top of page

1 Sử Ký 2

1 Sử Ký 2 tập trung vào gia phả của chi phái Giu-đa, là chi phái có ý nghĩa đặc biệt vì dẫn đến vua Đa-vít và cuối cùng đến Giê-su Christ. Chương này bắt đầu bằng việc liệt kê mười hai con trai của Y-sơ-ra-ên, rồi thu hẹp vào các hậu tự của Giu-đa, nhấn mạnh những nhân vật quan trọng như Phê-rết, Hết-rôn và Ca-lép. Các gia phả truy nguyên sự hình thành của những thị trấn và thành phố quan trọng trong Giu-đa, chẳng hạn như Bết-lê-hem, và nhấn mạnh những cá nhân đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Chương này cho thấy Đức Chúa Trời đã bảo tồn dòng dõi qua đó những lời hứa của Ngài dành cho Y-sơ-ra-ên được thực hiện.

1 Sử Ký 2:1-5 (VIE1934)
1. Nầy là các con trai của Y-sơ-ra-ên: Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn,
2. Đan, Giô-sép, Bên-gia-min, Nép-ta-li, Gát, và A-se.
3. Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la; ba người nầy do con gái của Su-a, người Ca-na-an, sanh cho người. Ê-rơ, con trưởng nam của Giu-đa, là ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Ngài giết người đi.
4. Ta-ma, dâu Giu-đa, sanh Phê-rết và Xê-rách cho người. Hết thảy các con trai của Giu-đa là năm người.
5. Các con trai của Phê-rết là Hết-rôn và Ha-mun.

Những câu này liệt kê mười hai con trai của Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp), đặt nền tảng cho các chi phái Y-sơ-ra-ên. Sau đó, trọng tâm chuyển sang Giu-đa, là dòng dõi quan trọng vì dẫn đến Đa-vít và cuối cùng đến Đấng Mê-si. Giu-đa có ba con trai với một người nữ Ca-na-an, nhưng Ê-rơ bị giết vì sự gian ác của mình. Ta-ma, con dâu của Giu-đa, đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì dòng dõi của Giu-đa qua Phê-rết và Xê-rách. Dòng dõi của Phê-rết, bao gồm các con trai Hết-rôn và Ha-mun, rất quan trọng để hiểu con đường gia phả dẫn đến Đa-vít.

1 Sử Ký 2:6-8 (VIE1934)
6. Các con trai của Xê-rách là Xim-ri, Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và Đa-ra; hết thảy là năm người.
7. Con trai của Cạt-mi là A-can, là kẻ gây rối cho Y-sơ-ra-ên, vì đã phạm tội về vật đáng diệt.
8. Con trai của Ê-than là A-xa-ria.

Các hậu tự của Xê-rách bao gồm những tên đáng chú ý như Ê-than và Hê-man, những người được biết đến vì sự khôn ngoan và những đóng góp của họ cho âm nhạc và các bài thi thiên của Y-sơ-ra-ên. Câu 7 nhấn mạnh A-can (hay A-ca), người nổi tiếng vì tội lỗi của mình trong cuộc chinh phục Giê-ri-cô của Y-sơ-ra-ên. Sự bất tuân của ông khi lấy những vật bị cấm đã dẫn đến thất bại tạm thời của Y-sơ-ra-ên tại A-hi, khiến ông trở thành “kẻ gây rối cho Y-sơ-ra-ên.” Việc nhắc đến A-xa-ria trong câu 8 nối ông với dòng dõi của Ê-than, nhưng đoạn này không cung cấp nhiều thông tin về ông.

1 Sử Ký 2:9-12 (VIE1934)
9. Các con trai của Hết-rôn sanh cho người là Giê-rác-mê-ên, Ram, và Kê-lu-bai.
10. Ram sanh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sanh Na-ha-sôn, làm quan trưởng của con cháu Giu-đa.
11. Na-ha-sôn sanh Sanh-ma; Sanh-ma sanh Bô-ô.
12. Bô-ô sanh Ô-bết; Ô-bết sanh Y-sai.

