
Các Quan Xét 3
Các Quan Xét 3 giới thiệu thời kỳ Y-sơ-ra-ên bị áp bức sau khi sa vào tội lỗi và sự thờ hình tượng. Đức Chúa Trời cho phép nhiều dân tộc khác nhau thống trị Y-sơ-ra-ên như một hình phạt cho sự bất tuân của họ. Chương này cũng giới thiệu những quan xét đầu tiên được Đức Chúa Trời dấy lên để giải cứu dân Ngài: Ốt-ni-ên, Ê-hút và Sam-ga. Chương này nhấn mạnh chu kỳ lặp đi lặp lại của tội lỗi, sự áp bức, sự kêu cầu Đức Chúa Trời và sự giải cứu qua các quan xét.
Các Quan Xét 3:1-5 (VIE1934)
1 Nầy là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va để lại, đặng dùng chúng thử Y-sơ-ra-ên, tức là những người trong Y-sơ-ra-ên không biết các cuộc chiến ở Ca-na-an,
2 đặng cho những dòng dõi của dân Y-sơ-ra-ên chưa từng biết trước các cuộc chiến ấy học biết đánh giặc.
3 Nầy là các dân tộc đó: năm quan trưởng của dân Phi-li-tin, hết thảy dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở tại núi Li-ban, từ núi Ba-anh-Hẹt-môn cho đến lối vào Ha-mát.
4 Các dân ấy dùng để thử Y-sơ-ra-ên, đặng biết chúng có vâng theo các điều răn của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng nó bởi Môi-se, hay chăng.
5 Vậy, dân Y-sơ-ra-ên ở giữa dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
Đức Chúa Trời để lại một số dân tộc trong xứ để thử Y-sơ-ra-ên, xem họ có trung thành và vâng theo các điều răn của Ngài hay không. Những dân tộc này cũng tạo cơ hội để thế hệ mới của Y-sơ-ra-ên học biết chiến trận, vì họ chưa từng trải qua những cuộc chiến mà thế hệ trước đã trải qua. Tuy nhiên, thay vì hoàn toàn đuổi những dân tộc ấy ra khỏi xứ, Y-sơ-ra-ên sống chung với họ. Sự chung sống này đưa họ đến gần hơn với ảnh hưởng ngoại giáo và chuẩn bị cho sự bất tuân tiếp theo.
Các Quan Xét 3:6 (VIE1934)
6 Chúng nó cưới con gái của các dân ấy làm vợ, gả con gái mình cho con trai của các dân ấy, và hầu việc các thần của chúng nó.
Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu kết hôn với những dân tộc ngoại giáo chung quanh, trái với mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Những cuộc hôn nhân này đưa họ vào sự liên kết gần gũi với các dân ngoại và cuối cùng khiến họ hầu việc các thần của những dân ấy. Đây là một bước quan trọng trong sự suy thoái thuộc linh của Y-sơ-ra-ên, vì sự liên kết qua hôn nhân đã tạo điều kiện cho sự thờ hình tượng lan rộng trong dân sự.
Các Quan Xét 3:7 (VIE1934)
7 Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, hầu việc Ba-anh và Ách-tạt-tê.
Sự bất tuân của Y-sơ-ra-ên ngày càng nghiêm trọng khi họ quên Đức Giê-hô-va và quay sang hầu việc Ba-anh cùng Ách-tạt-tê. Họ không chỉ sống chung với những dân tộc ngoại giáo mà còn tiếp nhận sự thờ hình tượng của họ. Việc quên Đức Chúa Trời là quên những điều Ngài đã làm cho họ và những điều răn Ngài đã ban, dẫn đến sự bội đạo và chọc giận Đức Giê-hô-va.
Các Quan Xét 3:8 (VIE1934)
8 Vì vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng nó vào tay Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua xứ Mê-sô-bô-ta-mi; dân Y-sơ-ra-ên phục sự Cu-san-Ri-sa-tha-im trong tám năm.
Để đáp lại sự phản nghịch của Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời cho phép Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua xứ Mê-sô-bô-ta-mi, áp bức họ. Sự phục dịch kéo dài tám năm và là hậu quả trực tiếp của việc họ lìa bỏ Đức Giê-hô-va. Thời gian áp bức này cho thấy sự nghiêm trọng của tội lỗi và sự cần thiết phải trở lại cùng Đức Chúa Trời.
Các Quan Xét 3:9-11 (VIE1934)
9 Khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va bèn dấy lên một đấng giải cứu cho dân Y-sơ-ra-ên, là Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, em Ca-lép.
