
Dân Số Ký 15
Dân Số Ký 15 đưa ra thêm những luật lệ cho dân Y-sơ-ra-ên về các của-lễ, sinh tế, và cách xử lý những tội lỗi vô tình và cố ý. Chương này nhấn mạnh nhu cầu dân Y-sơ-ra-ên phải vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, đồng thời cho thấy Ngài đã ban một phương cách tha thứ trong những trường hợp phạm tội do không biết. Ngoài ra, chương này nhấn mạnh tính nghiêm trọng của sự phản nghịch cố ý và kết thúc bằng lời nhắc nhở phải giữ các điều răn của Đức Chúa Trời qua việc mang tua áo như một lời nhắc nhở hữu hình về sự vâng lời.
Dân Số Ký 15:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi đã vào xứ ta ban cho các ngươi ở,
3 và khi các ngươi dâng của-lễ dùng lửa cho Đức Giê-hô-va, hoặc của-lễ thiêu, hoặc của-lễ thù-ân, để làm trọn một lời thề, hoặc dâng cách tự nguyện, hoặc trong những kỳ lễ trọng thể, đặng làm mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, hoặc dâng một con bò hay một con chiên,
Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se nói với dân Y-sơ-ra-ên về những điều họ phải làm sau khi bước vào Đất Hứa. Những câu này cho thấy khi họ dâng của lễ cho Đức Chúa Trời—dù để làm trọn lời thề, dâng cách tự nguyện hay trong những kỳ lễ trọng thể—các của lễ ấy phải được dâng với mục đích thờ phượng Đức Chúa Trời. “Mùi thơm” bày tỏ sự vui lòng của Đức Chúa Trời đối với sự vâng lời và thờ phượng của dân Ngài, cho thấy các của lễ sẽ là một phần quan trọng trong mối quan hệ của họ với Ngài tại xứ mà Ngài đã hứa ban.
Dân Số Ký 15:4-5 (VIE1934)
4 thì người dâng của-lễ mình cho Đức Giê-hô-va phải đem một phần mười ê-pha bột mì lọc, trộn với một phần tư hin dầu;
5 và một phần tư hin rượu nho làm lễ quán, ngươi phải dâng với của-lễ thiêu hoặc của-lễ thù-ân, cho mỗi con chiên.
Cùng với sinh tế bằng thú vật, một của-lễ bằng bột và một của-lễ quán cũng phải được dâng kèm theo của-lễ thiêu. Những lượng bột mì lọc, dầu và rượu được quy định rõ ràng cho thấy việc thờ phượng Đức Chúa Trời không được thực hiện một cách tùy tiện. Những của lễ này cũng bày tỏ lòng biết ơn về sự chu cấp và chăm sóc của Đức Chúa Trời, nhắc nhở dân sự rằng mọi sự họ có đều đến từ Ngài.
Dân Số Ký 15:6-7 (VIE1934)
6 Còn về con chiên đực, ngươi phải dâng hai phần mười ê-pha bột mì lọc, trộn với một phần ba hin dầu;
7 và một phần ba hin rượu nho làm lễ quán, đặng làm mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Đối với những con vật lớn hơn như chiên đực, lượng bột, dầu và rượu cũng được tăng lên. Sự thay đổi này cho thấy các của lễ đi kèm được quy định tương xứng với loại sinh tế được dâng. Điều này nhấn mạnh rằng trong sự thờ phượng, dân sự phải dâng theo sự sắp đặt của Đức Chúa Trời chứ không tự ý thay đổi. Việc một lần nữa nhắc đến “mùi thơm” cho Đức Giê-hô-va cũng cho thấy mục đích của của lễ là thờ phượng và làm đẹp lòng Ngài.
Dân Số Ký 15:8-10 (VIE1934)
8 Khi ngươi dâng một con bò đực tơ làm của-lễ thiêu, hoặc làm của-lễ thù-ân để làm trọn một lời thề, hoặc dâng làm của-lễ thù-ân cho Đức Giê-hô-va,
9 thì phải dâng với con bò đực tơ ấy một phần ba ê-pha bột mì lọc, trộn với nửa hin dầu;
10 và ngươi phải dâng nửa hin rượu nho làm lễ quán, làm của-lễ dùng lửa, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Đối với một con bò đực tơ, các của lễ đi kèm còn được tăng lên. Điều này cho thấy các sinh tế lớn hơn và quan trọng hơn có những quy định tương ứng về của lễ bột và của lễ quán. Đặc biệt, những lời thề và của lễ thù-ân liên quan đến những cam kết và những thời điểm quan trọng trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Việc lặp lại cụm từ “mùi thơm” một lần nữa nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự thờ phượng và sự vâng lời Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 15:11-13 (VIE1934)
