top of page

2 Sử Ký 30

2 Sử Ký 30 thuật lại những nỗ lực của vua Ê-xê-chia nhằm khôi phục sự thờ phượng đúng đắn tại Giu-đa sau một thời gian dài dân sự sống trong sự thờ hình tượng. Ông mời cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đến cử hành Lễ Vượt Qua, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trở lại với Đức Chúa Trời. Chương này làm nổi bật sự cam kết của nhà vua trong việc cải cách các thực hành tôn giáo và hiệp nhất hai vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã bị chia rẽ, khơi dậy tinh thần ăn năn và đổi mới giữa dân sự.

2 Sử Ký 30:1 (VIE1934)
1. Ê-xê-chia sai sứ giả đi khắp Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, cũng viết thư cho Ép-ra-im và Ma-na-se, truyền rằng hãy đến đền Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, đặng giữ lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

Ê-xê-chia khởi xướng một cuộc cải cách tôn giáo quan trọng bằng cách mời toàn thể Y-sơ-ra-ên và Giu-đa tham dự Lễ Vượt Qua. Việc ông gửi lời mời đến các chi phái phía bắc, đặc biệt là Ép-ra-im và Ma-na-se, cho thấy mong muốn của ông về sự hiệp nhất và khôi phục sự thờ phượng giữa hai vương quốc đã bị chia rẽ. Bằng cách kêu gọi họ đến Giê-ru-sa-lem, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung sự thờ phượng và trở lại với những thực hành nền tảng của đức tin, nhằm đưa dân sự trở về với Đức Chúa Trời.

2 Sử Ký 30:2-3 (VIE1934)
2. Vua và các quan trưởng cùng cả hội chúng tại Giê-ru-sa-lem đã bàn định giữ lễ Vượt-qua nhằm tháng hai.
3. Vì lúc ấy những thầy tế lễ chưa biệt mình ra thánh đủ số, và dân sự cũng chưa nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, nên họ không thể giữ lễ Vượt-qua nhằm kỳ tháng thứ nhất.

Quyết định cử hành Lễ Vượt Qua vào tháng thứ hai cho thấy sự quan tâm của nhà vua đến việc mọi người có thể tham dự và có sự chuẩn bị thích hợp. Vì nhiều người không thể tham dự vào tháng thứ nhất do không có đủ số thầy tế lễ đã biệt mình ra thánh và dân sự chưa nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, việc Ê-xê-chia cho phép cử hành vào tháng thứ hai cho thấy sự lãnh đạo của ông trong việc bảo đảm rằng sự thờ phượng có thể được thực hiện. Sự linh hoạt này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thờ phượng cộng đồng và sự cần thiết của việc chuẩn bị thuộc linh đúng đắn.

2 Sử Ký 30:4 (VIE1934)
4. Việc nầy đẹp lòng vua và cả hội chúng.

Đề nghị cử hành Lễ Vượt Qua vào tháng thứ hai được cả vua và hội chúng chấp thuận. Sự đồng lòng này cho thấy các nhà lãnh đạo và dân sự đều mong muốn khôi phục sự thờ phượng Đức Chúa Trời, đồng thời cho thấy họ sẵn sàng đón nhận những cải cách của Ê-xê-chia. Đây là một bước ngoặt khi dân tộc bắt đầu trở lại với di sản thuộc linh và sự hiệp nhất của mình.

2 Sử Ký 30:5 (VIE1934)
5. Vậy họ quyết định truyền rao khắp Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e-Sê-ba cho đến Đan, rằng hãy đến giữ lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem; vì lâu nay họ không giữ lễ ấy theo như đã chép.

Lời kêu gọi tập hợp để giữ Lễ Vượt Qua nhấn mạnh quyết tâm của Ê-xê-chia và các quan trưởng trong việc khôi phục những thực hành tôn giáo đã bị bỏ bê. Bằng cách mở rộng lời mời từ Bê-e-Sê-ba đến Đan, họ thể hiện mong muốn bao gồm toàn thể dân sự, kêu gọi mọi người trở về Giê-ru-sa-lem để tham dự truyền thống thánh này. Việc nhắc rằng dân sự đã không giữ Lễ Vượt Qua trong một thời gian dài cho thấy sự suy thoái thuộc linh kéo dài mà Ê-xê-chia đang tìm cách đảo ngược qua sự cử hành hiệp một này.

