
Dân-số Ký 10
Dân-số Ký 10 đánh dấu một bước chuyển quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên khi họ rời khỏi nơi đóng trại tại núi Si-na-i để hướng về Đất Hứa. Chương này trình bày việc làm và sử dụng hai ống kèn bạc để tập hợp hội chúng, hướng dẫn các chi-phái trong cuộc hành trình và báo hiệu trong thời kỳ chiến trận. Chương cũng thuật lại lần đầu tiên toàn trại quân di chuyển sau thời gian ở tại Si-na-i, nhấn mạnh sự trật tự và cơ cấu mà Đức Chúa Trời đã thiết lập cho cuộc hành trình của dân Ngài trong đồng vắng.
Dân-số Ký 10:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy làm cho ngươi hai ống kèn bằng bạc; dùng bạc giát mỏng mà làm. Ngươi sẽ dùng chúng đặng nhóm hội-chúng và khiến các trại quân ra đi.
3 Khi người ta thổi cả hai ống, thì cả hội-chúng sẽ nhóm lại nơi cửa hội-mạc.
Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se làm hai ống kèn bằng bạc với hai mục đích chính: tập hợp hội chúng và báo hiệu cho các trại quân lên đường. Những ống kèn này đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức dân Y-sơ-ra-ên trong suốt cuộc hành trình nơi đồng vắng. Việc sử dụng bạc, một kim loại quý, nhấn mạnh chức năng thánh của chúng; cách chế tạo cẩn thận cũng cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến từng chi tiết trong sự thờ phượng và sự hướng dẫn dân Ngài.
Dân-số Ký 10:4-6 (VIE1934)
4 Nếu chỉ thổi một ống, thì các quan-trưởng, tức là những đầu-trưởng của hàng ngàn Y-sơ-ra-ên, sẽ nhóm lại cùng ngươi.
5 Khi các ngươi thổi tiếng vang, thì những trại quân về phía đông sẽ ra đi.
6 Khi các ngươi thổi tiếng vang lần thứ hai, thì những trại quân về phía nam sẽ ra đi. Người ta sẽ thổi tiếng vang cho chúng nó ra đi.
Nếu chỉ một ống được thổi, các quan-trưởng của các chi-phái sẽ tập hợp. Điều này bảo đảm rằng những người lãnh đạo nhận được chỉ dẫn trước khi toàn dân lên đường. Khi đến lúc di chuyển, tiếng kèn cũng được dùng để báo hiệu cho các trại quân phía đông, rồi đến các trại quân phía nam, bắt đầu hành trình. Trình tự có tổ chức này cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến sự trật tự và không muốn dân Ngài di chuyển trong sự hỗn loạn.
Dân-số Ký 10:7-8 (VIE1934)
7 Nhưng khi hội-chúng nhóm lại, các ngươi sẽ thổi, song chớ thổi tiếng vang.
8 Các con trai A-rôn, tức những thầy tế-lễ, sẽ thổi kèn. Ấy là một lệ định đời đời cho các ngươi, trải qua các đời.
Ở đây, Môi-se nhận được những chỉ dẫn cụ thể về cách sử dụng các ống kèn khi tập hợp hội chúng, mà không dùng tín hiệu báo hiệu lên đường. Chỉ các con trai A-rôn, tức các thầy tế lễ, được giao nhiệm vụ thổi kèn, cho thấy đây là một trách nhiệm thánh. Tập tục này phải được duy trì qua các thế hệ, biểu thị tính liên tục của trật tự mà Đức Chúa Trời đã thiết lập cho sự thờ phượng và sự lãnh đạo.
Dân-số Ký 10:9-10 (VIE1934)
9 Khi các ngươi đánh giặc trong xứ mình, nghịch cùng kẻ thù hà hiếp mình, thì phải thổi kèn vang. Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi sẽ nhớ đến các ngươi, và các ngươi sẽ được cứu khỏi kẻ thù nghịch.
10 Cũng trong ngày vui-mừng, ngày lễ trọng-thể, ngày đầu tháng, các ngươi khá thổi kèn trên của-lễ thiêu và các của-lễ thù-ân; kèn đó sẽ nhắc các ngươi nhớ lại trước mặt Đức Chúa Trời các ngươi. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.
Các ống kèn cũng có chức năng trong chiến trận và trong những dịp vui mừng. Khi bước vào chiến tranh, tiếng kèn nhắc dân sự nhớ đến Đức Chúa Trời và kêu gọi sự can thiệp của Ngài, để họ được cứu khỏi kẻ thù. Trong những ngày vui mừng, các kỳ lễ và những của-lễ, tiếng kèn được thổi như một biểu tượng của sự cảm tạ và sự hiện diện liên tục của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài. Như vậy, cả những lúc cần cứu giúp lẫn những lúc vui mừng đều được đặt dưới sự hiện diện và sự ghi nhớ của Đức Chúa Trời.
