top of page

2 Sa-mu-ên 22

2 Sa-mu-ên 22 là bài ca giải cứu của Đa-vít, trong đó ông ca ngợi Đức Chúa Trời vì đã giải cứu ông khỏi các kẻ thù, đặc biệt là khỏi vua Sau-lơ. Chương này tương đồng với Thi-thiên 18 và phản ánh lòng biết ơn của Đa-vít đối với sự bảo vệ, dẫn dắt và sức mạnh của Đức Chúa Trời trong suốt cuộc đời ông. Bài ca bày tỏ sự tin cậy của Đa-vít nơi quyền năng của Đức Chúa Trời và sự nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời là nơi nương náu tối hậu của ông.

2 Sa-mu-ên 22:1-5 (VIE1934)
1 Đa-vít nói những lời của bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va trong ngày Ngài đã giải cứu người khỏi tay các thù nghịch người, và khỏi tay Sau-lơ.
2 Người nói rằng: Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, và là Đấng giải cứu tôi.
3 Đức Chúa Trời tôi, là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình; Ngài là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi, ngọn tháp cao tôi, nơi ẩn núp tôi, Đấng cứu tôi! Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo.
4 Tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, là Đấng đáng được ngợi khen; thì tôi sẽ được cứu khỏi các thù nghịch tôi.
5 Vì những lượn sóng sự chết đã vây phủ tôi, Các dòng nước hung ác làm tôi sợ hãi.

Đa-vít bắt đầu bài ca bằng việc nhìn nhận vai trò của Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ và giải cứu ông, đặc biệt khỏi sự truy đuổi của Sau-lơ. Ông ví Đức Chúa Trời như hòn đá, đồn lũy và cái khiên, nhấn mạnh bản tính không lay chuyển và sự bảo vệ của Ngài. Khi kêu cầu Đức Chúa Trời, Đa-vít tìm được sự an toàn giữa những hiểm nguy áp đảo đang đe dọa ông, bao gồm bạo lực và những thế lực gian ác tìm cách tiêu diệt ông.

2 Sa-mu-ên 22:6-7 (VIE1934)
6 Dây của âm phủ đã vấn lấy tôi, Lưới sự chết đã đón tôi.
7 Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Tôi kêu van cùng Đức Chúa Trời tôi. Từ đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, Và tiếng kêu van của tôi thấu đến tai Ngài.

Đa-vít mô tả sự khốn cùng nghiêm trọng mà ông đã trải qua, ví nó như bị mắc kẹt trong âm phủ, một nơi gắn liền với sự chết. Trong những thời khắc đen tối nhất, ông kêu cầu Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đáp lời. Điều này cho thấy sự thành tín của Đức Chúa Trời, Đấng lắng nghe và đáp lại tiếng kêu của dân Ngài, ngay cả từ đền thánh trên trời của Ngài.

2 Sa-mu-ên 22:8-9 (VIE1934)
8 Bấy giờ, đất rung và rúng động, Các nền trời lay động và rung rinh, Vì Ngài nổi giận.
9 Khói bay lên từ lỗ mũi Ngài, Lửa thiêu đốt ra từ miệng Ngài, Than cháy đỏ phừng phừng.

Đa-vít mô tả cách thi vị phản ứng đầy quyền năng của Đức Chúa Trời trước tiếng kêu của ông. Sự rung chuyển của đất tượng trưng cho cơn giận của Đức Chúa Trời trước sự áp bức mà Đa-vít phải chịu. Hình ảnh khói và lửa cho thấy cơn thịnh nộ mạnh mẽ và thiêu đốt của Đức Chúa Trời, mô tả Ngài như một quyền năng vĩ đại can thiệp trước sự bất công.

2 Sa-mu-ên 22:10-12 (VIE1934)
10 Ngài làm nghiêng các từng trời mà ngự xuống, Chân Ngài ở trên sự tối tăm.
11 Ngài cỡi chê-ru-bin và bay, Ngài hiện ra trên cánh gió.
12 Ngài lấy sự tối tăm làm nơi ẩn mình, Chung quanh Ngài là lều trại của Ngài, Tức là nước tối tăm và mây dày đặc của trời.