2 Sử Ký 30:6 (VIE1934)
6. Vậy các người chạy truyền khắp xứ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, cầm những bức thư của vua và các quan trưởng, theo mạng vua mà nói rằng: Hỡi con cháu Y-sơ-ra-ên! Hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, thì Ngài sẽ trở lại cùng các ngươi, là những kẻ đã thoát khỏi tay các vua A-si-ri.

Các sứ giả của Ê-xê-chia truyền lời mời của nhà vua, kêu gọi dân sự ăn năn và trở lại với Đức Chúa Trời. Bằng cách nhắc đến các tổ phụ, họ gợi lại mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên, kêu gọi dân sự trở lại với nguồn gốc thuộc linh của mình. Lời kêu gọi trở về mang đến hy vọng, cho thấy sự ăn năn chân thành có thể dẫn đến sự khôi phục và sự bảo vệ của Đức Chúa Trời trước mối đe dọa từ A-si-ri.

2 Sử Ký 30:7-8 (VIE1934)
7. Chớ nên giống như tổ phụ và anh em các ngươi, là những người đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, đến nỗi Ngài phó họ cho sự hủy diệt, như các ngươi đã thấy.
8. Bây giờ chớ cứng cổ như tổ phụ các ngươi; hãy đầu phục Đức Giê-hô-va, và vào nơi thánh Ngài đã biệt ra thánh đời đời, mà hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, hầu cho cơn giận dữ của Ngài xây khỏi các ngươi.

Các sứ giả khuyên dân sự đừng lặp lại những sai lầm của tổ phụ mình, là những người đã phản nghịch Đức Chúa Trời và vì vậy phải chịu sự suy vong. Lời kêu gọi đầu phục Đức Giê-hô-va nhấn mạnh sự khiêm nhường và vâng phục, khuyến khích họ bước vào nơi thánh, nơi tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Lời mời gọi phụng sự Đức Giê-hô-va phản ánh mong muốn được khôi phục và quay khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu về sự tận hiến chân thành.

2 Sử Ký 30:9 (VIE1934)
9. Vì nếu các ngươi trở lại cùng Đức Giê-hô-va, thì anh em và con cái các ngươi sẽ được thương xót trước mặt những kẻ đã bắt chúng làm phu tù, đến nỗi chúng nó sẽ trở về xứ nầy; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là nhân từ và thương xót, Ngài sẽ không xây mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.

Lời hứa về lòng thương xót đối với những người bị bắt làm phu tù là một lời kêu gọi mạnh mẽ để dân sự ăn năn. Các sứ giả của Ê-xê-chia bảo đảm với họ về ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhấn mạnh rằng việc quay trở lại với Ngài có thể dẫn đến sự khôi phục. Sứ điệp này đem lại hy vọng và phản ánh bản tính của Đức Chúa Trời là Đấng mong muốn hòa giải với dân Ngài, mở ra con đường chữa lành và trở về khỏi cảnh lưu đày.

2 Sử Ký 30:10 (VIE1934)
10. Các người chạy đi từ thành nầy đến thành kia, qua xứ Ép-ra-im và Ma-na-se, cho đến Sa-bu-lôn; nhưng người ta cười nhạo và chế giễu chúng.

Bất chấp sự chân thành của lời mời, nhiều người ở Ép-ra-im và Ma-na-se đáp lại bằng sự chế giễu và không tin. Sự chế giễu này cho thấy tình trạng thờ ơ thuộc linh sâu sắc đã phát triển qua nhiều năm thờ hình tượng. Việc từ chối lời kêu gọi ăn năn cho thấy thách thức lớn mà Ê-xê-chia phải đối diện trong việc hiệp nhất dân tộc và khôi phục đức tin, đồng thời cho thấy sự chống đối sự thay đổi của một số nhóm trong Y-sơ-ra-ên.

2 Sử Ký 30:11 (VIE1934)
11. Nhưng có người thuộc về A-se, Ma-na-se và Sa-bu-lôn tự hạ mình, và đến Giê-ru-sa-lem.

Giữa sự chế giễu, một số người còn sót lại từ các chi phái phía bắc đáp lại cách tích cực, bày tỏ sự khiêm nhường và sẵn lòng trở về với Đức Chúa Trời. Quyết định đi đến Giê-ru-sa-lem của họ là một bước hướng đến sự đổi mới thuộc linh và sự hiệp nhất với anh em mình. Hành động khiêm nhường này phản ánh sứ điệp cốt lõi trong chiến dịch của Ê-xê-chia: sự ăn năn chân thật có thể đem lại sự khôi phục, ngay cả khi chỉ một số ít người sẵn lòng đáp ứng.

