằng vàng cả bàn thờ ở nơi chí thánh.

Nơi chí thánh được chuẩn bị đặc biệt để đặt hòm giao ước của Đức Giê-hô-va. Căn phòng có chiều dài, chiều rộng và chiều cao đều bằng hai mươi cu-bít, tạo thành một khối hình lập phương hoàn chỉnh. Vàng ròng được dùng rất nhiều để phủ nơi chí thánh, bên trong đền và bàn thờ. Việc sử dụng vàng phong phú nhấn mạnh sự quý báu, trang trọng và vinh hiển của nơi được biệt riêng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

1 Các Vua 6:23-28 (VIE1934)
23 Trong nơi chí thánh, người làm hai chê-ru-bin bằng gỗ ô-li-ve, mỗi cái cao mười cu-bít.
24 Một cánh của chê-ru-bin dài năm cu-bít, cánh kia cũng dài năm cu-bít; từ đầu cánh nầy đến đầu cánh kia là mười cu-bít.
25 Chê-ru-bin kia cũng cao mười cu-bít; cả hai chê-ru-bin đều đồng một kích thước và một hình trạng.
26 Chê-ru-bin nầy cao mười cu-bít, chê-ru-bin kia cũng vậy.
27 Người đặt các chê-ru-bin trong phòng phía trong; cánh của chê-ru-bin nầy giang ra, chạm vách nầy, cánh của chê-ru-bin kia giang ra, chạm vách kia; hai cánh của chúng chạm nhau ở giữa phòng.
28 Người bọc các chê-ru-bin bằng vàng.

Hai chê-ru-bin lớn được làm bằng gỗ ô-li-ve và phủ vàng, rồi đặt trong nơi chí thánh. Cánh của chúng trải rộng khắp căn phòng, một bên chạm vào vách và hai cánh còn lại gặp nhau ở giữa. Sự hiện diện của các chê-ru-bin làm nổi bật tính thánh khiết đặc biệt của nơi chí thánh, nơi đặt hòm giao ước. Hình ảnh các chê-ru-bin cũng nhắc đến mối liên hệ giữa nơi Đức Chúa Trời hiện diện và các sứ giả trên trời của Ngài.

1 Các Vua 6:29-30 (VIE1934)
29 Người chạm trổ hình chê-ru-bin, cây chà là, và hoa nở trên hết thảy các vách đền, chung quanh, trong và ngoài.
30 Người cũng bọc nền đền bằng vàng, trong và ngoài.

Các vách của đền được chạm trổ rất công phu với hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở. Những hình ảnh này góp phần tạo nên vẻ đẹp đặc biệt cho đền thờ và nhấn mạnh tính thánh khiết của nơi này. Nền đền cũng được phủ bằng vàng cả ở phía trong lẫn phía ngoài. Toàn bộ công trình được thiết kế để thể hiện sự trang trọng của nơi được biệt riêng cho sự thờ phượng Đức Chúa Trời.

1 Các Vua 6:31-33 (VIE1934)
31 Người làm cửa nơi chí thánh bằng gỗ ô-li-ve; khung cửa và trụ cửa bằng một phần năm bề rộng vách.
32 Hai cánh cửa bằng gỗ ô-li-ve; người chạm trên đó hình chê-ru-bin, cây chà là, và hoa nở, rồi bọc vàng; người dát vàng trên các chê-ru-bin và cây chà là.
33 Cũng vậy, người làm cửa nơi thánh bằng gỗ ô-li-ve; khung cửa bằng một phần tư bề rộng vách.

Cửa vào nơi chí thánh cũng được chế tác rất công phu. Hai cánh cửa bằng gỗ ô-li-ve được chạm trổ hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở, rồi phủ vàng. Thiết kế của những cánh cửa phù hợp với vẻ đẹp và sự trang nghiêm của toàn bộ đền thờ. Cánh cửa cũng đánh dấu sự phân cách giữa những khu vực có mức độ thánh khiết khác nhau, đặc biệt là lối vào nơi chí thánh.

1 Các Vua 6:34-35 (VIE1934)
34 Người cũng làm hai cánh cửa bằng gỗ thông; hai cánh của cửa nầy xếp lại, hai cánh của cửa kia cũng xếp lại.
35 Người chạm trên đó hình chê-ru-bin, cây chà là, và hoa nở, rồi bọc vàng vừa khít với hình chạm trổ.

Những cửa dẫn vào nơi thánh được làm bằng gỗ thông và cũng được chạm trổ hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở. Sau đó, những hình chạm trổ được phủ vàng. Những họa tiết này được lặp lại xuyên suốt đền thờ, tạo nên một chủ đề thống nhất về sự sống, vẻ đẹp và sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời. Việc phủ vàng càng làm nổi bật vẻ trang trọng của nơi thờ phượng.

1 Các Vua 6:36 (VIE1934)
36 Người xây sân trong bằng ba hàng đá đẽo và một hàng đà gỗ bá hương.

Sân trong được xây bằng những hàng đá đẽo và các đà gỗ bá hương. Những vật liệu này vừa chắc chắn vừa đẹp đẽ, cho thấy sự chăm chút được dành cho toàn bộ khu vực đền thờ, chứ không chỉ riêng nơi thánh và nơi chí thánh. Sân trong là một phần quan trọng của khu phức hợp đền thờ, phục vụ cho những hoạt động thờ phượng và chức vụ của các thầy tế lễ.

1 Các Vua 6:37-38 (VIE1934)
37 Năm thứ tư, nhằm tháng Xíp, nền đền của Đức Giê-hô-va được xây.
38 Năm thứ mười một, nhằm tháng Bul, là tháng thứ tám, đền được xây xong trong mọi phần và theo hết thảy kiểu mẫu nó. Sa-lô-môn xây đền trong bảy năm.

Việc xây dựng đền thờ kéo dài bảy năm. Công trình bắt đầu vào tháng Xíp trong năm thứ tư của triều đại Sa-lô-môn và hoàn thành vào tháng Bul, tháng thứ tám, trong năm thứ mười một. Thời gian dài và sự mô tả chi tiết cho thấy công trình được thực hiện với sự cẩn thận và chú trọng đến từng phần. Việc hoàn thành đền thờ là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, nhưng lời Đức Chúa Trời phán ở giữa chương cũng nhắc nhở rằng một công trình đẹp đẽ không thể thay thế cho sự vâng lời. Sự hiện diện và phước lành của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài luôn gắn liền với lòng trung tín đối với Ngài.

bottom of page