
Dân Số Ký 11
Dân Số Ký 11 mô tả một thời điểm quan trọng trong hành trình của dân Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng, khi dân sự bắt đầu phàn nàn về những khó khăn của họ. Sự khao khát thức ăn tại Ai Cập dẫn đến sự phản nghịch, và Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách vừa sửa phạt họ vừa ban cho điều họ cầu xin. Chương này làm nổi bật những chủ đề về sự vô ơn của con người, sự chu cấp của Đức Chúa Trời và sự phán xét, cũng như gánh nặng lãnh đạo mà Môi-se phải chịu.
Dân Số Ký 11:1-3 (VIE1934)
1 Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tai Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Đức Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân.
2 Dân sự bèn kêu la cùng Môi-se; Môi-se cầu xin Đức Giê-hô-va, thì lửa ngừng lại.
3 Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra, vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân sự.
Những lời phàn nàn của dân Y-sơ-ra-ên khiến Đức Chúa Trời không vui. Sự phán xét của Ngài đến dưới hình thức lửa, tượng trưng cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, thiêu hóa những người ở đầu trại quân. Khi dân sự kêu la, Môi-se cầu thay cho họ, và lòng thương xót của Đức Chúa Trời được bày tỏ khi lửa ngừng lại. Sự kiện này cho thấy cả sự công bình của Đức Chúa Trời đối với sự phản nghịch lẫn sự sẵn lòng bày tỏ lòng thương xót để đáp lại sự cầu thay. Nơi đó được gọi là Tha-bê-ra, có nghĩa là “sự cháy”, để làm lời nhắc nhở về biến cố này.
Dân Số Ký 11:4-6 (VIE1934)
4 Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến đỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
5 Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi.
6 Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
Một nhóm người ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, được mô tả là “bọn dân tạp”, bắt đầu thèm muốn thịt, và sự bất mãn ấy lan ra trong dân Y-sơ-ra-ên. Họ bắt đầu khao khát những thức ăn mà mình từng có tại Ai Cập, quên đi những đau khổ trước đây trong cảnh nô lệ. Những lời phàn nàn của họ bộc lộ sự bất mãn thuộc linh, vì họ không còn trân trọng sự chu cấp kỳ diệu của ma-na nữa. Sự chú ý của dân sự chuyển từ lòng biết ơn về sự giải cứu của Đức Chúa Trời sang sự hoài niệm về những tiện nghi của đời sống trước đây.
Dân Số Ký 11:7-9 (VIE1934)
7 Vả, Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu.
8 Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là giã bằng cối giã, nấu trong một cái nồi và làm bánh; nếm giống như bánh nhỏ có pha dầu.
9 Khi ban tối mù sương xuống trên trại quân, thì Ma-na cũng xuống nữa.
Những câu này mô tả ma-na, thức ăn kỳ diệu mà Đức Chúa Trời ban cho dân sự mỗi ngày. Ma-na có thể được chế biến theo nhiều cách khác nhau, và có vị giống như bánh nhỏ có pha dầu. Mặc dù có nguồn gốc thần thượng và rất thuận tiện để sử dụng, dân Y-sơ-ra-ên đã trở nên chán ngán nó. Điều này cho thấy sự vô ơn ngày càng lớn của họ đối với sự chu cấp của Đức Chúa Trời, mặc dù đó là một sự chu cấp kỳ diệu và duy trì sự sống cho họ mỗi ngày.
Dân Số Ký 11:10-15 (VIE1934)
10 Vậy, Môi-se nghe dân sự khóc, mỗi người ở trong nhà mình, tại nơi cửa trại mình; cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên phừng phừng, và Môi-se lấy làm buồn bực về điều đó.
11 Môi-se bèn thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Sao Ngài làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao tôi chẳng được ơn trước mặt Ngài, và sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy dân sự nầy trên mình tôi?
12 Tôi há có thọ thai dân nầy sao? há có sanh đẻ nó sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng ngươi, như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ mà Ngài có thề hứa ban cho tổ phụ của chúng nó.
13 Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy? bởi vì họ khóc về tôi mà rằng: Hãy cho chúng tôi thịt ăn.
14 Tôi không thế một mình gánh hết dân sự nầy, vì thật là rất nặng-nề cho tôi quá!
15 Nếu Chúa đãi tôi như vậy, và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn-nạn tôi!
Môi-se bày tỏ sự thất vọng sâu sắc và gánh nặng quá sức mà ông phải chịu trong việc lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, khi những lời phàn nàn của dân sự ngày càng gia tăng. Ông cảm thấy sức nặng của trách nhiệm đối với một đoàn dân liên tục phản nghịch và đòi hỏi những điều ông không thể cung cấp. Trong sự tuyệt vọng, Môi-se hướng về Đức Chúa Trời và cầu xin sự giải thoát, thậm chí thà chết còn hơn tiếp tục mang gánh nặng này. Lời cầu nguyện của ông phản ánh sự căng thẳng của chức vụ lãnh đạo và áp lực của việc đứng giữa dân sự với Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 11:16-17 (VIE1934)
16 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm-hiệp cho ta bảy mươi người trong bực trưởng-lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi biết là trưởng-lão và cai-quản dân-sự; hãy dẫn các người ấy đến hội-mạc, đứng tại đó với ngươi.