11 Hễ con bò đực, con chiên đực, con chiên đực con, hay con dê con, thì phải làm như vậy.
12 Tùy theo số con các ngươi dâng, thì phải làm như vậy cho mỗi con.
13 Hễ người bổn-xứ nào cũng phải làm như vậy khi dâng của-lễ dùng lửa có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Những câu này khẳng định rằng các hướng dẫn này áp dụng cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Dù của lễ là bò đực, chiên đực hay dê con, thủ tục phải được thực hiện đúng theo điều Đức Chúa Trời đã truyền. Sự thống nhất trong việc dâng của lễ cho thấy mọi người trong dân sự đều phải tuân theo cùng một nguyên tắc khi đến trước mặt Đức Chúa Trời. Không ai được tự ý tạo ra một cách thờ phượng khác với điều Ngài đã truyền.
Dân Số Ký 15:14-16 (VIE1934)
14 Nếu có một người khách kiều-ngụ với các ngươi, hay là ai ở giữa các ngươi trải qua các đời, mà muốn dâng của-lễ dùng lửa có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, thì người ấy phải làm như các ngươi làm.
15 Trong hội-chúng, các ngươi và khách kiều-ngụ phải đồng một lệ; ấy là một lệ đời đời cho dòng-dõi các ngươi. Khách kiều-ngụ cũng như các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va.
16 Các ngươi và khách kiều-ngụ ở giữa các ngươi phải đồng một luật và đồng một lệ.
Đức Chúa Trời truyền rằng những quy định về của lễ phải được áp dụng cho cả người Y-sơ-ra-ên bản xứ lẫn người ngoại bang cư trú giữa họ. Việc người ngoại bang cũng phải tuân theo cùng một luật cho thấy sự thờ phượng Đức Chúa Trời không được dựa trên nguồn gốc dân tộc. Tất cả những người đến thờ phượng Ngài đều phải đến theo đường lối mà Ngài đã thiết lập. Cụm từ “đồng một luật và đồng một lệ” nhấn mạnh sự thống nhất trong các nguyên tắc thờ phượng giữa dân sự và những người cư trú giữa họ.
Dân Số Ký 15:17-21 (VIE1934)
17 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
18 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi đã vào xứ ta đem các ngươi đến,
19 và khi các ngươi ăn bánh của xứ đó, thì phải dâng một phần cho Đức Giê-hô-va.
20 Các ngươi phải dâng một cái bánh bằng bột nhồi đầu mùa làm lễ dâng; phải dâng như lễ dâng sân đạp lúa.
21 Trong các đời các ngươi, các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va một phần bột nhồi đầu mùa.
Những câu này đưa ra quy định về việc dâng một phần sản phẩm đầu tiên khi dân Y-sơ-ra-ên bước vào Đất Hứa. Phần bột đầu mùa được dâng lên Đức Chúa Trời là một hành động bày tỏ lòng biết ơn, nhìn nhận rằng sự chu cấp của họ đến từ Ngài. Dâng phần đầu tiên cũng bày tỏ lòng tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục chu cấp cho họ. Điều này phải được thực hiện qua các thế hệ như một lời nhắc nhở thường xuyên về sự thành tín của Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 15:22-23 (VIE1934)
22 Nếu các ngươi có lầm-lỗi, không làm hết các điều-răn mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se,
23 tức là mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dạy các ngươi bởi Môi-se, từ ngày Đức Giê-hô-va phán dạy trở đi, trải qua các đời các ngươi,
Ở đây, Đức Chúa Trời đưa ra sự chu cấp cho trường hợp dân sự phạm tội mà không cố ý. Việc không tuân giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, ngay cả khi xảy ra do không biết hoặc vô tình, vẫn được xem là tội lỗi. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cẩn thận vâng giữ mọi lời Đức Chúa Trời đã truyền. Tuy nhiên, các câu tiếp theo cho thấy Đức Chúa Trời cũng đã ban một phương cách để xử lý những tội lỗi vô tình, bày tỏ lòng thương xót của Ngài đối với con người.
Dân Số Ký 15:24-26 (VIE1934)
24 nếu tội phạm cách vô-ý, không có hội-chúng biết, thì cả hội-chúng phải dâng một con bò đực tơ làm của-lễ thiêu, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, cùng với của-lễ chay và lễ quán theo lệ, và một con dê đực làm của-lễ chuộc tội.
