
2 Sa-mu-ên 23
Trong chương này, chúng ta có những lời cuối cùng của Đa-vít, phản ánh di sản của ông, giao ước của Đức Chúa Trời, và những chiến công của các dõng sĩ của ông. Chương bắt đầu bằng những lời suy ngẫm đầy thi vị của Đa-vít về sự thành tín của Đức Chúa Trời, tiếp theo là danh sách những chiến sĩ đã đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập vương quốc của ông. Phần này làm nổi bật cả bàn tay của Đức Chúa Trời trong đời sống Đa-vít lẫn lòng can đảm của những người đã hỗ trợ ông.
2 Sa-mu-ên 23:1-5 (VIE1934)
1 Nầy là lời sau hết của Đa-vít. Nầy là lời của Đa-vít, con trai Y-sai, Tức lời của người đã được nâng lên cao thay, Đấng chịu xức dầu của Đức Chúa Trời Gia-cốp, Và làm kẻ hát êm dịu của Y-sơ-ra-ên.
2 Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta.
3 Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán, Hòn Đá lớn của Y-sơ-ra-ên đã phán cùng ta rằng: Người nào cai trị loài người cách công bình, Cách kính sợ Đức Chúa Trời,
4 Thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng, khi mặt trời mọc, Khác nào một buổi sớm mai chẳng có mây; Các ánh sáng nó làm cho cây cỏ bởi đất nảy ra sau khi mưa.
5 Nhà ta dầu chẳng phải như vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Song Ngài đã lập với ta một giao ước đời đời, Vững bền trong mọi sự và chắc chắn. Vì đó là cả sự cứu rỗi và cả sự ước ao ta, Dẫu Ngài không làm cho điều đó nẩy nở ra.
Đa-vít bắt đầu bằng việc suy ngẫm về cuộc đời mình, nhắc đến nguồn gốc khiêm nhường của ông là con trai của Y-sai. Ông thừa nhận vai trò đặc biệt của mình là vị vua được Đức Chúa Trời chọn và là người sáng tác những bài ca thờ phượng của Y-sơ-ra-ên. Ông cũng nói về sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong việc cai trị, nhấn mạnh rằng người lãnh đạo lý tưởng phải cai trị cách công bình và kính sợ Đức Chúa Trời. Đa-vít ví một người cai trị công bình như ánh sáng tươi mới của buổi sáng sau cơn mưa, tượng trưng cho hy vọng và sự sinh trưởng. Mặc dù nhà ông không hoàn toàn trung tín với Đức Chúa Trời, ông vẫn tìm được sự an ủi trong giao ước đời đời của Đức Chúa Trời, là giao ước bảo đảm cho di sản của ông và sự cứu rỗi đến từ Đức Chúa Trời.
2 Sa-mu-ên 23:6-7 (VIE1934)
6 Trái lại, hết thảy kẻ hung ác đều giống như gai chông mà người ta liệng ra xa, Không thể lấy bằng tay được;
7 Người ta phải dùng đồ bằng sắt hay là cán cây lao đặng nắm nó. Rồi chính tại chỗ, nó bị thiêu trong lửa.
Đa-vít đối chiếu những phước lành dành cho người lãnh đạo công bình với số phận của những kẻ phản loạn. Ông ví những kẻ gian ác như gai chông, nguy hiểm và vô dụng, cần phải được xử lý bằng những vũ khí để tiêu diệt. Cuối cùng, họ sẽ đối diện với sự phán xét và bị thiêu hủy hoàn toàn. Hình ảnh này chỉ về sự sụp đổ không thể tránh khỏi của những người chống lại sự cai trị và công lý của Đức Chúa Trời.
2 Sa-mu-ên 23:8-12 (VIE1934)
8 Nầy là tên các người mạnh bạo đã giúp việc cho Đa-vít: Giô-sép-Ba-sê-bết, người Tách-kê-môn, làm đầu lính thị vệ của vua. Ấy là người quơ giáo mình cự lại tám trăm người, và giết đi trong một lúc gặp.