2 Sử Ký 30:12 (VIE1934)
12. Đức Chúa Trời cũng đã giơ tay trên Giu-đa, khiến họ đồng lòng làm theo mạng vua và các quan trưởng, theo lời của Đức Giê-hô-va.

Sự can thiệp của Đức Chúa Trời được thể hiện rõ khi Ngài ban cho dân Giu-đa một tinh thần đồng lòng, giúp họ đáp lại lời kêu gọi của Ê-xê-chia. Sự “đồng lòng” này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong phản ứng của dân sự là một sự xác nhận đối với nỗ lực của Ê-xê-chia và đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc phục hưng thuộc linh quan trọng tại Giu-đa.

2 Sử Ký 30:13 (VIE1934)
13. Vậy có rất nhiều dân nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, là một hội chúng rất đông, đặng giữ lễ Bánh không men trong tháng hai.

Việc một hội chúng rất đông nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem để giữ Lễ Bánh Không Men cho thấy lời mời của Ê-xê-chia đã có hiệu quả và dân sự đã đổi mới sự cam kết với đức tin của mình. Số người tham dự đông đảo cho thấy một sự thức tỉnh thuộc linh và một ước muốn chung được trở lại với những thực hành mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy, đánh dấu một thời điểm quan trọng trong lịch sử thờ phượng của Giu-đa.

2 Sử Ký 30:14 (VIE1934)
14. Chúng đứng dậy, cất các bàn thờ ở Giê-ru-sa-lem, cất hết các bàn thờ xông hương, và quăng xuống khe Kết-rôn.

Hành động của hội chúng trong việc dẹp bỏ các bàn thờ và những vật dùng để xông hương tại Giê-ru-sa-lem cho thấy sự từ bỏ dứt khoát việc thờ hình tượng và cam kết khôi phục sự thờ phượng chân thật. Việc quăng những vật ấy xuống khe Kết-rôn tượng trưng cho sự thanh tẩy và làm sạch, phản ánh mong muốn chung của dân sự là loại bỏ khỏi đời sống những thực hành làm ô danh Đức Chúa Trời. Hành động cải cách này rất quan trọng trong việc thiết lập lại sự tập trung vào việc chỉ thờ phượng Đức Giê-hô-va.

2 Sử Ký 30:15 (VIE1934)
15. Ngày mười bốn tháng hai, chúng giết con sinh lễ Vượt-qua. Các thầy tế lễ và người Lê-vi hổ thẹn, bèn biệt mình ra thánh, và đem của lễ thiêu vào đền Đức Giê-hô-va.

Lễ Vượt Qua được cử hành với lòng nhiệt thành và tận hiến mới. Các thầy tế lễ và người Lê-vi, ban đầu hổ thẹn vì chưa chuẩn bị đầy đủ, nay biệt mình ra thánh và thực hiện những nhiệm vụ thánh của mình. Việc họ biệt mình ra thánh trước khi thực hiện các nghi lễ nhấn mạnh tính nghiêm trọng trong vai trò dẫn dắt dân sự thờ phượng. Đây là một bước ngoặt trong đời sống thuộc linh của dân tộc khi họ chân thành trở lại với những thực hành của giao ước.

2 Sử Ký 30:16-17 (VIE1934)
16. Chúng đứng tại chỗ mình, theo lệ thường, y theo luật pháp của Môi-se, người của Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ rảy huyết nhận từ tay người Lê-vi.
17. Vì trong hội chúng có nhiều người chưa biệt mình ra thánh, nên người Lê-vi chịu trách nhiệm giết các con sinh lễ Vượt-qua cho mọi người không được tinh sạch, đặng biệt họ ra thánh cho Đức Giê-hô-va.

Các thầy tế lễ và người Lê-vi tuân theo những tập tục đã được thiết lập và Luật pháp Môi-se, cho thấy sự trở lại với sự thờ phượng đúng đắn Đức Chúa Trời. Việc thừa nhận rằng có những người chưa biệt mình ra thánh nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chuẩn bị thuộc linh. Việc người Lê-vi đảm nhận việc giết sinh lễ cho những người không thể tự mình thực hiện cho thấy sự sẵn lòng tạo điều kiện để mọi người đều có thể tham dự sự thờ phượng, phản ánh một tinh thần cộng đồng trong đức tin.

2 Sử Ký 30:18 (VIE1934)
18. Vì trong dân sự có nhiều người, phần nhiều là người Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn, chẳng có làm sạch mình, mà ăn lễ Vượt-qua chẳng theo điều đã chép. Nhưng Ê-xê-chia cầu nguyện cho họ rằng: Giê-hô-va là Đấng tốt lành, xin Ngài tha tội cho mỗi người đã định lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, dầu họ chẳng được sạch theo sự tinh sạch của nơi thánh.

