
Các Quan Xét 2
Các Quan Xét 2 nhìn lại sự thất bại của Y-sơ-ra-ên trong việc hoàn toàn đuổi dân Ca-na-an, sự bất tuân tiếp theo của họ và phản ứng của Đức Chúa Trời. Chương này kể lại những hậu quả của sự bất tuân và chu kỳ nổi loạn, áp bức, ăn năn và giải cứu, là điều sẽ lặp đi lặp lại trong sách Các Quan Xét. Chương này nhấn mạnh những lời cảnh báo của Đức Chúa Trời, tội lỗi của Y-sơ-ra-ên và những hậu quả theo sau, đặt nền tảng cho phần còn lại của câu chuyện trong sách Các Quan Xét.
Các Quan Xét 2:1 (VIE1934)
1 Vả, thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ Ghinh-ganh đi lên Bô-chim, mà phán rằng: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, dẫn vào xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ các ngươi; ta có phán rằng: Ta sẽ chẳng bao giờ bội giao ước ta với các ngươi.
Câu này giới thiệu thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Đấng bày tỏ sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Thiên sứ nhắc lại những việc thành tín mà Đức Chúa Trời đã làm cho Y-sơ-ra-ên, đặc biệt là sự giải cứu họ khỏi xứ Ê-díp-tô và việc Ngài thực hiện lời hứa với tổ phụ họ. Đức Chúa Trời đã giữ giao ước của Ngài cách trọn vẹn, cho thấy sự thành tín của Ngài dù Y-sơ-ra-ên đã thất bại trong việc vâng lời.
Các Quan Xét 2:2 (VIE1934)
2 Các ngươi chớ lập giao ước với dân của xứ nầy; khá phá hủy bàn thờ chúng nó. Nhưng các ngươi không vâng lời ta. Sao các ngươi làm điều đó?
Đức Chúa Trời nhắc Y-sơ-ra-ên về mạng lệnh Ngài đã ban: họ không được lập giao ước với dân cư trong xứ và phải phá hủy các bàn thờ của chúng. Tuy nhiên, Y-sơ-ra-ên đã không vâng lời. Họ để các dân ấy còn lại trong xứ và không loại bỏ những ảnh hưởng tôn giáo của họ. Câu hỏi của Đức Chúa Trời, “Sao các ngươi làm điều đó?” kêu gọi dân sự nhìn nhận sự thất bại của mình trong việc vâng theo mạng lệnh Ngài.
Các Quan Xét 2:3 (VIE1934)
3 Vậy nên bây giờ ta nói rằng: Ta sẽ không đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; nhưng chúng nó sẽ như gai ở hông các ngươi, và các thần chúng nó sẽ làm cạm bẫy cho các ngươi.
Vì sự bất tuân của Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ không tiếp tục đuổi những dân còn lại khỏi trước mặt họ. Thay vào đó, những dân này sẽ trở thành “gai ở hông” và các thần của họ sẽ trở thành cạm bẫy cho Y-sơ-ra-ên. Điều này cho thấy hậu quả của sự thỏa hiệp. Những dân mà Y-sơ-ra-ên không chịu đuổi khỏi xứ sẽ trở thành nguồn gây rắc rối và cám dỗ họ vào sự thờ hình tượng.
Các Quan Xét 2:4-5 (VIE1934)
4 Khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va phán những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên, thì dân sự cất tiếng khóc lớn.
5 Vậy, người ta đặt tên chỗ đó là Bô-chim, và tại đó họ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va.
Phản ứng của dân sự trước lời phán của thiên sứ Đức Giê-hô-va là sự đau buồn sâu sắc. Họ khóc khi nhận biết sự thất bại của mình và những hậu quả của sự bất tuân. Họ gọi nơi ấy là Bô-chim, có nghĩa là “những người khóc,” để ghi nhớ sự kiện này. Việc họ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va cho thấy họ muốn tìm kiếm sự tha thứ và trở lại cùng Ngài, mặc dù sự ăn năn này sẽ không kéo dài.
Các Quan Xét 2:6-9 (VIE1934)
6 Khi Giô-suê cho dân sự về, thì dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều đi về sản nghiệp mình đặng nhận lấy xứ.
7 Dân sự hầu việc Đức Giê-hô-va trọn đời Giô-suê và trọn đời các trưởng lão còn sống lâu hơn Giô-suê, là những người đã thấy mọi việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Y-sơ-ra-ên.