Những câu này mô tả sự giáng xuống đầy uy nghi của Đức Chúa Trời từ trời để giải cứu Đa-vít. Hình ảnh Đức Chúa Trời cưỡi trên chê-ru-bin và xuất hiện trên cánh gió nhấn mạnh sự oai nghi và quyền năng siêu nhiên của Ngài. Sự tối tăm và những đám mây biểu thị sự mầu nhiệm và bản chất đáng kính sợ của sự hiện diện Ngài.

2 Sa-mu-ên 22:13-16 (VIE1934)
13 Bởi sự chói sáng trước mặt Ngài, Than lửa cháy phừng phừng.
14 Đức Giê-hô-va làm sấm sét từ trên trời, Đấng Rất Cao làm vang tiếng Ngài.
15 Ngài bắn tên, làm tản lạc chúng nó; Ngài phóng chớp nhoáng, khiến chúng nó rối loạn.
16 Bấy giờ, các lòng sông hiện ra, Các nền của thế gian bị bày tỏ, Bởi lời quở trách của Đức Giê-hô-va, Bởi hơi thở của lỗ mũi Ngài.

Sự can thiệp của Đức Chúa Trời được mô tả như một sự bày tỏ quyền năng vô cùng lớn lao. Ngài làm sấm, phóng chớp và đánh tan các kẻ thù của Đa-vít. Việc các lòng sông được bày tỏ và các nền của đất bị lộ ra tượng trưng cho việc không điều gì có thể che giấu khỏi tầm tay hay lời quở trách của Đức Chúa Trời. Mệnh lệnh của Ngài là không thể ngăn cản và không thể chống lại.

2 Sa-mu-ên 22:17-20 (VIE1934)
17 Ngài từ trên cao sai tay xuống, nắm lấy tôi, Rút tôi ra khỏi các dòng nước lớn.
18 Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù mạnh sức tôi, Khỏi những kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
19 Chúng nó đón đánh tôi trong ngày tai họa tôi; Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
20 Ngài cũng đem tôi ra nơi rộng rãi; Ngài giải cứu tôi, vì Ngài vui lòng tôi.

Đa-vít kể lại cách Đức Chúa Trời đích thân can thiệp để giải cứu ông khỏi hiểm nguy áp đảo. Kẻ thù của ông mạnh hơn ông, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng nâng đỡ ông. Đức Chúa Trời không chỉ giải cứu ông mà còn đưa ông đến một nơi an toàn và tự do, là dấu hiệu cho thấy sự vui lòng và chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho Đa-vít.

2 Sa-mu-ên 22:21-25 (VIE1934)
21 Đức Giê-hô-va đã báo ứng tôi tùy sự công bình tôi; Ngài đã trả lại tôi tùy sự trong sạch của tay tôi.
22 Vì tôi đã gìn giữ đường lối Đức Giê-hô-va, Không lìa bỏ cách gian ác khỏi Đức Chúa Trời tôi.
23 Vì các mạng lịnh Ngài đều ở trước mặt tôi; Tôi không lìa bỏ các luật lệ Ngài.
24 Tôi cũng ở trọn vẹn trước mặt Ngài, Và giữ mình khỏi sự gian ác tôi.
25 Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo ứng tôi tùy sự công bình tôi, Tùy sự trong sạch của tôi ở trước mắt Ngài.

Đa-vít suy ngẫm về sự trung tín của mình đối với các điều răn của Đức Chúa Trời, quy sự giải cứu của ông cho đời sống công bình. Ông khẳng định rằng mình đã đi theo đường lối của Đức Chúa Trời và tránh khỏi tội lỗi, vì vậy Đức Chúa Trời đã báo ứng và bảo vệ ông. Mối quan hệ của ông với Đức Chúa Trời được thể hiện qua sự vâng phục và chính trực, và Đức Chúa Trời đáp lại bằng sự bảo vệ.

2 Sa-mu-ên 22:26-28 (VIE1934)
26 Người nhân từ, Chúa sẽ đối đãi nhân từ; Người trọn vẹn, Chúa sẽ đối đãi trọn vẹn;
27 Người trong sạch, Chúa sẽ đối đãi trong sạch; Người gian tà, Chúa sẽ đối đãi cách gian tà.
28 Chúa sẽ cứu dân khiêm nhường; Nhưng mắt Chúa xem xét kẻ kiêu ngạo, để hạ nó xuống.