10 Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người bèn làm quan xét Y-sơ-ra-ên, đi ra đánh giặc. Đức Giê-hô-va phó Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua xứ Mê-sô-bô-ta-im, vào tay người; tay người thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im.
11 Xứ được bình an trong bốn mươi năm. Đoạn, Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, qua đời.
Trong lúc khốn khổ, dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời đáp lời bằng cách dấy lên Ốt-ni-ên làm người giải cứu đầu tiên. Thần của Đức Giê-hô-va cảm động ông, và ông dẫn Y-sơ-ra-ên chiến thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im. Sau chiến thắng ấy, xứ được bình an trong bốn mươi năm. Câu chuyện cho thấy lòng thương xót của Đức Chúa Trời khi Ngài ban người giải cứu cho dân Ngài dù họ đã không trung thành.
Các Quan Xét 3:12-14 (VIE1934)
12 Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn khiến Ê-glôn, vua Mô-áp, trở nên mạnh nghịch cùng Y-sơ-ra-ên, vì chúng đã làm điều ác trước mặt Ngài.
13 Ê-glôn hiệp các con cái Am-môn và A-ma-léc lại cùng mình, đi đánh Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy thành Cây Chà là.
14 Dân Y-sơ-ra-ên phục sự Ê-glôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm.
Sau khi Ốt-ni-ên qua đời, Y-sơ-ra-ên lại trở về với tội lỗi. Đức Chúa Trời cho phép Ê-glôn, vua Mô-áp, trở nên mạnh để áp bức họ. Ê-glôn liên kết với người Am-môn và A-ma-léc, đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm lấy thành Cây Chà là. Dân Y-sơ-ra-ên phải phục sự Ê-glôn trong mười tám năm. Một lần nữa, sự áp bức trở thành hậu quả của việc họ quay trở lại với tội lỗi.
Các Quan Xét 3:15 (VIE1934)
15 Nhưng dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn dấy lên cho họ một đấng giải cứu, là Ê-hút, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min, thuận tay tả. Dân Y-sơ-ra-ên sai người đem lễ cống đến cho Ê-glôn, vua Mô-áp.
Trong sự khốn khổ, Y-sơ-ra-ên lại kêu cầu Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời dấy lên Ê-hút, người Bên-gia-min thuận tay tả, làm người giải cứu. Ê-hút được giao nhiệm vụ đem lễ cống đến cho vua Ê-glôn. Chuyến đi này trở thành cơ hội để ông thực hiện kế hoạch giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi sự áp bức của Mô-áp.
Các Quan Xét 3:16-18 (VIE1934)
16 Ê-hút làm một thanh gươm hai lưỡi, dài một gang, đeo nó nơi hông hữu, dưới áo xống mình.
17 Người đem lễ cống đến cho Ê-glôn, vua Mô-áp. Vả, Ê-glôn là một người rất mập.
18 Khi dâng lễ cống rồi, Ê-hút cho những người khiêng lễ cống về.
Ê-hút chuẩn bị cho nhiệm vụ của mình bằng cách làm một thanh gươm hai lưỡi và giấu nó dưới áo xống, nơi hông bên hữu. Ông đem lễ cống đến cho Ê-glôn rồi cho những người đi cùng mình trở về. Điều này cho phép ông ở lại một mình với vua Mô-áp để thực hiện kế hoạch của mình.
Các Quan Xét 3:19-20 (VIE1934)
19 Còn người thì trở lại từ nơi tượng chạm gần Ghinh-ganh, mà nói rằng: Hỡi vua, tôi có một lời kín nhiệm tâu cùng vua. Vua nói: Hãy im đi! Hết thảy những kẻ hầu cận đều lui khỏi người.
20 Ê-hút bèn đến cùng vua đang ngồi trong phòng mát riêng mình trên lầu. Ê-hút nói rằng: Tôi có một lời của Đức Chúa Trời tâu cùng vua. Vua bèn đứng dậy khỏi ngai mình.
Ê-hút khéo léo khiến Ê-glôn tin rằng ông có một lời kín nhiệm dành riêng cho vua. Ê-glôn ra lệnh cho những người hầu cận lui khỏi phòng, để Ê-hút có thể ở riêng với ông. Khi ở trong phòng mát riêng của vua, Ê-hút nói rằng mình có một lời từ Đức Chúa Trời. Ê-glôn đứng dậy, không biết rằng mình đang ở trong tình thế nguy hiểm.