8 Giô-suê, con trai của Nun, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời, hưởng thọ một trăm mười tuổi.
9 Người ta chôn người trong bờ cõi sản nghiệp người, tại Thim-nát-Hê-re, trên núi Ép-ra-im, về phía bắc núi Ga-ách.
Câu 6 nhắc lại sự kiện trước đó trong sách Giô-suê, khi Giô-suê cho dân Y-sơ-ra-ên trở về để nhận lấy phần sản nghiệp đã được chia cho họ. Câu 7-9 tập trung vào ảnh hưởng của sự lãnh đạo trung thành của Giô-suê. Dân sự tiếp tục hầu việc Đức Giê-hô-va trong suốt đời ông và trong đời của các trưởng lão đã từng chứng kiến những việc lớn lao Đức Chúa Trời làm cho Y-sơ-ra-ên. Sau khi Giô-suê qua đời ở tuổi một trăm mười, ông được chôn trong phần sản nghiệp của mình tại Thim-nát-Hê-re trên núi Ép-ra-im. Sự qua đời của Giô-suê và thế hệ của ông chuẩn bị cho sự chuyển tiếp sang một thế hệ mới và những thử thách sắp đến.
Các Quan Xét 2:10 (VIE1934)
10 Hết thảy thế hệ ấy cũng đều được tiếp về cùng tổ phụ mình; rồi có một thế hệ khác nổi lên sau họ, chẳng biết Đức Giê-hô-va, cũng chẳng biết công việc Ngài đã làm cho Y-sơ-ra-ên.
Câu này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Khi thế hệ của Giô-suê và các trưởng lão qua đời, một thế hệ mới xuất hiện nhưng không biết Đức Giê-hô-va cũng như những công việc lớn lao Ngài đã làm cho Y-sơ-ra-ên. Sự thiếu hiểu biết này dẫn đến sự suy giảm thuộc linh, vì thế hệ mới không tiếp tục trung thành với giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với dân Ngài.
Các Quan Xét 2:11-13 (VIE1934)
11 Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, và hầu việc Ba-anh.
12 Chúng nó lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, là Đấng đã đem chúng nó ra khỏi xứ Ê-díp-tô; chúng nó theo các thần của những dân tộc ở xung quanh mình, thờ lạy các thần ấy, và chọc giận Đức Giê-hô-va.
13 Chúng nó lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà hầu việc Ba-anh và Ách-tạt-tê.
Sự bội đạo của Y-sơ-ra-ên được mô tả rõ ràng trong những câu này. Dân sự lìa bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi xứ Ê-díp-tô, và quay sang thờ các thần của những dân tộc chung quanh. Đặc biệt, họ hầu việc Ba-anh và Ách-tạt-tê, là những thần được thờ trong vùng Ca-na-an. Sự thờ hình tượng này là sự từ bỏ trực tiếp giao ước của Đức Chúa Trời và khiến họ chọc giận Ngài.
Các Quan Xét 2:14-15 (VIE1934)
14 Cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng nó vào tay những kẻ cướp bóc, cướp đoạt chúng nó; Ngài bán chúng nó vào tay quân thù ở bốn phía, đến nỗi chúng nó không còn thế chống cự quân thù mình được.
15 Hễ chúng nó đi đâu, thì tay Đức Giê-hô-va cũng nghịch cùng chúng nó đặng làm họa cho, y như Đức Giê-hô-va đã phán và đã thề với chúng nó; và chúng nó bị khốn khổ lắm.
Đáp lại sự thờ hình tượng của Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời để cho kẻ thù áp bức và cướp bóc họ. Điều này ứng nghiệm những lời cảnh báo đã được ban trong giao ước. Dân từng giành được nhiều chiến thắng nay không còn đủ sức chống lại kẻ thù, và họ chịu khốn khổ vì sự phản nghịch của mình. Sự phán xét của Đức Chúa Trời là hậu quả trực tiếp của việc họ không vâng lời Ngài.
Các Quan Xét 2:16 (VIE1934)
16 Đức Giê-hô-va bèn dấy lên các quan xét, giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp bóc mình.
Mặc dù Y-sơ-ra-ên không trung tín, Đức Chúa Trời vẫn bày tỏ lòng thương xót bằng cách dấy lên các quan xét để giải cứu họ khỏi những kẻ áp bức. Các quan xét là những người được Đức Chúa Trời dấy lên để lãnh đạo và giải cứu dân sự trong những thời kỳ khốn khó. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời vẫn sẵn lòng thương xót dân Ngài ngay cả giữa sự phán xét.
Các Quan Xét 2:17 (VIE1934)
17 Nhưng chúng nó cũng không nghe lời các quan xét, vì chúng nó hành dâm theo các thần khác, và thờ lạy các thần ấy. Chúng nó xây bỏ rất mau con đường tổ phụ mình đã đi theo, là vâng theo các điều răn của Đức Giê-hô-va; chúng nó chẳng làm như vậy.