Đa-vít nhấn mạnh rằng cách Đức Chúa Trời đối đãi với con người liên quan đến tính cách của họ. Với người nhân từ và trong sạch, Đức Chúa Trời bày tỏ lòng nhân từ và sự trong sạch của Ngài. Tuy nhiên, đối với những kẻ kiêu ngạo hoặc gian tà, Đức Chúa Trời sẽ đáp lại bằng sự khôn ngoan vượt qua sự xảo quyệt của họ. Đức Chúa Trời nâng người khiêm nhường lên nhưng hạ kẻ kiêu ngạo xuống.

2 Sa-mu-ên 22:29-31 (VIE1934)
29 Vì Chúa là ngọn đèn tôi, Đức Giê-hô-va soi sáng nơi tối tăm tôi.
30 Nhờ Chúa, tôi xông qua đạo binh; Nhờ Đức Chúa Trời tôi, tôi vượt khỏi tường thành.
31 Còn Đức Chúa Trời, đường lối Ngài là trọn vẹn; Lời Đức Giê-hô-va là tinh luyện; Ngài là cái khiên cho mọi kẻ nương náu mình nơi Ngài.

Đa-vít nhìn nhận Đức Chúa Trời là nguồn sức mạnh và sự dẫn dắt của mình. Đức Chúa Trời soi sáng nơi tối tăm và giúp ông vượt qua những trở ngại vốn dĩ không thể vượt qua. Đa-vít khẳng định rằng đường lối của Đức Chúa Trời là trọn vẹn, lời Ngài là đáng tin cậy, và Ngài là Đấng bảo vệ tất cả những người nương náu nơi Ngài.

2 Sa-mu-ên 22:32-35 (VIE1934)
32 Vì ngoài Đức Giê-hô-va, ai là Đức Chúa Trời? Ngoài Đức Chúa Trời chúng ta, ai là hòn đá?
33 Đức Chúa Trời là đồn lũy tôi, Ngài làm cho đường lối tôi được trọn vẹn.
34 Ngài làm cho chân tôi lẹ như chân nai, Và đặt tôi đứng trên các nơi cao của tôi.
35 Ngài dạy tay tôi đánh giặc, Đến đỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng.

Đa-vít tuyên bố rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời là nguồn sức mạnh của ông. Ông nhìn nhận Đức Chúa Trời là Đấng khiến ông trở nên nhanh nhẹn và có khả năng đứng vững trong những hoàn cảnh khó khăn. Đức Chúa Trời đã huấn luyện ông cho chiến trận, ban cho ông khả năng làm những điều vốn dĩ không thể, như giương một cây cung bằng đồng.

2 Sa-mu-ên 22:36-39 (VIE1934)
36 Chúa cũng ban cho tôi cái khiên cứu rỗi của Chúa; Sự nhu mì của Chúa làm tôi nên lớn.
37 Chúa mở đường dưới chân tôi rộng rãi, Để mắt cá chân tôi chẳng xiêu ngã.
38 Tôi đuổi theo kẻ thù nghịch tôi, diệt chúng nó; Chẳng xây lại cho đến chừng đã diệt chúng nó.
39 Tôi đã diệt chúng nó, đâm chúng nó bị thương, đến đỗi chúng nó không dậy nổi; Chúng nó sa dưới chân tôi.

Đa-vít tiếp tục ca ngợi Đức Chúa Trời vì đã ban sức mạnh và sự bảo vệ cho ông. “Cái khiên cứu rỗi” nói đến sự giải cứu và bảo vệ của Đức Chúa Trời. Nhờ sự nâng đỡ của Đức Chúa Trời, Đa-vít có thể truy đuổi và đánh bại hoàn toàn các kẻ thù của mình, bảo đảm sự sụp đổ của họ và giành được chiến thắng trên họ.

2 Sa-mu-ên 22:40-43 (VIE1934)
40 Chúa đã thắt lưng tôi bằng sức lực đặng đánh giặc; Chúa làm cho những kẻ dấy nghịch cùng tôi phải phục dưới tôi.
41 Chúa cũng khiến kẻ thù tôi xây lưng chạy trốn trước mặt tôi, Để tôi diệt những kẻ ghét tôi.
42 Chúng nó ngó quanh, chẳng có ai cứu; Chúng kêu cầu Đức Giê-hô-va, nhưng Ngài không đáp lại.
43 Bấy giờ, tôi giày đạp chúng nó như bụi đất; Tôi nghiền nát chúng nó như bùn ngoài đường, Và giày đạp chúng nó.