25 Thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho cả hội-chúng dân Y-sơ-ra-ên, thì họ sẽ được tha; vì đó là tội vô-ý; họ phải đem dâng của-lễ mình, là của-lễ dùng lửa cho Đức Giê-hô-va, và của-lễ chuộc tội mình trước mặt Đức Giê-hô-va, vì cớ tội vô-ý của họ.
26 Cả hội-chúng dân Y-sơ-ra-ên và khách kiều-ngụ ở giữa họ sẽ được tha; vì cả dân-sự đã phạm tội vô-ý.
Nếu toàn thể hội chúng phạm tội vô tình, họ phải dâng một con bò đực tơ và một con dê đực làm của lễ để chuộc tội. Sinh tế chung này cho thấy tội lỗi có thể ảnh hưởng đến cả cộng đồng và dân sự cần sự phục vụ của thầy tế lễ trong việc làm lễ chuộc tội cho họ. Đức Chúa Trời đã ban phương cách để họ được tha khi tội lỗi là vô tình. Điều này bày tỏ sự thương xót của Ngài đối với những lỗi lầm không cố ý, đồng thời cho thấy tội lỗi vẫn cần phải được giải quyết trước mặt Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 15:27-29 (VIE1934)
27 Nếu một người nào phạm tội vô-ý, thì phải dâng một con dê cái giáp năm làm của-lễ chuộc tội.
28 Thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người phạm tội vô-ý trước mặt Đức Giê-hô-va, mà chuộc tội cho người; thì người sẽ được tha.
29 Về người bổn-xứ trong dân Y-sơ-ra-ên, hay về khách kiều-ngụ ở giữa họ, nếu phạm tội vô-ý, thì phải theo một luật.
Đối với tội lỗi vô tình của một cá nhân, một con dê cái một tuổi phải được dâng làm của lễ chuộc tội. Thầy tế lễ đóng vai trò trung gian trong việc làm lễ chuộc tội cho người đã phạm tội, và người đó được tha. Cùng một luật được áp dụng cho cả người Y-sơ-ra-ên bản xứ và người ngoại bang cư trú giữa họ. Điều này cho thấy luật của Đức Chúa Trời được áp dụng nhất quán và Ngài đã cung cấp phương cách cho những người phạm tội vô tình được giải quyết tội lỗi của mình.
Dân Số Ký 15:30-31 (VIE1934)
30 Nhưng nếu một người nào, hoặc sanh trong xứ hoặc khách kiều-ngụ, mà làm cách ngang-ngạnh, thì người đó phạm đến Đức Giê-hô-va; người ấy sẽ bị truất khỏi giữa dân-sự mình.
31 Vì người ấy đã khinh lời của Đức Giê-hô-va, và phạm điều-răn Ngài; người ấy sẽ bị truất khỏi giữa dân-sự mình; tội ác người sẽ ở trên mình người.
Trái ngược hoàn toàn với tội lỗi vô tình, sự bất tuân cố ý và ngang-ngạnh bị xử lý nghiêm khắc hơn nhiều. Người cố tình chống lại điều Đức Chúa Trời đã truyền sẽ “phạm đến Đức Giê-hô-va” và bị truất khỏi giữa dân sự. Điều này cho thấy sự nghiêm trọng của việc cố ý phản nghịch lời Đức Chúa Trời. Cụm từ “tội ác người sẽ ở trên mình người” nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân và hậu quả nghiêm trọng của việc công khai khước từ các điều răn của Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 15:32-36 (VIE1934)
32 Khi dân Y-sơ-ra-ên ở trong đồng vắng, có một người gặp được một người lượm củi trong ngày sa-bát.
33 Những người gặp người lượm củi bèn dẫn người đến cùng Môi-se, A-rôn, và cả hội-chúng.
34 Người ta nhốt người vào, vì chưa định được phải làm gì cho người.
35 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải bị xử tử; cả hội-chúng phải ném đá người ngoài trại quân.
36 Vậy, cả hội-chúng đem người ra ngoài trại quân, ném đá người; người chết, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Đoạn này thuật lại một trường hợp một người vi phạm ngày Sa-bát bằng cách đi lượm củi. Hành động của người này không phải là một lỗi lầm vô tình, mà là một hành động cố ý vi phạm điều Đức Chúa Trời đã truyền. Mặc dù dân sự chưa biết ngay hình phạt phải áp dụng, Đức Chúa Trời đã phán rõ rằng người ấy phải bị xử tử bằng cách ném đá. Sự nghiêm khắc của hình phạt nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc cố ý vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời, đặc biệt là điều răn Sa-bát, vốn là một dấu hiệu quan trọng trong mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Không lâu sau khi dân Y-sơ-ra-ên trở lại đồng vắng, một trường hợp vi phạm ngày Sa-bát xảy ra trong những hoàn cảnh khiến tội lỗi trở nên đặc biệt nghiêm trọng. Lời tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ không cho thế hệ đó vào Ca-na-an đã khơi dậy một tinh thần phản nghịch. Một người trong dân sự, tức giận vì bị loại khỏi Ca-na-an và quyết tâm thể hiện sự chống đối đối với luật pháp Đức Chúa Trời, đã công khai vi phạm điều răn thứ tư bằng cách đi lượm củi trong ngày Sa-bát.