Phần này truy nguyên dòng dõi của Hết-rôn, nhấn mạnh các hậu tự dẫn trực tiếp đến vua Đa-vít. Na-ha-sôn đặc biệt quan trọng vì ông là quan trưởng của chi phái Giu-đa trong thời kỳ Xuất Ê-díp-tô. Hậu tự của ông là Bô-ô, được biết đến qua sách Ru-tơ, là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên vì ông trở thành ông cố của Đa-vít. Y-sai, con trai của Bô-ô, là cha của Đa-vít, và gia phả này nhấn mạnh sự tiếp nối trong chương trình của Đức Chúa Trời qua chi phái Giu-đa.

1 Sử Ký 2:13-15 (VIE1934)
13. Y-sai sanh con trưởng nam là Ê-li-áp, con thứ hai là A-bi-na-đáp, con thứ ba là Si-mê-a,
14. con thứ tư là Na-tha-na-ên, con thứ năm là Ra-đai,
15. con thứ sáu là Ô-xem, con thứ bảy là Đa-vít.

Đoạn này liệt kê các con trai của Y-sai, trong đó Đa-vít là người con út. Mặc dù Đa-vít là con thứ bảy, vai trò của ông trong lịch sử Y-sơ-ra-ên không ai sánh bằng, vì ông trở thành vị vua vĩ đại nhất của dân tộc và là tổ phụ của Đấng Mê-si. Ê-li-áp, con trưởng, ban đầu được xem xét để làm vua khi Sa-mu-ên đến xức dầu cho một trong các con trai của Y-sai, nhưng Đức Chúa Trời đã chọn Đa-vít, cho thấy sự lựa chọn của Đức Chúa Trời dựa trên tấm lòng chứ không phải vẻ bề ngoài.

1 Sử Ký 2:16-17 (VIE1934)
16. Các chị em của họ là Xê-ru-gia và A-bi-ga-in. Các con trai của Xê-ru-gia là A-bi-sai, Giô-áp, và A-sa-ên, cả ba người.
17. A-bi-ga-in sanh A-ma-sa; cha của A-ma-sa là Giê-the, người Ích-ma-ên.

Những câu này giới thiệu hai chị em của Đa-vít là Xê-ru-gia và A-bi-ga-in, cùng với các con của họ. Các con trai của Xê-ru-gia là A-bi-sai, Giô-áp và A-sa-ên, đều là những nhà lãnh đạo quân sự quan trọng trong thời trị vì của Đa-vít. Đặc biệt, Giô-áp là tổng chỉ huy quân đội của Đa-vít, mặc dù những hành động của ông thường dẫn đến những xung đột về mặt đạo đức. Con trai của A-bi-ga-in là A-ma-sa về sau phục vụ với tư cách là một chỉ huy trong cuộc nổi loạn của Áp-sa-lôm, cho thấy gia đình Đa-vít đóng những vai trò quan trọng trong các vấn đề quân sự của vương quốc ông.

1 Sử Ký 2:18-20 (VIE1934)
18. Ca-lép, con trai Hết-rôn, sanh con bởi A-xu-ba, vợ mình, và bởi Giê-ri-ốt. Những con trai của nàng là Giê-sê, Sô-báp, và Ạt-đôn.
19. A-xu-ba qua đời, Ca-lép cưới Ê-phơ-rát; nàng sanh Hu-rơ cho người.
20. Hu-rơ sanh U-ri; U-ri sanh Bết-sa-lê-ên.

Tại đây, Ca-lép, một hậu tự của Hết-rôn, được phân biệt với Ca-lép nổi tiếng hơn thuộc thế hệ Xuất Ê-díp-tô. Dòng dõi của ông qua Hu-rơ và U-ri rất quan trọng vì Bết-sa-lê-ên, cháu của Hu-rơ, là người thợ được Đức Chúa Trời chỉ định để thiết kế Đền Tạm và các vật thánh trong thời gian dân Y-sơ-ra-ên ở nơi đồng vắng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự khéo léo trong nghề nghiệp và sự soi dẫn của Đức Chúa Trời trong việc thực hành sự thờ phượng của Y-sơ-ra-ên.