9 Sau người ấy, có Ê-lê-a-sa, con trai Đô-đô, cháu của A-cô-hi, là một trong ba người mạnh bạo đã cùng Đa-vít thách dân Phi-li-tin hiệp lại đặng chiến trận.
10 Khi dân Y-sơ-ra-ên rút đi, thì Ê-lê-a-sa chổi dậy, đánh dân Phi-li-tin cho đến khi tay người tê cứng lại nơi gươm người. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể; chúng chỉ theo sau Ê-lê-a-sa đặng cướp bóc kẻ thù nghịch đó thôi.
11 Sau người ấy có Sa-ma, con trai A-ghe, người Ha-ra. Dân Phi-li-tin đã hiệp lại thành đoàn lũ; ở đó có một đồng gieo đầy đậu, và dân sự đều chạy trốn khỏi trước mặt dân Phi-li-tin.
12 Nhưng Sa-ma đứng ở giữa ruộng, binh vực nó, và đánh dân Phi-li-tin. Như vậy, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể.
Các dõng sĩ của Đa-vít là những chiến binh xuất chúng, và ba người đầu tiên được đặc biệt nhắc đến vì những hành động can đảm và sức mạnh của họ. Giô-sép-Ba-sê-bết được ghi nhận vì đã đánh bại tám trăm kẻ thù trong một lần giao chiến. Ê-lê-a-sa đứng vững trước người Phi-li-tin, tiếp tục chiến đấu ngay cả khi những người đồng đội rút lui, thể hiện sức chịu đựng và lòng can đảm phi thường. Sa-ma bảo vệ một cánh đồng đậu, cho thấy lòng dũng cảm và quyết tâm của mình. Trong mỗi trường hợp, Đức Giê-hô-va ban cho một chiến thắng lớn qua hành động của họ, nhấn mạnh rằng sức mạnh của họ đến từ sự ban quyền năng của Đức Chúa Trời.
2 Sa-mu-ên 23:13-17 (VIE1934)
13 Trong vòng ba mươi quan tướng, có ba người đi xuống nhằm lúc mùa gặt và đến cùng Đa-vít tại hang đá A-đu-lam, trong khi một cơ quân Phi-li-tin đóng trại tại trũng Rê-pha-im.
14 Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn, và ở tại Bết-lê-hem có một đạo binh hờ của dân Phi-li-tin.
15 Đa-vít ao ước rằng: Chớ chi ta được uống nước bởi giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem!
16 Bấy giờ, có ba người quan tướng đầy lòng gan dạ, xông ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem, rồi đem về dâng cho Đa-vít; nhưng người từ chối không uống, bèn rảy nước đó ra làm lễ dâng cho Đức Giê-hô-va,
17 mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi! tôi hẳn không uống đâu. Nước nầy khác nào huyết của ba người nầy, liều mạng sống mình đặng đi đến nơi kia. Vậy người không chịu uống. Đó là sự của ba người tướng mạnh bạo ấy đã làm.
Câu chuyện này cho thấy lòng trung thành và sự can đảm của các dõng sĩ Đa-vít. Khi nghe Đa-vít ước ao được uống nước từ giếng ở Bết-lê-hem, nơi đang bị người Phi-li-tin chiếm giữ, họ đã liều mạng để thực hiện mong muốn của ông. Phản ứng của Đa-vít rất đáng chú ý: thay vì uống nước, ông dâng nước ấy cho Đức Giê-hô-va như một của lễ. Ông nhận biết giá trị của sự tận tụy và lòng can đảm của họ, xem nước ấy như huyết của họ. Câu chuyện này minh họa mối liên kết sâu sắc giữa Đa-vít và các chiến binh của ông, cũng như sự kính trọng của ông đối với sự hy sinh của họ.