Trong thời gian dân Y-sơ-ra-ên ở trong đồng vắng, việc nhóm lửa trong ngày thứ bảy bị nghiêm cấm. Sự cấm đoán này không áp dụng theo cùng cách khi họ ở trong xứ Ca-na-an, nơi khí hậu khắc nghiệt đôi khi khiến lửa trở nên cần thiết; nhưng trong đồng vắng, họ không cần lửa để sưởi ấm. Vì vậy, hành động của người này là một sự vi phạm điều răn thứ tư có chủ ý và cố tình—không phải do sơ suất hay thiếu hiểu biết, mà là một tội lỗi ngang-ngạnh. (Tộc Trưởng và Các Tiên Tri, tr. 408.4)
Tội lỗi ngang-ngạnh là gì?
“Tội lỗi ngang-ngạnh” chỉ một hành động bất tuân các điều răn của Đức Chúa Trời một cách cố ý và có chủ đích, mặc dù người đó biết điều gì là đúng. Đó là việc một người ý thức lựa chọn chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời với thái độ thách thức, thường cho rằng ân điển của Đức Chúa Trời sẽ che phủ sự phản nghịch hoặc hậu quả sẽ không nghiêm trọng. Tội ngang-ngạnh thường được phân biệt với sự thiếu hiểu biết hoặc sai lầm. Sự thiếu hiểu biết xuất phát từ việc không biết hoặc không hiểu, trong khi sự ngang-ngạnh liên quan đến việc cố tình coi thường những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, cho rằng lòng thương xót hoặc ân điển của Ngài sẽ bỏ qua sự bất tuân. Loại tội lỗi này bày tỏ sự thiếu kính sợ đối với quyền của Đức Chúa Trời và được xem là một hành vi nghiêm trọng, vì nó cho thấy một tấm lòng cứng cỏi và cố ý khước từ ý muốn của Ngài. Trong trường hợp người lượm củi trong ngày Sa-bát ở Dân Số Ký 15, tội lỗi của người ấy là ngang-ngạnh vì người ấy biết luật nhưng vẫn lựa chọn công khai chống lại luật đó, bày tỏ một thái độ phản nghịch và thách thức.
Dân Số Ký 15:37-41 (VIE1934)
37 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
38 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên, truyền chúng nó phải làm những tua nơi chéo áo mình, trải qua các đời; và phải để nơi tua mỗi chéo một sợi dây màu điều tía.
39 Các ngươi sẽ có những tua đó để nhìn xem và nhớ lại hết thảy điều-răn của Đức Giê-hô-va, đặng làm theo, và các ngươi chẳng theo lòng mình và mắt mình mà hành dâm, mà bỏ đường theo.
40 Như vậy các ngươi sẽ nhớ làm theo hết thảy điều-răn ta, và sẽ nên thánh cho Đức Chúa Trời mình.
41 Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi, đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, đặng làm Đức Chúa Trời các ngươi. Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi.
Đức Chúa Trời truyền cho dân Y-sơ-ra-ên làm tua nơi chéo áo và đặt một sợi dây màu trong tua để họ có một lời nhắc nhở hữu hình về các điều răn của Ngài. Những tua áo giúp họ nhìn thấy và nhớ lại luật pháp của Đức Chúa Trời, để họ không đi theo những ham muốn của lòng mình và mắt mình. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời biết con người dễ quên những gì Ngài đã truyền. Vì vậy, Ngài ban cho dân sự một dấu hiệu hữu hình để nhắc họ thường xuyên nhớ đến các điều răn và làm theo. Mục đích cuối cùng không chỉ là nhớ luật pháp, mà là “làm theo hết thảy điều-răn” và nên thánh cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cũng nhắc lại rằng chính Ngài đã đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô để làm Đức Chúa Trời của họ. Sự giải cứu khỏi Ai Cập là nền tảng cho lời kêu gọi vâng lời: vì Ngài đã giải cứu họ và lập giao ước với họ, họ phải nhớ Ngài, giữ các điều răn Ngài và sống như một dân thánh thuộc về Ngài.