1 Sử Ký 2:21-24 (VIE1934)
21. Kế đó Hết-rôn đến cùng con gái Ma-ki-rơ, cha của Ga-la-át, cưới nàng lúc mình được sáu mươi tuổi; nàng sanh Sê-gúp.
22. Sê-gúp sanh Giai-rơ, người có hai mươi ba thành trong xứ Ga-la-át.
23. Nhưng Ghê-su-rơ và Sy-ri lấy các làng của Giai-rơ, cùng Kê-na và các thành thuộc về nó, cộng là sáu mươi thành. Hết thảy các thành nầy đều thuộc về con cháu Ma-ki-rơ, cha của Ga-la-át.
24. Sau khi Hết-rôn qua đời tại Ca-lép-Ê-phơ-ra-ta, A-bi-gia, vợ Hết-rôn, sanh A-su-rơ, cha của Thê-cô-a.

Phần này cho thấy cuộc hôn nhân về sau của Hết-rôn với con gái của Ma-ki-rơ, một người lãnh đạo của Ga-la-át, qua đó thiết lập thêm mối quan hệ gia đình với vùng đất quan trọng ở phía đông sông Giô-đanh. Cháu trai của ông là Giai-rơ nắm giữ một vùng lãnh thổ đáng kể tại Ga-la-át, nhưng một phần đất này đã bị các kẻ thù lân cận chiếm mất. Việc đề cập đến A-bi-gia, vợ của Hết-rôn, và con trai họ là A-su-rơ, cha của Thê-cô-a, cung cấp thêm thông tin về đại gia đình này và ảnh hưởng của họ trong khu vực thuộc Giu-đa.

1 Sử Ký 2:25-27 (VIE1934)
25. Các con trai của Giê-rác-mê-ên, con trưởng nam của Hết-rôn, là Ram, con trưởng nam, rồi đến Bu-na, Ô-ren, Ô-xem, và A-hi-gia.
26. Giê-rác-mê-ên có một người vợ khác tên là A-ta-ra; nàng là mẹ của Ô-nam.
27. Các con trai của Ram, con trưởng nam của Giê-rác-mê-ên, là Ma-ách, Gia-min, và Ê-ke.

Các hậu tự của Giê-rác-mê-ên được liệt kê, cho thấy các con trai của ông qua hai người vợ. Việc đề cập đến người vợ thứ hai là A-ta-ra và con trai bà là Ô-nam cho thấy cấu trúc gia đình mở rộng. Dòng dõi của Giê-rác-mê-ên cho thấy một nhánh khác của các hậu tự Hết-rôn, mặc dù những tên này đóng vai trò ít nổi bật hơn trong lịch sử về sau của Y-sơ-ra-ên.

1 Sử Ký 2:28-30 (VIE1934)
28. Các con trai của Ô-nam là Sam-mai và Gia-đa. Các con trai của Sam-mai là Na-đáp và A-bi-sua.
29. Vợ của A-bi-sua tên là A-bi-ha-in; nàng sanh cho người A-hban và Mô-lít.
30. Các con trai của Na-đáp là Se-lết và A-pa-im; Se-lết chết không con.

Những câu này mô tả các hậu tự của Ô-nam, con trai của Giê-rác-mê-ên. Gia phả cho thấy các tên tiếp tục được gìn giữ, mặc dù một số người, như Se-lết, qua đời mà không có con. Dòng dõi của A-bi-sua tiếp tục qua các con trai A-hban và Mô-lít, cho thấy những nhánh khác nhau của gia đình đã phát triển như thế nào.

1 Sử Ký 2:31-33 (VIE1934)
31. Con trai của A-pa-im là Dích-si. Con trai của Dích-si là Sê-san; con của Sê-san là A-hơ-lai.
32. Các con trai của Gia-đa, em của Sam-mai, là Giê-the và Giô-na-than; Giê-the chết không con.
33. Các con trai của Giô-na-than là Phê-lết và Xa-xa. Ấy là các con trai của Giê-rác-mê-ên.

Gia phả tiếp tục với các hậu tự của Gia-đa và Giô-na-than. Đáng chú ý là dòng dõi của Sê-san tiếp tục qua A-hơ-lai, và dòng dõi của Giô-na-than tiếp tục qua Phê-lết và Xa-xa. Việc ghi lại những người qua đời mà không có con cho thấy tầm quan trọng được đặt vào sự tiếp nối của gia đình trong các gia phả.