2 Sa-mu-ên 23:18-23 (VIE1934)
18 A-bi-sai, em Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, làm tướng của ba người dõng sĩ; người dùng cây giáo mình đánh chết ba trăm người, và có danh tiếng trong ba người dõng sĩ ấy.
19 Trong cả ba, A-bi-sai có danh hơn hết, và người làm đầu họ. Dầu vậy, người không bằng ba người kia.
20 Lại có Bê-na-gia ở Cáp-sê-ên, con trai của Giê-hô-gia-đa, là một người mạnh bạo, nổi tiếng vì các công lớn của mình. Người đã giết hai người Mô-áp mạnh bạo hơn hết. Trong một ngày tuyết kia, ấy cũng người nầy đi xuống một cái hầm chứa nước, có con sư tử, và giết nó đi.
21 Lại người cũng đánh giết một người Ê-díp-tô, có bộ tướng đáng sợ hãi. Người Ê-díp-tô cầm nơi tay một cây giáo; còn Bê-na-gia cầm cây gậy xuống đón người. Người rứt cây giáo khỏi tay người Ê-díp-tô, rồi dùng một cây giáo ấy mà giết hắn đi.
22 Đó là công việc Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đã làm; người được nổi tiếng trong ba người tướng gan dạ kia.
23 song không bằng ba người trước. Đa-vít nhận người vào trong bàn mật nghị mình.
A-bi-sai, em trai của Giô-áp, được ghi nhận về lòng can đảm trong chiến trận, đặc biệt là việc ông dùng giáo giết ba trăm kẻ thù. Mặc dù rất được trọng vọng, ông không đạt đến vị trí của ba dõng sĩ đầu tiên. Bê-na-gia, một chiến binh nổi bật khác, được ghi nhận vì những chiến công phi thường, bao gồm việc giết hai người Mô-áp mạnh bạo, một con sư tử và một chiến binh Ê-díp-tô. Lòng can đảm của ông đem lại cho ông một vị trí đặc biệt, và ông được Đa-vít nhận vào trong bàn mật nghị của mình. Những câu chuyện về A-bi-sai và Bê-na-gia minh họa lòng dũng cảm và tầm quan trọng của những người đã đứng bên Đa-vít trong thời gian ông trị vì.
2 Sa-mu-ên 23:24-39 (VIE1934)
24 A-sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng sĩ kia; cũng có Eân-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem;
25 lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt;
26 Hê-lết ở Phê-lết; Y-sa, con trai của Y-kẻ ở Tê-cô;
27 A-bi-ê-xe ở A-na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa;
28 Sanh-môn ở A-hô-a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha;
29 Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-to-pha; Y-tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của dân Bên-gia-min;
30 Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Gia-ách;
31 A-bi-Anh-bôn ở A-ra-ba; Ách-ma-vét ở Bạt cum;
32 Ê-li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than;
33 Sa-ma ở Ha-ra; A-ki-am, con trai của Sa-ra, người A-ra-rít;
34 Ê-li-phê-lết, con trai của A-cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê-li-am, con trai của A-hi-tô-phe ở Ghi-lô;
35 Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A-ráp;
36 Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi;
37 Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia;
38 Y-ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the;
39 U-ri người Hê-tít; cộng là ba mươi bảy người.
Đoạn này liệt kê tên những dõng sĩ còn lại của Đa-vít. Những chiến binh này, dù không được nhấn mạnh như ba người đầu tiên, vẫn đóng vai trò thiết yếu trong thành công của Đa-vít. Trong danh sách này có A-sa-ên, em trai của Giô-áp, nổi tiếng về tốc độ, và U-ri người Hê-tít, người có câu chuyện bi thảm gắn liền với những thất bại về sau của Đa-vít. Việc nhắc đến những người này là một lời tri ân dành cho những cá nhân đã chiến đấu cách dũng cảm cho Đa-vít và góp phần thiết lập vương quốc của ông.