Việc nhiều người chưa được thanh sạch vẫn tham dự Lễ Vượt Qua cho thấy những khó khăn vẫn còn trong việc đạt đến sự thanh sạch hoàn toàn. Tuy nhiên, lời cầu nguyện của Ê-xê-chia bày tỏ tấm lòng của ông đối với dân sự. Ông cầu xin Đức Chúa Trời chuộc tội cho những người thật lòng tìm kiếm Ngài, dù họ chưa được thanh sạch theo nghi thức của nơi thánh. Điều này cho thấy Ê-xê-chia hiểu rằng tình trạng của tấm lòng có tầm quan trọng đặc biệt trước mặt Đức Chúa Trời, đồng thời nhấn mạnh lòng thương xót của Ngài và sự sẵn lòng tiếp nhận những người chân thành tìm kiếm Ngài.

2 Sử Ký 30:19 (VIE1934)
19. Đức Giê-hô-va nhậm lời Ê-xê-chia, và chữa lành dân sự.

Sự đáp lời của Đức Chúa Trời đối với lời cầu nguyện của Ê-xê-chia cho thấy ân điển và sự sẵn lòng tha thứ, chữa lành dân sự của Ngài. Khoảnh khắc này cho thấy sự chấp nhận của Đức Chúa Trời đối với nỗ lực của nhà vua trong việc khôi phục sự thờ phượng và làm mới mối quan hệ giao ước. Sự chữa lành dân sự không chỉ nói đến sự phục hồi về thể chất mà còn phản ánh sự phục hồi thuộc linh, đánh dấu một cuộc phục hưng đức tin thành công giữa dân Giu-đa.

2 Sử Ký 30:20 (VIE1934)
20. Đức Chúa Trời nhậm lời Ê-xê-chia, và chữa lành dân sự. Người Y-sơ-ra-ên có mặt tại Giê-ru-sa-lem giữ lễ Bánh không men bảy ngày cách rất vui mừng; các người Lê-vi và thầy tế lễ mỗi ngày ca ngợi Đức Giê-hô-va bằng những khí cụ vang lớn.

Việc giữ Lễ Bánh Không Men trong bảy ngày được đánh dấu bằng niềm vui và lòng biết ơn. Các thầy tế lễ và người Lê-vi dẫn dắt sự thờ phượng bằng âm nhạc, cho thấy sự trở lại đầy sức sống và nhiệt thành với sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Bầu không khí vui mừng này cho thấy ảnh hưởng biến đổi của những cải cách của Ê-xê-chia và sự cam kết mới của dân sự trong việc phụng sự Đức Chúa Trời, nhấn mạnh niềm vui đi cùng với sự thờ phượng chân thành.

2 Sử Ký 30:21 (VIE1934)
21. Các con cháu Y-sơ-ra-ên có mặt tại Giê-ru-sa-lem giữ lễ Bánh không men bảy ngày cách rất vui mừng; các người Lê-vi và thầy tế lễ mỗi ngày ca ngợi Đức Giê-hô-va bằng những khí cụ vang lớn.

Sự vui mừng của dân sự trong Lễ Bánh Không Men cho thấy cuộc phục hưng thuộc linh đang diễn ra. Việc người Lê-vi và các thầy tế lễ liên tục ca ngợi Đức Giê-hô-va cho thấy sự thờ phượng không chỉ được khôi phục về hình thức mà còn trở nên sống động và đầy niềm vui. Sự nhóm họp này thể hiện sự hiệp nhất của dân sự khi họ cùng nhau trở lại với Đức Chúa Trời.

2 Sử Ký 30:22 (VIE1934)
22. Ê-xê-chia nói lời khích lệ cùng các người Lê-vi có sự hiểu biết tốt về việc hầu việc Đức Giê-hô-va. Chúng ăn trong kỳ lễ bảy ngày, dâng của lễ bình an, và xưng tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

Sự khích lệ của Ê-xê-chia dành cho người Lê-vi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảng dạy và nuôi dưỡng sự hiểu biết của dân sự về đường lối Đức Chúa Trời. Việc họ xưng tội trong kỳ lễ cho thấy một sự cam kết sâu sắc hơn đối với đức tin, nhìn nhận cả sự tốt lành của Đức Chúa Trời lẫn nhu cầu của họ về lòng thương xót Ngài. Việc cùng ăn và cùng thờ phượng trong kỳ lễ tượng trưng cho sự hiệp nhất của dân sự và sự nhận biết chung về mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời.