1 Sử Ký 2:34-41 (VIE1934)
34. Sê-san không có con trai, chỉ có con gái. Sê-san có một đầy tớ người Ê-díp-tô tên là Gia-ha.
35. Sê-san gả con gái mình cho Gia-ha, đầy tớ mình, làm vợ; nàng sanh cho người A-thai.
36. A-thai sanh Na-than; Na-than sanh Xa-bát;
37. Xa-bát sanh Ê-phờ-lan; Ê-phờ-lan sanh Ô-bết;
38. Ô-bết sanh Giê-hu; Giê-hu sanh A-xa-ria;
39. A-xa-ria sanh Hê-lết; Hê-lết sanh Ê-lê-a-sa;
40. Ê-lê-a-sa sanh Sít-mai; Sít-mai sanh Sa-lum;
41. Sa-lum sanh Giê-ca-mia; Giê-ca-mia sanh Ê-li-sa-ma.

Sê-san không có người thừa kế nam, nên gả con gái mình cho Gia-ha, người đầy tớ Ê-díp-tô của ông. Tình huống đặc biệt này cho thấy dù Gia-ha là một đầy tớ, vai trò của ông trong gia đình trở nên quan trọng khi ông tiếp tục dòng dõi của Sê-san qua cuộc hôn nhân. Qua sự kết hợp này, các hậu tự của họ phát triển qua nhiều thế hệ, bắt đầu với A-thai và tiếp tục qua nhiều đời. Gia phả tập trung vào việc bảo tồn dòng dõi gia đình, bất chấp những hoàn cảnh không theo thông lệ như trường hợp một người đầy tớ được nâng lên vị trí quan trọng trong gia đình qua hôn nhân. Mỗi cái tên đại diện cho một mắt xích trong chuỗi gia phả, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tiếp nối trong cấu trúc gia đình Y-sơ-ra-ên.

1 Sử Ký 2:42-43 (VIE1934)
42. Các con trai của Ca-lép, em Giê-rác-mê-ên, là Mê-sa, con trưởng nam, là cha của Xi-phơ, và các con trai của Ma-rê-sa, cha của Hếp-rôn.
43. Các con trai của Hếp-rôn là Cô-rê, Táp-phu-a, Rê-kem, và Sê-ma.

Các hậu tự của Ca-lép được nhắc đến ở đây, mặc dù Ca-lép này không phải là Ca-lép nổi tiếng từ thời kỳ Xuất Ê-díp-tô. Mê-sa được nhấn mạnh là cha của Xi-phơ, một vùng thuộc Giu-đa. Việc nhấn mạnh Hếp-rôn rất có ý nghĩa, vì đây là một thành phố lớn trong lãnh thổ Giu-đa. Các hậu tự của Ca-lép đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành những thị trấn và thành phố quan trọng trong lãnh thổ Giu-đa, cho thấy sức mạnh và ảnh hưởng của dòng dõi ông.

1 Sử Ký 2:44-45 (VIE1934)
44. Sê-ma sanh Ra-ham, cha của Giô-cô-am; Rê-kem sanh Sam-mai.
45. Con trai của Sam-mai là Ma-ôn; Ma-ôn là cha của Bết-sua.

Phần này tiếp tục với các hậu tự của Hếp-rôn. Ra-ham, cha của Giô-cô-am, và Sam-mai, con trai của Rê-kem, được nhắc đến; Ma-ôn được ghi nhận là cha của Bết-sua, một pháo đài quan trọng trong Giu-đa. Những câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của các dòng họ này trong việc hình thành những địa điểm quan trọng trong lãnh thổ Giu-đa.

1 Sử Ký 2:46-48 (VIE1934)
46. A-pha, vợ nhỏ của Ca-lép, sanh Ha-ran, Mô-xa, và Ga-xe; Ha-ran sanh Ga-xe.
47. Các con trai của Gia-đai là Rê-ghem, Giô-tham, Ghê-san, Phê-lết, Ê-pha, và Sa-áp.
48. Ma-a-ca, vợ nhỏ của Ca-lép, sanh Sê-be và Tiệt-ha-na.