Dân-số Ký 10:11-13 (VIE1934)
11 Qua ngày hai mươi tháng hai, năm thứ hai, thì áng mây đã ngự lên khỏi đền-tạm chứng-cớ.
12 Dân Y-sơ-ra-ên lên đường từ đồng vắng Si-na-i, đi theo cuộc hành trình mình; áng mây dừng lại trong đồng vắng Pha-ran.
13 Ấy là lần đầu họ lên đường theo lịnh Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền cho.
Phần này mô tả thời điểm dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu hành trình rời khỏi Si-na-i, đi theo áng mây là biểu tượng của sự hiện diện và sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Ngày tháng cụ thể được ghi lại cho thấy thời điểm cuộc hành trình diễn ra theo sự chỉ định của Đức Chúa Trời. Khi áng mây cất lên khỏi đền-tạm, đó là dấu hiệu dân sự phải ra đi. Họ vâng lời lên đường, và áng mây dẫn họ đến đồng vắng Pha-ran, là nơi dừng chân tiếp theo.
Dân-số Ký 10:14-16 (VIE1934)
14 Đạo quân có ngọn cờ của trại Giu-đa đi trước, tùy theo đội-ngũ mình; Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp, cai-quản đạo quân mình.
15 Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a, cai-quản đạo quân của chi-phái Y-sa-ca.
16 Ê-li-áp, con trai Hê-lôn, cai-quản đạo quân của chi-phái Sa-bu-lôn.
Các chi-phái Giu-đa, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn đi đầu trong cuộc hành quân. Mỗi chi-phái có người lãnh đạo được chỉ định và đi theo ngọn cờ của mình, biểu thị bản sắc và vị trí của chi-phái. Giu-đa, là chi-phái mà Đấng Mê-si sẽ đến theo dòng dõi sau này, được đặt ở vị trí dẫn đầu trong thứ tự hành quân, thiết lập trật tự cho các chi-phái còn lại theo sau.
Dân-số Ký 10:17 (VIE1934)
17 Đền-tạm bèn dỡ xuống; các con trai Ghẹt-sôn và các con trai Mê-ra-ri lên đường, mang đền-tạm.
Sau khi nhóm chi-phái đầu tiên lên đường, Đền-tạm được tháo dỡ, và các con trai Ghẹt-sôn cùng các con trai Mê-ra-ri lên đường mang các phần của Đền-tạm. Điều này nhấn mạnh tính thánh của Đền-tạm và những trách nhiệm cụ thể mà người Lê-vi được giao trong việc xử lý các vật thuộc về nơi thánh. Công việc cẩn thận của họ bảo đảm rằng Đền-tạm có thể đi cùng dân sự bất cứ nơi nào Đức Chúa Trời dẫn họ đến.
Dân-số Ký 10:18-21 (VIE1934)
18 Đạo quân có ngọn cờ của trại Ru-bên đi theo đội-ngũ mình; Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, cai-quản đạo quân mình.
19 Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai, cai-quản đạo quân của chi-phái Si-mê-ôn.
20 Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên, cai-quản đạo quân của chi-phái Gát.
21 Kế đó các con Kê-hát lên đường, mang những vật thánh; và người ta dựng đền-tạm lên đặng chờ họ đến.
Tiếp theo là trại quân Ru-bên, cùng với các chi-phái Si-mê-ôn và Gát. Sau đó, các con Kê-hát mang những vật thánh của Đền-tạm, chẳng hạn như hòm và những đồ dùng thánh khác. Đền-tạm đã được mang đi trước bởi Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri, nên sẽ được dựng lên sẵn khi các con Kê-hát đến. Điều này duy trì một hệ thống vận chuyển rất cẩn thận đối với những vật thánh.
Dân-số Ký 10:22-24 (VIE1934)
22 Đạo quân có ngọn cờ của trại con-cháu Ép-ra-im đi theo đội-ngũ mình; Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, cai-quản đạo quân mình.
23 Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, cai-quản đạo quân của chi-phái Ma-na-se.
24 A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, cai-quản đạo quân của chi-phái Bên-gia-min.
Nhóm tiếp theo lên đường là trại quân Ép-ra-im, bao gồm các chi-phái Ép-ra-im, Ma-na-se và Bên-gia-min. Ba chi-phái này, là dòng dõi của Giô-sép và Ra-chên, di chuyển theo thứ tự đã được giao, phản ánh sự tổ chức cẩn thận của các chi-phái trong cuộc hành trình. Mỗi chi-phái đều có người lãnh đạo và ngọn cờ riêng.
Dân-số Ký 10:25-28 (VIE1934)
25 Đạo quân có ngọn cờ của trại con-cháu Đan đi sau hết, làm hậu-quân cho các trại-quân; A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, cai-quản đạo quân mình.