Mặc dù Đức Chúa Trời ban các quan xét để giải cứu họ, Y-sơ-ra-ên thường chỉ ăn năn trong một thời gian ngắn. Dân sự lại nhanh chóng quay về sự thờ hình tượng và lìa bỏ các điều răn của Đức Giê-hô-va. Hình ảnh “hành dâm theo các thần khác” diễn tả sự bất trung sâu sắc của họ đối với Đức Chúa Trời, giống như sự không chung thủy trong một giao ước hôn nhân.
Các Quan Xét 2:18 (VIE1934)
18 Vả, khi Đức Giê-hô-va dấy lên quan xét cho dân Y-sơ-ra-ên, thì Ngài ở cùng quan xét ấy, và giải cứu họ khỏi tay quân thù trong trọn đời quan xét; vì Đức Giê-hô-va cảm động bởi tiếng than thở của họ, nhân cớ những kẻ hà hiếp và làm khổ họ.
Lòng thương xót của Đức Chúa Trời được thể hiện rõ ràng khi Ngài đáp lại tiếng than thở của dân sự. Khi họ chịu áp bức và kêu cầu Ngài, Đức Chúa Trời dấy lên một quan xét và ở cùng người ấy để giải cứu họ. Chu kỳ này cho thấy cả sự công bình lẫn lòng thương xót của Đức Chúa Trời: Ngài cho phép họ chịu hậu quả của sự bất tuân, nhưng vẫn động lòng thương xót khi họ kêu cầu Ngài trong sự khốn khổ.
Các Quan Xét 2:19 (VIE1934)
19 Nhưng khi quan xét qua đời, thì chúng nó trở lại, làm hư hơn tổ phụ mình, theo các thần khác mà hầu việc và thờ lạy các thần ấy. Chúng nó chẳng thôi các việc mình làm, và đường lối cứng cỏi của mình.
Mỗi khi một quan xét qua đời, dân Y-sơ-ra-ên lại quay trở lại với tội lỗi, thậm chí còn làm hư hơn thế hệ trước. Họ tiếp tục theo các thần khác, hầu việc và thờ lạy chúng. Điều này cho thấy sự ăn năn của họ trong thời gian có quan xét thường không sâu sắc và lâu dài. Sự cứng lòng và không chịu hoàn toàn trở lại cùng Đức Chúa Trời cho thấy mức độ suy thoái thuộc linh ngày càng nghiêm trọng.
Các Quan Xét 2:20-21 (VIE1934)
20 Vì vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng Y-sơ-ra-ên; Ngài phán rằng: Bởi vì dân nầy đã phạm giao ước ta đã truyền cho tổ phụ chúng nó, và chẳng khứng nghe tiếng ta,
21 nên ta cũng chẳng đuổi một dân tộc nào trong các dân tộc mà Giô-suê đã để lại khi người qua đời, khỏi trước mặt chúng nó,
Sự bất tuân tiếp tục của Y-sơ-ra-ên khiến cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng. Dân sự đã phạm giao ước mà Đức Chúa Trời lập với tổ phụ họ và không chịu nghe tiếng Ngài. Vì vậy, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Ngài sẽ không tiếp tục đuổi các dân tộc còn lại mà Giô-suê đã để lại khi qua đời. Những dân tộc này sẽ trở thành một sự thử thách và nguồn chống đối đối với Y-sơ-ra-ên.
Các Quan Xét 2:22-23 (VIE1934)
22 hầu cho bởi chúng nó ta thử Y-sơ-ra-ên, xem chúng nó có gìn giữ đạo Đức Giê-hô-va mà đi theo, cũng như tổ phụ chúng nó đã gìn giữ, hay là không.
23 Vậy, Đức Giê-hô-va để các dân tộc ấy còn lại, chẳng đuổi họ đi vội, cũng chẳng phó họ vào tay Giô-suê.
Mục đích của Đức Chúa Trời trong việc để các dân tộc ấy còn lại là để thử Y-sơ-ra-ên, xem họ có giữ đường lối của Đức Giê-hô-va như tổ phụ mình hay không. Sự hiện diện của những dân tộc còn lại sẽ bày tỏ lòng trung thành của Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời. Việc Đức Chúa Trời không lập tức loại bỏ những dân tộc này tạo nên một thử thách liên tục cho dân sự, đồng thời cho thấy tầm quan trọng của sự lựa chọn vâng lời hay phản nghịch của họ.