Tại đây, các vợ nhỏ của Ca-lép là A-pha và Ma-a-ca được nhắc đến cùng với các con của họ. Những hậu tự này tiếp tục cho thấy những mối liên hệ rộng lớn trong đại gia đình của Ca-lép, bao gồm nhiều người con sinh bởi các vợ nhỏ. Việc đưa các con của vợ nhỏ vào gia phả phản ánh phong tục xã hội thời đó, trong đó những người con sinh bởi vợ nhỏ vẫn có ý nghĩa trong cấu trúc gia đình.

1 Sử Ký 2:49 (VIE1934)
49. Người cũng sanh Sa-áp, cha của Mát-ma-na, Sê-ba, cha của Mác-bê-na và cha của Ghi-bê-a; con gái của Ca-lép là Ạc-sa.

Ạc-sa, con gái của Ca-lép, được nhắc đến cùng với Sa-áp, là cha của Mát-ma-na. Những nhân vật này góp phần vào việc hình thành các thị trấn và thành phố trong Giu-đa. Tên Ạc-sa có ý nghĩa đặc biệt trong câu chuyện Kinh Thánh, vì bà xuất hiện trong sách Giô-suê, nơi bà mạnh dạn xin và nhận đất từ cha mình là Ca-lép, cho thấy vai trò của bà trong lịch sử Giu-đa.

1 Sử Ký 2:50-51 (VIE1934)
50. Đây là con cháu của Ca-lép: Các con trai của Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát, là Sô-banh, cha của Ki-ri-át-Giê-a-rim,
51. Sanh-ma, cha của Bết-lê-hem, và Ha-rép, cha của Bết-ga-đe.

Dòng dõi của Ca-lép qua Hu-rơ rất quan trọng vì nối đến Sô-banh, Sanh-ma và Ha-rép. Việc Sanh-ma được nhắc đến là cha của Bết-lê-hem có ý nghĩa đặc biệt, vì Bết-lê-hem là nơi sinh của vua Đa-vít và sau này là nơi Giê-su Christ được sinh ra. Những câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của các hậu tự Ca-lép trong việc hình thành những thành phố quan trọng trong lịch sử Giu-đa.

1 Sử Ký 2:52-54 (VIE1934)
52. Sô-banh, cha của Ki-ri-át-Giê-a-rim, có những con cháu là Ha-rô-ê, và phân nửa họ Ma-nu-hốt.
53. Các họ của Ki-ri-át-Giê-a-rim là họ Dít-rít, họ Phu-tít, họ Su-ma-tít, và họ Mích-ra-ít; bởi các họ nầy sanh ra họ Xô-ra-tít và họ Ê-tha-ô-lít.
54. Con trai của Sanh-ma là Bết-lê-hem, người Nê-tô-pha, A-trốt-Bết-Giô-áp, phân nửa người Ma-na-hát, và người Xô-rít.

Những câu này cung cấp thêm chi tiết về các hậu tự của Sô-banh và Sanh-ma. Thành Ki-ri-át-Giê-a-rim và thành Bết-lê-hem là những địa điểm quan trọng, và các gia phả cho thấy sự lãnh đạo và việc hình thành những nơi này gắn liền với các hậu tự của Ca-lép. Điều này làm nổi bật ý nghĩa chiến lược và văn hóa của những thành phố này trong lịch sử Y-sơ-ra-ên.

1 Sử Ký 2:55 (VIE1934)
55. Các họ của những thầy ký lục ở Gia-bết là họ Ti-ra-tít, họ Si-mê-a-tít, và họ Su-cát-tít. Ấy là người Kê-nít, do Ha-mát, cha của nhà Rê-cáp, sanh ra.

Câu cuối cùng này đề cập đến các họ của những thầy ký lục sống tại Gia-bết, một nơi có thể được liên hệ với sự khôn ngoan và học tập. Việc nhắc đến người Kê-nít, đặc biệt là những người liên hệ với nhà Rê-cáp, thêm vào một yếu tố dân tộc rộng hơn cho gia phả, cho thấy một số nhóm không phải Y-sơ-ra-ên, chẳng hạn như người Kê-nít, cũng đóng một vai trò trong lịch sử và xã hội Y-sơ-ra-ên.

bottom of page