17 Đoạn, ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại đó với ngươi; ta sẽ lấy Thần cảm ngươi mà ban cho những người đó, để họ chịu gánh nặng về dân-sự với ngươi, và ngươi không phải gánh một mình.
Để đáp lại sự đau khổ của Môi-se, Đức Chúa Trời truyền cho ông nhóm bảy mươi trưởng lão để cùng chia sẻ gánh nặng lãnh đạo. Những người này được công nhận là các trưởng lão và người cai quản trong dân sự. Đức Chúa Trời hứa lấy Thần đang ở trên Môi-se mà ban cho họ, để họ cùng mang gánh nặng của dân sự với ông. Điều này bày tỏ sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với Môi-se, khi Ngài cung cấp sự trợ giúp bằng cách ban cho những người khác quyền năng để cùng gánh vác trách nhiệm.
Dân Số Ký 11:18-20 (VIE1934)
18 Ngươi phải truyền cho dân-sự rằng: Ngày mai phải dọn mình ra thánh, thì các ngươi sẽ ăn thịt. Vì chưng lỗ tai Đức Giê-hô-va có nghe các ngươi khóc mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy làm sung-sướng tại xứ Ê-díp-tô,— bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho các ngươi, thì các ngươi sẽ ăn.
19 Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu;
20 nhưng cho đến một tháng trọn, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi đã bỏ Đức Giê-hô-va ở giữa mình, và khóc trước mặt Ngài, mà rằng: Vì sao chúng tôi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
Đức Chúa Trời nói với Môi-se rằng Ngài sẽ cung cấp thịt cho dân sự như họ đã cầu xin, nhưng không phải như một phước lành. Thay vào đó, sự thèm muốn của họ sẽ được thỏa mãn đến mức trở nên ghê tởm đối với họ. Khi ban cho họ dư dật chính điều họ đòi hỏi, Đức Chúa Trời phơi bày sự vô ơn và phản nghịch của họ. Hậu quả là chính điều họ khao khát sẽ trở nên đáng ghê tởm, cho thấy sự nghiêm trọng của việc khước từ sự chu cấp của Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 11:21-23 (VIE1934)
21 Môi-se thưa rằng: Trong dân sự tôi đương ở đây, có sáu trăm ngàn người đờn-ông, mà Ngài có phán rằng: Ta sẽ phát thịt cho dân nầy ăn trong một tháng trọn.
22 Người ta há sẽ giết chiên và bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta há sẽ gom hết thảy cá dưới biển đến đỗi được đủ cho họ sao?
23 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Tay của Đức Giê-hô-va há đã vắn lại sao? Ngươi sẽ xem thử đều ta đã phán cùng ngươi có xảy đến hay chăng.
Môi-se nghi ngờ làm thế nào một đoàn dân đông đảo như vậy có thể được cung cấp thịt trong cả một tháng. Những mối quan tâm thực tế của ông phản ánh sự khó khăn của ông trong việc nắm bắt đầy đủ quyền năng của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh này. Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách nhắc Môi-se rằng tay Ngài không hề ngắn. Không có điều gì vượt quá khả năng của Ngài. Điều này khẳng định quyền tể trị và quyền năng của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện lời hứa của Ngài, bất kể những giới hạn của con người.
Dân Số Ký 11:24-25 (VIE1934)
24 Môi-se bèn đi ra, thuật lại các lời Đức Giê-hô-va cho dân sự, rồi nhóm hiệp bảy mươi người trong bực trưởng lão của dân sự, đặt để xung quanh Trại.
25 Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống trong mây, phán cùng Môi-se; Ngài lấy Thần cảm người và ban cho bảy mươi người trưởng lão. Vừa khi Thần ở trên bảy mươi người trưởng lão, bèn được cảm động nói tiên tri, nhưng không cứ nói mãi.
Môi-se làm theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời và nhóm bảy mươi trưởng lão lại. Đức Chúa Trời ngự xuống trong đám mây, là biểu tượng về sự hiện diện của Ngài, và lấy Thần đang ở trên Môi-se mà ban cho các trưởng lão. Kết quả là họ bắt đầu nói tiên tri, cho thấy họ được Thần ban quyền năng. Hoạt động nói tiên tri này là một sự xác nhận tạm thời về vai trò của họ, vì sau đó họ không tiếp tục nói tiên tri nữa. Khoảnh khắc này cho thấy Đức Chúa Trời đã cung cấp sự trợ giúp về lãnh đạo cho Môi-se thông qua những người này.