Đa-vít quy toàn bộ những chiến thắng quân sự của mình cho quyền năng và sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Ông mô tả các kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn, ngay cả khi chúng tìm kiếm sự giúp đỡ. Sức mạnh của Đa-vít trong chiến trận đến từ Đức Chúa Trời, và các kẻ thù của ông bị nghiền nát và tan tác như bụi đất.

2 Sa-mu-ên 22:44-45 (VIE1934)
44 Chúa cũng giải cứu tôi khỏi sự tranh cạnh của dân tôi; Chúa gìn giữ tôi làm đầu các dân; Một dân mà tôi không biết sẽ phục vụ tôi.
45 Người ngoại bang sẽ suy phục tôi; Vừa nghe đến tôi, chúng nó liền vâng theo.

Đa-vít nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời không chỉ giải cứu ông khỏi những kẻ thù bên ngoài mà còn khỏi những cuộc tranh cạnh giữa chính dân sự mình. Dù có những cuộc đấu tranh bên trong Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời vẫn gìn giữ quyền lãnh đạo của Đa-vít và thiết lập uy quyền của ông trên các dân tộc khác. Những dân ngoại bang, dù trước đây Đa-vít không biết đến, sẽ phục vụ ông và vâng theo ông khi nghe đến danh ông. Điều này nhấn mạnh ảnh hưởng rộng lớn của Đức Chúa Trời và sự thành công của Đa-vít với tư cách là một vị vua vượt ra ngoài biên giới Y-sơ-ra-ên.

2 Sa-mu-ên 22:46 (VIE1934)
46 Người ngoại bang đều nao núng, Ra khỏi nơi ẩn núp mình mà run rẩy.

Đa-vít suy ngẫm về việc ngay cả các dân ngoại bang, những dân mà trước đây ông không biết đến, cũng phải phục dưới quyền ông vì sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Những dân này, kinh hãi trước quyền lực của Đa-vít và Đức Chúa Trời mà ông thờ phượng, đã rút lui trong sợ hãi. Điều này cho thấy ảnh hưởng rộng lớn của công việc Đức Chúa Trời trong đời sống Đa-vít, ngay cả trên những dân tộc ở xa.

2 Sa-mu-ên 22:47-49 (VIE1934)
47 Đức Giê-hô-va hằng sống! Đáng ngợi khen hòn đá tôi! Nguyện Đức Chúa Trời là hòn đá cứu rỗi tôi được tôn cao!
48 Đức Chúa Trời đã báo thù tôi, Bắt các dân phục dưới tôi.
49 Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch tôi; Phải, Ngài nâng tôi lên cao hơn những kẻ dấy nghịch cùng tôi; Ngài giải cứu tôi khỏi người hung bạo.

Đa-vít ca ngợi Đức Chúa Trời hằng sống, là Hòn Đá không lay chuyển và Đấng Cứu Rỗi của ông. Ông nhìn nhận rằng chính Đức Chúa Trời báo thù những kẻ thù của ông và ban cho ông chiến thắng trên các dân tộc. Đức Chúa Trời đã liên tục giải cứu Đa-vít khỏi những kẻ tìm cách làm hại ông, nâng ông lên trên mọi sự chống đối và ban cho ông sự bình an.

2 Sa-mu-ên 22:50-51 (VIE1934)
50 Vì vậy, Đức Giê-hô-va ôi! tôi sẽ cảm tạ Chúa giữa các dân, Và ca ngợi danh Chúa.
51 Ngài ban sự giải cứu lớn cho vua Ngài, Tỏ lòng nhân từ cho người chịu xức dầu của Ngài, Tức là cho Đa-vít và dòng dõi người đời đời.

Đa-vít kết thúc bằng lời hứa công khai cảm tạ Đức Chúa Trời và ca ngợi Ngài giữa các dân, tuyên bố sự vĩ đại của Đức Chúa Trời vượt ra ngoài Y-sơ-ra-ên. Ông nhận biết Đức Chúa Trời là đồn lũy mạnh mẽ của sự cứu rỗi dành cho mình, là vị vua, và nhấn mạnh lòng nhân từ bền lâu của Đức Chúa Trời đối với ông và dòng dõi ông. Câu kết này nhấn mạnh giao ước đời đời của Đức Chúa Trời với Đa-vít và dòng dõi hoàng gia của ông.

bottom of page