26 Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, cai-quản đạo quân của chi-phái A-se.
27 A-hi-ra, con trai Ê-nan, cai-quản đạo quân của chi-phái Nép-ta-li.
28 Đó là thứ-tự cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, đội-ngũ nào đi theo đội-ngũ nấy, khi họ lên đường.
Nhóm cuối cùng lên đường là trại quân Đan, được giao nhiệm vụ làm hậu-quân cho toàn bộ trại quân. A-se và Nép-ta-li đi cùng nhóm này. Vai trò của hậu-quân rất quan trọng trong việc bảo vệ phía sau khỏi những cuộc tấn công. Mô tả này cho thấy sự chính xác và trật tự trong cách dân Y-sơ-ra-ên di chuyển, bảo đảm an toàn và tổ chức cho toàn thể hội chúng.
Dân-số Ký 10:29-32 (VIE1934)
29 Môi-se nói cùng Hô-báp, con trai Rê-u-ên, người Ma-đi-an, ông gia của Môi-se, rằng: Chúng ta lên đường đến nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: Ta sẽ ban cho các ngươi. Hãy đi với chúng ta, chúng ta sẽ làm ơn cho ngươi; vì Đức Giê-hô-va đã hứa ban sự tốt-lành cho Y-sơ-ra-ên.
30 Hô-báp đáp rằng: Tôi không đi, nhưng tôi sẽ về xứ tôi, nơi bà-con tôi.
31 Môi-se nói rằng: Xin chớ bỏ chúng tôi, vì anh biết chúng ta sẽ đóng trại trong đồng vắng thế nào; anh sẽ làm mắt cho chúng tôi.
32 Nếu anh đi với chúng tôi, thì chúng tôi sẽ chia cho anh các sự tốt-lành mà Đức Giê-hô-va sẽ làm cho chúng tôi.
Môi-se mời Hô-báp, người bà con của mình, đi cùng dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình, nhận biết sự khôn ngoan và kinh nghiệm của ông trong việc di chuyển và sinh sống nơi đồng vắng. Môi-se bảo đảm rằng Hô-báp sẽ được dự phần vào những điều tốt-lành Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Y-sơ-ra-ên. Ban đầu Hô-báp từ chối vì muốn trở về với dân tộc và bà con mình, nhưng Môi-se tiếp tục khẩn cầu ông ở lại, nhấn mạnh giá trị của sự hiểu biết thực tế của ông đối với cuộc hành trình. Đoạn này cho thấy Môi-se sẵn lòng nhận sự giúp đỡ thực tế từ người khác, dù dân Y-sơ-ra-ên vẫn đang được Đức Chúa Trời trực tiếp hướng dẫn.
Dân-số Ký 10:33-34 (VIE1934)
33 Vậy, họ từ núi Đức Giê-hô-va đi ba ngày đường. Hòm giao-ước của Đức Giê-hô-va đi trước họ trong ba ngày đường, để tìm chỗ an-nghỉ cho họ.
34 Áng mây của Đức Giê-hô-va ở trên họ ban ngày, khi họ ra khỏi trại.
Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu cuộc hành trình, rời khỏi núi Si-na-i, nơi họ đã nhận luật pháp của Đức Chúa Trời. Hòm giao-ước đi trước, tượng trưng cho sự hiện diện và sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Trong ba ngày, họ di chuyển, và trong suốt thời gian đó áng mây của Đức Giê-hô-va ở trên họ, biểu thị sự bảo vệ và hướng dẫn của Ngài. Việc hòm giao-ước đi trước để tìm một nơi nghỉ ngơi cho họ nhấn mạnh sự chăm sóc của Đức Chúa Trời cả về thuộc linh lẫn những nhu cầu thực tế của dân Ngài trong cuộc hành trình.
Dân-số Ký 10:35-36 (VIE1934)
35 Mỗi khi hòm đi, Môi-se nói rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy chỗi dậy! Nguyện kẻ thù nghịch Ngài tan-tác, và những người ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài!
36 Khi hòm dừng lại, người nói rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy trở về cùng muôn-vàn ngàn của Y-sơ-ra-ên!
Mỗi khi hòm giao-ước lên đường, Môi-se kêu cầu sự bảo vệ và chiến thắng của Đức Chúa Trời trên kẻ thù, tuyên bố rằng những người chống nghịch Ngài sẽ bị tan-tác. Khi hòm dừng lại, Môi-se cầu xin sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa vô số dân Y-sơ-ra-ên. Những lời cầu nguyện này bày tỏ sự nương cậy sâu xa của Môi-se nơi Đức Chúa Trời, cả trong lúc di chuyển lẫn khi nghỉ ngơi. Chúng cũng nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ và dẫn dắt tối hậu của dân Ngài trong suốt cuộc hành trình nơi đồng vắng.