Dân Số Ký 11:26-29 (VIE1934)
26 Có hai người ở lại trong trại quân, một người tên là Ên-đát, một người tên là Mê-đát; Thần cảm cũng giáng trên hai người ấy. Họ thuộc về bọn được biên tên, nhưng không có đến hội-mạc; dầu vậy, họ nói tiên tri trong trại quân.
27 Một đứa trai trẻ chạy thuật lại cùng Môi-se rằng: Ên-đát và Mê-đát nói tiên tri trong trại quân.
28 Giô-suê, con trai của Nun, là người hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi Môi-se, chúa tôi, hãy cấm chúng nó!
29 Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng? Ôi! chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!
Hai trong số những trưởng lão được chọn, Ên-đát và Mê-đát, ở lại trong trại nhưng vẫn nhận được Thần và bắt đầu nói tiên tri tại đó. Khi Giô-suê, người hầu việc Môi-se, nghe tin, ông đề nghị ngăn cấm họ. Tuy nhiên, Môi-se quở trách Giô-suê, cho thấy ông không xem các ân tứ thuộc linh là tài sản riêng của mình. Trái lại, Môi-se mong muốn rằng toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời đều có thể nhận được Thần và nói tiên tri. Câu trả lời của ông bày tỏ sự khiêm nhường và mong muốn cộng đồng được ban cho quyền năng thuộc linh lớn hơn.
Dân Số Ký 11:30-32 (VIE1934)
30 Môi-se và mấy người trưởng lão đều lui vào trại quân.
31 Đức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và xung quanh, bên nầy trải ra dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao.
32 Dân sự đứng dậy lượm những cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười ô-me; người ta căng nó ra khắp chung quanh trại quân.
Đức Chúa Trời sai một trận gió đem một số lượng chim cút khổng lồ vào trại quân, thực hiện lời hứa cung cấp thịt cho dân sự. Chim cút nhiều đến mức trải ra trên một khu vực rộng lớn chung quanh trại, khiến dân Y-sơ-ra-ên có thể dễ dàng thu nhặt một số lượng rất lớn. Dân sự làm việc không ngừng để thu gom chim cút, cho thấy sự háo hức muốn thỏa mãn món ăn mà họ đã khao khát. Sự dư dật này đáp ứng điều họ đòi hỏi, nhưng đồng thời cũng mở đường cho hậu quả của lòng tham muốn.
Dân Số Ký 11:33-34 (VIE1934)
33 Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành dân sự một tai vạ rất nặng.
34 Người ta đặt tên chỗ đó là Kíp-rốt-Ha-tha-va; vì tại đó người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn.
Trong đoạn này, Đức Chúa Trời vừa cung cấp chim cút để đáp lại lời phàn nàn của dân Y-sơ-ra-ên về việc thiếu thịt. Tuy nhiên, khi họ bắt đầu ăn chim cút, một tai vạ giáng xuống dân sự. Cụm từ “thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai” cho thấy sự phán xét đến ngay sau khi họ bắt đầu ăn, trước khi họ có thể tận hưởng trọn vẹn điều mình khao khát. Tuy nhiên, tai vạ không giáng xuống tất cả mọi người một cách không phân biệt. Câu 34 giải thích rằng những người chết là “dân sự sanh lòng tham muốn”. Điều này cho thấy sự phán xét đặc biệt giáng trên những người đã buông mình theo sự thèm muốn cực độ và thể hiện thái độ phản nghịch đối với Đức Chúa Trời. Những người này đã khước từ sự chu cấp trước đó của Đức Chúa Trời qua ma-na và khao khát những thức ăn mà họ nhớ đến từ Ai Cập, bày tỏ sự vô ơn và bất mãn. Mặc dù Đức Chúa Trời đã thực hiện lời hứa ban chim cút, sự phán xét của Ngài giáng trên những người tham lam và phản nghịch giữa dân sự. Tên của nơi đó, Kíp-rốt-Ha-tha-va, có nghĩa là “mồ mả của sự tham muốn”, phản ánh hậu quả của những ham muốn không được kiểm soát. Những người đầu hàng trước sự thèm khát thịt, đặt ham muốn của mình lên trên lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, đã phải chịu hậu quả của hành động mình; trong khi những người có thể đã ăn mà không buông mình theo sự tham muốn như vậy thì có thể không bị ảnh hưởng bởi tai vạ.
Dân Số Ký 11:35 (VIE1934)
35 Từ Kíp-rốt-Ha-tha-va dân sự đi đến Hát-sê-rốt, rồi ngừng lại tại đó.
Sau biến cố tại Kíp-rốt-Ha-tha-va, dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục cuộc hành trình đến Hát-sê-rốt. Câu này đánh dấu một sự chuyển tiếp, khi dân sự tiếp tục tiến về phía trước mặc dù vừa trải qua một thảm kịch. Nó nhắc nhở về hành trình tiếp diễn qua đồng vắng và những bài học mà dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn phải đối diện trên đường đến Đất Hứa.