2 Sử Ký 30:23 (VIE1934)
23. Cả hội chúng lại bàn định giữ lễ thêm bảy ngày nữa; và họ giữ lễ thêm bảy ngày cách vui mừng.

Quyết định của cả hội chúng kéo dài kỳ lễ thêm bảy ngày nữa phản ánh niềm vui và sự thỏa lòng mà họ cảm nhận khi trở lại với sự thờ phượng đúng đắn. Sự nhiệt thành này cho thấy mối liên hệ của họ với đức tin đang được củng cố và họ mong muốn tiếp tục vui mừng trong sự thờ phượng. Việc sẵn lòng kéo dài kỳ lễ cho thấy tầm quan trọng của sự thờ phượng cộng đồng và tác động mạnh mẽ của sự ăn năn và vui mừng chung.

2 Sử Ký 30:24 (VIE1934)
24. Vì Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã cấp cho hội chúng một ngàn con bò đực và bảy ngàn con chiên; các quan trưởng cũng cấp cho hội chúng một ngàn con bò đực và mười ngàn con chiên. Và có rất nhiều thầy tế lễ biệt mình ra thánh.

Những lễ vật dồi dào của Ê-xê-chia về các con vật dùng làm của lễ cho thấy sự cam kết của ông trong việc bảo đảm một kỳ thờ phượng có ý nghĩa. Những lễ vật bổ sung của các quan trưởng càng cho thấy nỗ lực chung nhằm tôn kính Đức Chúa Trời trong thời kỳ đổi mới này. Việc rất nhiều thầy tế lễ biệt mình ra thánh cho thấy họ xem sự thờ phượng cách nghiêm túc, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch và tận hiến trong việc phục vụ Đức Chúa Trời.

2 Sử Ký 30:25 (VIE1934)
25. Cả hội chúng Giu-đa, các thầy tế lễ, người Lê-vi, cả hội chúng đến từ Y-sơ-ra-ên, cùng những người khách kiều ngụ đến từ xứ Y-sơ-ra-ên và ở tại Giu-đa, đều vui mừng.

Bầu không khí vui mừng trong hội chúng cho thấy niềm vui cộng đồng phát sinh từ việc họ cùng nhau trở lại với Đức Chúa Trời. Sự hiệp nhất giữa mọi người, bao gồm cả người Y-sơ-ra-ên bản địa và những người kiều ngụ, cho thấy những ranh giới đã được phá bỏ và một đức tin chung được thiết lập. Niềm vui của họ phản ánh sự thành công trong nỗ lực của Ê-xê-chia nhằm khôi phục sự thờ phượng Đức Giê-hô-va và phục hồi căn tính thuộc linh của dân tộc.

2 Sử Ký 30:26 (VIE1934)
26. Tại Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng lớn; vì từ đời Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đến đời ấy, tại Giê-ru-sa-lem chưa từng có sự nào giống như vậy.

Niềm vui được trải nghiệm tại Giê-ru-sa-lem trong kỳ Lễ Vượt Qua này là điều chưa từng có, đánh dấu một cuộc phục hưng thuộc linh quan trọng trong dân tộc. Việc nhắc đến thời Sa-lô-môn cho thấy một sự trở lại với những ngày huy hoàng của sự thờ phượng và tận hiến cho Đức Chúa Trời. Niềm vui chung này nhấn mạnh sức biến đổi của sự thờ phượng cộng đồng và tầm quan trọng của một tấm lòng hiệp một trong việc phụng sự Đức Giê-hô-va.

2 Sử Ký 30:27 (VIE1934)
27. Các thầy tế lễ và người Lê-vi đứng dậy chúc phước cho dân sự; tiếng họ được nghe, và lời cầu nguyện của họ thấu đến nơi ở thánh của Ngài, tức là đến tận trời.

Việc các thầy tế lễ và người Lê-vi chúc phước cho dân sự cho thấy sự kết thúc của kỳ Lễ Vượt Qua và sự nhìn nhận về ân huệ của Đức Chúa Trời trên họ. Lời cầu nguyện của họ thấu đến trời tượng trưng cho việc sự thờ phượng của họ được Đức Chúa Trời tiếp nhận, củng cố mối liên hệ giữa trời và đất trong thời kỳ đổi mới này. Hành động kết thúc này tóm lược hành trình thuộc linh của hội chúng, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời.

bottom of page