
1 Sử Ký 9
1 Sử Ký 9 cung cấp một bản ghi chép chi tiết về những người trở về Giê-ru-sa-lem sau cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn, nhấn mạnh gia phả của những chi phái quan trọng, đặc biệt là Giu-đa, Bên-gia-min và Lê-vi. Chương này làm nổi bật các thầy tế lễ, người Lê-vi và những người có trách nhiệm khác trong việc duy trì đền thờ và sự thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem. Chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì các thực hành tôn giáo, đền thờ và giao ước của Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên, đặc biệt sau khi dân sự trở về từ cảnh phu tù.
1 Sử Ký 9:1-5 (VIE1934)
1. Ấy vậy, cả dân Y-sơ-ra-ên được biên vào sổ theo các gia phổ; kìa đã ghi chép vào sách ký lược của các vua Y-sơ-ra-ên. Dân Giu-đa, tại tội lỗi họ, bị bắt đem qua nước Ba-by-lôn.
2. Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, các người ở đầu tiên trong địa nghiệp và trong các thành ấp của chúng, là người Y-sơ-ra-ên, thầy tế lễ, người Lê-vi, và người Nê-thi-nim.
3. Ở tại thành Giê-ru-sa-lem, có người Giu-đa, người Bên-gia-min, người Ép-ra-im, và người Mê-na-se.
4. Về dòng Phê-lết, là con của Giu-đa, có U-thai, con trai của A-mi-hút, A-mi-hút con trai của Ôm-ri, Ôm-ri con trai của Im-ri, và Im-ri con trai của Ba-ni.
5. Bởi người Si-lô-ni có A-sai-gia con trưởng nam, và các con trai của người.
Các gia phả phản ánh sự trở về của những người bị lưu đày sau thời kỳ phu tù tại Ba-by-lôn, và sự lưu đày của Giu-đa được liên kết với sự không trung tín của họ đối với Đức Chúa Trời. Những người đầu tiên trở về định cư tại Giê-ru-sa-lem và các thành của mình là người Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, người Lê-vi và những người phục vụ đền thờ (Nê-thi-nim). Những câu này cho chúng ta một cái nhìn về những người trở về từ các chi phái Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im và Ma-na-se. U-thai và A-sai-gia được nhắc đến, đại diện cho những nhân vật quan trọng thuộc dòng dõi Giu-đa. Những ghi chép này rất cần thiết để bảo tồn sự liên tục về danh tính và sự lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ hậu lưu đày.
1 Sử Ký 9:6-9 (VIE1934)
6. Bởi con cái Xê-rách, có Giê-u-ên và anh em người, là sáu trăm chín mươi người.
7. Về dòng Bên-gia-min, có Sa-lu, con trai của Mê-su-lam; Mê-su-lam, con trai của Hô-đa-via; Hô-đa-via, con trai của A-sê-nu-a;
8. lại có Gíp-nê-gia, con trai của Giê-rô-ham, Ê-la con trai của U-xi; U-xi là con trai của Mi-cơ-ri và Mê-su-lam, con trai của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Rê-u-ên; Rê-u-ên con trai của Gíp-nê-gia,
9. và anh em chúng kể theo thế hệ thì được chín trăm năm mươi sáu người. Những người ấy đều làm trưởng tộc.
Những câu này tiếp tục bản ghi chép gia phả, lần này tập trung vào các hậu tự của Xê-rách và Bên-gia-min. Giê-u-ên và Sa-lu là những người lãnh đạo đáng chú ý thuộc dòng dõi Giu-đa và Bên-gia-min. Đoạn này nhấn mạnh rằng những người này là trưởng các dòng họ, có trách nhiệm lãnh đạo các gia tộc của mình khi họ tái định cư trong đất của tổ phụ. Danh sách chi tiết này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự lãnh đạo và tính liên tục của gia đình, ngay cả sau thời kỳ lưu đày.
1 Sử Ký 9:10-13 (VIE1934)
10. Trong những thầy tế lễ có Giê-đai-gia, Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin,
11. và A-xa-ria, con trai của Hinh-kia; Hinh-kia con trai của Mê-su-lam; Mê-su-lam con trai của Xa-đốc; Xa-đốc con trai của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là kẻ cai quản đền của Đức Chúa Trời;
12. lại có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham; Giê-rô-ham, con trai của Pha-sua; Pha-sua, con trai của Manh-ki-gia; Manh-ki-gia, con trai của Ma-ê-sai; Ma-ê-sai, con trai của A-đi-ên; A-đi-ên, con trai của Gia-xê-ra; Gia-xê-ra, con trai của Mê-su-lam; Mê-su-lam, con trai của Mê-si-lê-mít; Mê-si-lê-mít, con trai của Y-mê;
13. và anh em của chúng, số là một ngàn bảy trăm sáu mươi người, đều làm trưởng tộc, có tài hầu việc trong đền của Đức Chúa Trời.