Các Quan Xét 3:21-22 (VIE1934)
21 Bấy giờ, Ê-hút thò tay tả, rút thanh gươm khỏi hông hữu mình, đâm vào bụng vua.
22 Cán cũng vào theo lưỡi gươm; mỡ bọc lấy lưỡi gươm, vì Ê-hút không rút gươm ra khỏi bụng vua; và phân bèn ra.
Ê-hút sử dụng tay trái của mình để bất ngờ rút thanh gươm đã giấu bên hông hữu và đâm Ê-glôn. Thanh gươm đi sâu đến nỗi cả cán cũng vào theo lưỡi gươm. Mô tả chi tiết này cho thấy cuộc tấn công đã kết thúc hoàn toàn sự cai trị của Ê-glôn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Ê-hút chuẩn bị rời khỏi phòng mà không để những người hầu cận nhận ra điều gì đã xảy ra.
Các Quan Xét 3:23-25 (VIE1934)
23 Đoạn, Ê-hút đi ra ngoài hành lang, đóng cửa phòng lầu sau mình, và gài lại.
24 Khi người đi rồi, các tôi tớ của vua đến, thấy các cửa phòng lầu đều đóng, thì nói rằng: Chắc người đương đi tiêu trong phòng mát.
25 Chúng đợi đến hổ thẹn, mà vua chẳng mở cửa phòng lầu. Bèn lấy chìa khóa mở cửa, và thấy chúa mình nằm chết dưới đất.
Ê-hút nhanh chóng rời khỏi phòng và khóa cửa lại. Khi những người hầu của Ê-glôn đến, họ thấy cửa bị khóa nên cho rằng vua đang ở trong phòng mát riêng để đi tiêu. Họ chờ đợi khá lâu, đến khi cảm thấy hổ thẹn vì vua vẫn không mở cửa. Cuối cùng, họ lấy chìa khóa mở cửa và phát hiện Ê-glôn đã chết nằm dưới đất.
Các Quan Xét 3:26-27 (VIE1934)
26 Trong lúc chúng đương chờ đợi, Ê-hút đã trốn khỏi, đi qua nơi tượng chạm, và thoát đến Sê-i-rát.
27 Khi đến nơi, người thổi kèn trong núi Ép-ra-im; dân Y-sơ-ra-ên bèn đi xuống núi theo người, và người đi trước dẫn chúng nó.
Trong khi những người hầu còn chờ đợi, Ê-hút đã kịp trốn thoát đến Sê-i-rát. Khi đến vùng núi Ép-ra-im, ông thổi kèn để tập hợp dân Y-sơ-ra-ên. Đây là lời kêu gọi dân sự đứng lên chiến đấu chống lại sự cai trị của Mô-áp. Ê-hút dẫn đầu dân chúng trong cuộc chiến giành lại sự tự do.
Các Quan Xét 3:28-30 (VIE1934)
28 Người nói cùng chúng rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó kẻ thù các ngươi, là dân Mô-áp, vào tay các ngươi. Chúng đi theo người, chiếm lấy các chỗ qua sông Giô-đanh về phía Mô-áp, không cho ai đi qua.
29 Trong lúc đó, chúng giết độ một vạn người Mô-áp, hết thảy đều là người mạnh dạn và chiến sĩ; không một người nào thoát khỏi.
30 Trong ngày ấy, dân Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên. Xứ được bình an trong tám mươi năm.
Ê-hút dẫn dân Y-sơ-ra-ên tiến hành một cuộc tấn công chiến lược, chiếm giữ những chỗ qua sông Giô-đanh để ngăn quân Mô-áp trốn thoát. Khoảng một vạn người Mô-áp bị giết, và không một người nào thoát khỏi. Nhờ đó, Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên, và xứ được bình an trong tám mươi năm. Chiến thắng này cho thấy sự giải cứu của Đức Chúa Trời qua Ê-hút, là người Ngài đã dấy lên để giải cứu dân Ngài.
Các Quan Xét 3:31 (VIE1934)
31 Sau người, có Sam-ga, con trai A-nát, dùng đót bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin; người cũng giải cứu Y-sơ-ra-ên.
Sam-ga, một quan xét khác được Đức Chúa Trời dấy lên, chỉ được nhắc đến ngắn gọn trong câu này. Ông dùng đót bò, một dụng cụ đơn giản dùng trong nông nghiệp, để đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin và giải cứu Y-sơ-ra-ên. Mặc dù Kinh Thánh không ghi lại nhiều chi tiết về ông, chiến thắng này cho thấy Đức Chúa Trời có thể sử dụng những phương tiện đơn sơ và những con người tưởng như không đáng kể để thực hiện mục đích của Ngài.