Tại đây, trọng tâm chuyển sang các thầy tế lễ trở về Giê-ru-sa-lem. Giê-đai-gia, Giê-hô-gia-ríp và Gia-kin được liệt kê cùng với A-xa-ria, người cai quản đền của Đức Chúa Trời. Những thầy tế lễ này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thờ phượng và các lễ dâng trong đền thờ được phục hồi. Đoạn này cho biết có 1.760 người chịu trách nhiệm về công việc trong đền của Đức Chúa Trời, nhấn mạnh khả năng và sự tận tâm của họ trong việc phục vụ Đức Chúa Trời. Sự tận tâm này rất cần thiết cho việc khôi phục đời sống tôn giáo sau thời kỳ lưu đày.
1 Sử Ký 9:14-16 (VIE1934)
14. Trong người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia; thảy đều thuộc về dòng Mê-ra-ri;
15. lại có Bác-ba-cát, Hê-re, Ga-la, Ma-tha-nia, đều là con trai của Mi-ca, cháu của Xiếc-ri, chắt của A-sáp;
16. Ô-ba-đia, con trai của Sê-ma-gia, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thum; Bê-rê-kia, con trai của A-sa, cháu của Ên-ca-na, là người ở trong làng dân Nê-tô-pha-tít.
Những câu này liệt kê người Lê-vi, là một chi phái được biệt riêng cho công việc phục vụ đền thờ, nhưng không phải là các thầy tế lễ. Sê-ma-gia, Bác-ba-cát và những người khác được xác định là hậu tự của dòng Mê-ra-ri, dòng A-sáp và dòng Giê-đu-thum, nhấn mạnh dòng dõi và tầm quan trọng của họ trong những công việc âm nhạc và hành chính của đền thờ. Những người Lê-vi như Ô-ba-đia và Bê-rê-kia đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các thầy tế lễ phục vụ, bảo đảm đền thờ hoạt động cách trật tự.
1 Sử Ký 9:17-19 (VIE1934)
17. Những kẻ canh cửa, là Sa-lum, A-cúp, Tanh-môn, A-hi-man, và anh em của chúng; Sa-lum làm đầu.
18. Cho đến bây giờ họ canh cửa đông của vua; còn xưa tổ tiên họ đều giữ cửa trại người Lê-vi.
19. Sa-lum con trai Cô-rê, cháu của Ê-bi-a-sáp, chắt của Cô-ra, và anh em tông tộc mình; ấy là dân Cô-rê lo coi sóc sự phục dịch, và canh giữ các cửa đền tạm; xưa tổ phụ chúng cai quản trại của Đức Giê-hô-va, và giữ cửa tại.
Những người canh cửa, dưới sự lãnh đạo của Sa-lum, được giao nhiệm vụ bảo vệ các cửa đền thờ. Dòng dõi của họ được truy nguyên đến người Cô-ra, một gia đình vốn có lịch sử phục vụ trong đền tạm. Những người canh cửa giữ vai trò thiết yếu trong việc kiểm soát lối vào đền thờ, bảo đảm nơi thánh được bảo vệ và trật tự. Họ là một phần quan trọng trong việc duy trì sự thánh khiết và an ninh của đền thờ.
1 Sử Ký 9:20-23 (VIE1934)
20. Xưa Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, làm quan cai chúng, và Đức Giê-hô-va ở với người.
21. Xa-cha-ri, con trai Mê-sê-lê-mia, là kẻ giữ cửa hội mạc.
22. Những kẻ nầy đã được lựa chọn hầu canh giữ các cửa, số được hai trăm mười hai người. Người ta chép gia phổ họ theo các hương họ; vua Đa-vít và Sa-mu-ên, là đấng tiên kiến, đã lập mấy người ấy trong chức của họ.
23. Ấy vậy, chúng và con cháu của chúng, đều theo ban thứ, mà coi giữ các cửa đền của Đức Giê-hô-va, tức là đền tạm.
Những người canh cửa có một lịch sử đáng kể, với những người lãnh đạo nổi bật như Phi-nê-a và Xa-cha-ri từng phục vụ trong vai trò này. Hai trăm mười hai người canh cửa được lựa chọn cẩn thận dựa trên gia phả của họ và được vua Đa-vít cùng Sa-mu-ên, đấng tiên kiến, lập vào chức vụ của mình. Công việc của họ được truyền lại qua các thế hệ, bảo đảm nhà của Đức Chúa Trời được bảo vệ và duy trì trật tự. Vai trò được truyền lại trong gia đình này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì trật tự và lòng kính trọng đối với nơi thánh.
1 Sử Ký 9:24-27 (VIE1934)
24. Các kẻ giữ cửa đặt ở bốn phía đền về đông, tây, nam, và bắc.
25. Các anh em chúng ở trong các làng mình phải đến từng tuần, theo phiên thứ, mà giúp đỡ.
26. Còn bốn người Lê-vi làm trưởng những người canh cửa, hằng giữ chức mình, và coi sóc các phòng và khung thành trong đền của Đức Chúa Trời.
27. Ban đêm chúng ở xung quanh đền của Đức Chúa Trời canh giữ nó; đến mỗi buổi sáng sớm chúng lại lo mở cửa ra.
Những người canh cửa được bố trí ở cả bốn hướng của đền thờ, bảo đảm việc kiểm soát và bảo vệ toàn diện các lối vào. Họ làm việc theo phiên, với những người anh em từ các làng chung quanh luân phiên đến giúp đỡ. Bốn người Lê-vi đứng đầu những người canh cửa không chỉ chịu trách nhiệm bảo vệ các cửa mà còn coi sóc các phòng và kho tàng trong đền của Đức Chúa Trời. Sự tận tụy của họ lớn đến mức họ ở chung quanh đền của Đức Chúa Trời và mỗi buổi sáng sớm đều mở cửa, cho thấy tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm của họ.
1 Sử Ký 9:28-32 (VIE1934)
28. Trong bọn chúng cũng có mấy người được chức giữ đồ khí dụng, vì các đồ ấy đem ra đem vô y theo số.
29. Lại có kẻ khác được cắt coi sóc đồ đạc và các khí dụng tại nơi thánh, cùng lo giữ bột miến, rượu, dầu, nhũ hương, và các thuốc thơm.
30. Có mấy kẻ trong bọn con trai những thầy tế lễ chế các thứ hương hoa.
31. Còn Ma-ti-thia, người Lê-vi, con trưởng nam của Sa-lum, thuộc về dòng Cô-rê, coi sóc việc làm bánh rán trong chảo.
32. Mấy kẻ trong vòng anh em chúng về dòng Kê-hát, được chức coi về việc làm bánh trần thiết, hễ đến ngày sa-bát thì phải sắm cho sẵn.
Ngoài việc canh giữ đền thờ, một số người Lê-vi chịu trách nhiệm về nhiều vật dụng được sử dụng trong công việc của đền thờ, chẳng hạn như các khí dụng, đồ đạc và những vật thánh như bột, dầu và nhũ hương. Công việc của họ được phân chia chuyên môn, bảo đảm mọi thứ cần thiết cho sự thờ phượng đều có sẵn và được xử lý đúng cách. Những người khác, như Ma-ti-thia, chịu trách nhiệm làm bánh và chuẩn bị bánh trần thiết cho ngày Sa-bát. Những công việc này làm nổi bật vai trò thiết yếu của người Lê-vi trong hoạt động hằng ngày của đền thờ.
1 Sử Ký 9:33-34 (VIE1934)
33. Đây là những người có chức hát xướng, đều làm trưởng tộc trong người Lê-vi, vẫn ở trong các phòng của đền, và vì phục sự ngày và đêm, nên được miễn các công việc khác.
34. Những người ấy đều làm trưởng tộc của người Lê-vi, theo dòng dõi họ, và ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
Những người hát xướng trong số người Lê-vi có một vai trò đặc biệt và quan trọng, được biệt riêng để dẫn dắt sự thờ phượng qua âm nhạc. Công việc của họ diễn ra liên tục ngày và đêm, vì âm nhạc giữ một vai trò quan trọng trong sự thờ phượng tại đền thờ. Những người này sống trong các phòng đặc biệt gần đền thờ và được miễn những công việc khác để có thể hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ của mình. Vai trò lãnh đạo của họ được truyền lại qua nhiều thế hệ, duy trì truyền thống thờ phượng bằng âm nhạc trong đền thờ.
1 Sử Ký 9:35-44 (VIE1934)
35. Giê-i-ên, tổ phụ của Ga-ba-ôn, ở tại thành Ga-ba-ôn; tên vợ người là Ma-a-ca.
36. Con trưởng nam của người là Áp-đôn; lại sanh Xu-rơ, Kích, Banh, Nê-rơ, Na-đáp,
37. Ghê-đô, A-hi-ô, Xa-cha-ri, và Mích-lô.
38. Mích-lô sanh Si-mê-am. Chúng cũng đồng ở cùng anh em mình trong thành Giê-ru-sa-lem đối mặt nhau.
39. Nê-rơ sanh Kích; Kích sanh Sau-lơ; Sau-lơ sanh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh.
40. Con trai Giô-na-than là Mê-ri-Banh; Mê-ri-Banh sanh Mi-ca.
41. Con trai của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
42. A-cha sanh Gia-ê-ra; Gia-ê-ra sanh A-lê-mết, Ách-ma-vết và Xim-ri; Xim-ri sanh Một-sa;
43. Một-sa sanh Bi-nê-a, con trai Bi-nê-a là Rê-pha-gia; Rê-pha-gia sanh Ê-lê-a-sa, và Ê-lê-a-sa sanh A-xên.
44. A-xên có sáu người con trai, tên là A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan; ấy đều là con trai của A-xên.
Đoạn này kết thúc bằng gia phả của Sau-lơ, vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, và các hậu tự của ông, bao gồm Giô-na-than và con trai ông là Mê-ri-Banh (Mê-phi-bô-sết). Gia phả này nhấn mạnh tầm quan trọng của dòng dõi gia đình Sau-lơ, truy nguyên các hậu tự của họ và những mối liên hệ của họ với Giê-ru-sa-lem. Bản ghi chép chi tiết về gia đình Sau-lơ cho thấy dòng dõi này vẫn tiếp tục hiện diện và có ý nghĩa trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, ngay cả sau khi triều đại của Sau-lơ chấm dứt.

