top of page

Dân Số Ký 26

Dân Số Ký 26 thuật lại cuộc tu bộ dân số lần thứ hai của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, được thực hiện vào gần cuối hành trình của họ, trước khi tiến vào Đất Hứa. Cuộc tu bộ này tập trung vào thế hệ mới, vì phần lớn thế hệ cũ đã chết do sự bất tuân của họ. Cuộc tu bộ có ý nghĩa quan trọng vì nó xác định việc phân chia đất đai và quy mô quân đội khi dân Y-sơ-ra-ên chuẩn bị nhận lấy cơ nghiệp Ca-na-an.

Dân Số Ký 26:1-3 (VIE1934)
1 Xảy sau tai vạ nầy, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn, thầy tế lễ, mà rằng:
2 Hãy dựng sổ cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo tông tộc của họ, tức là hết thảy người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được.
3 Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nói cùng dân Y-sơ-ra-ên trong đồng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, mà rằng:

Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ thượng phẩm mới, thực hiện cuộc tu bộ dân số sau tai vạ vừa xảy ra. Cuộc tu bộ này nhằm đếm tất cả những người nam từ hai mươi tuổi trở lên có khả năng phục vụ trong quân đội. Cuộc tu bộ diễn ra tại đồng bằng Mô-áp, phía đông sông Giô-đanh, gần vùng đất mà họ sắp tiến vào. Nó đánh dấu một khởi đầu mới cho thế hệ mới, chuẩn bị họ cho cả việc nhận lãnh cơ nghiệp lẫn chiến đấu để chiếm lấy đất.

Dân Số Ký 26:4 (VIE1934)
4 Hãy tu bộ dân sự từ hai mươi tuổi sắp lên, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên, mà đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

Cuộc tu bộ này tương ứng với cuộc tu bộ trước đó được thực hiện vào năm đầu tiên sau khi dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai Cập. Nó đánh dấu sự bắt đầu của một chương mới đối với quốc gia này. Thế hệ trước gần như đã biến mất vì sự phản nghịch của họ, và cuộc tu bộ mới này giúp xác định sự sẵn sàng của thế hệ mới trong việc nhận lãnh đất và chiến đấu để chiếm lấy đất ấy.

Dân Số Ký 26:5-7 (VIE1934)
5 Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Con trai Ru-bên là Hê-nóc; do nơi người sanh ra họ Hê-nóc; do nơi Pha-lu sanh họ Pha-lu;
6 do nơi Hết-rôn sanh họ Hết-rôn; do nơi Cạt-mi sanh ra họ Cạt-mi.
7 Đó là các họ của Ru-bên, và những tên người mà người ta tu bộ, cộng được bốn mươi ba ngàn bảy trăm ba mươi.

Chi phái Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, được liệt kê đầu tiên trong cuộc tu bộ. Số người của họ là 43.730 người. Mặc dù là con trưởng nam, chi phái Ru-bên không nhận được sự ưu đãi đặc biệt về cơ nghiệp vì tội lỗi của Ru-bên với vợ lẽ của cha mình (Sáng-thế Ký 35:22). Cuộc tu bộ nhấn mạnh rằng, bất chấp những lỗi lầm trong quá khứ, họ vẫn là một phần của dân tộc.

Dân Số Ký 26:8-11 (VIE1934)
8 Con trai Pha-lu là Ê-li-áp.
9 Các con trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Đa-than, và A-bi-ram. Ấy là Đa-than và A-bi-ram nầy, trưởng của hội chúng dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn, tại phe đảng Cô-rê, khi họ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va.
10 Ấy, khi đất hả miệng ra nuốt hai người và Cô-rê cùng những kẻ đã hiệp đảng chết luôn, lúc lửa thiêu nuốt hai trăm rưởi người; họ làm gương như vậy.
11 Nhưng các con trai Cô-rê không chết.

Ở đây chúng ta thấy sự nhắc lại về cuộc phản nghịch của Đa-than và A-bi-ram, những người đã liên kết với Cô-rê để chống nghịch Môi-se. Cuộc phản nghịch của họ kết thúc bằng cái chết khi đất hả miệng nuốt họ. Tuy nhiên, các con trai của Cô-rê được bảo toàn, cho thấy lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong việc gìn giữ một phần còn sót lại ngay cả giữa một cuộc phản nghịch.

Dân Số Ký 26:12-14 (VIE1934)
12 Các con trai Si-mê-ôn, tùy theo họ hàng mình: do nơi Nê-mu-ên sanh ra họ Nê-mu-ên; do nơi Gia-min sanh ra họ Gia-min; do nơi Gia-kin sanh ra họ Gia-kin;
13 do nơi Xê-rách sanh ra họ Xê-rách; do nơi Sau-lơ sanh ra họ Sau-lơ.
14 Đó là các họ của Si-mê-ôn: số là hai mươi hai ngàn hai trăm người.

Chi phái Si-mê-ôn được liệt kê tiếp theo, với 22.200 người. Đây là một sự suy giảm đáng kể so với cuộc tu bộ trước đó, khi họ có 59.300 người (Dân Số Ký 1:23). Điều này có thể phản ánh những hậu quả của việc họ tham gia vào những hành vi tội lỗi, chẳng hạn như sự kiện liên quan đến phụ nữ Ma-đi-an trong Dân Số Ký 25. Sự suy giảm nghiêm trọng này cho thấy tội lỗi có thể ảnh hưởng đến tương lai của cả một chi phái.

Dân Số Ký 26:15-18 (VIE1934)
15 Các con trai của Gát, tùy theo họ hàng mình: do nơi Xê-phôn sanh ra họ Xê-phôn; do nơi Ha-ghi sanh ra họ Ha-ghi; do nơi Su-ni sanh ra họ Su-ni;
16 do nơi Óc-ni sanh ra họ Óc-ni; do nơi Ê-ri sanh ra họ Ê-ri;
17 do nơi A-rốt sanh ra họ A-rốt; do nơi A-rê-li sanh ra họ A-rê-li.
18 Đó là các họ của những con trai Gát, tùy theo tu bộ: số là bốn mươi ngàn năm trăm người.

Chi phái Gát được tu bộ với 40.500 người. Số lượng của chi phái này tương đối ổn định so với những con số trước đó. Lãnh địa của họ về sau sẽ nằm ở phía đông sông Giô-đanh, cho thấy họ sẵn sàng nhận lấy phần đất của mình trước khi toàn thể dân Y-sơ-ra-ên hoàn toàn tiến vào Đất Hứa.

Dân Số Ký 26:19-22 (VIE1934)
19 Các con trai Giu-đa: Ê-rơ và Ô-nan; nhưng Ê-rơ và Ô-nan đã qua đời tại xứ Ca-na-an.
20 Các con trai Giu-đa, tùy theo họ hàng mình: do nơi Sê-la sanh ra họ Sê-la; do nơi Phê-rết sanh ra họ Phê-rết; do nơi Xê-rách sanh ra họ Xê-rách.
21 Các con trai của Pha-rết: do nơi Hết-rôn sanh ra họ Hết-rôn; do nơi Ha-mun sanh ra họ Ha-mun.
22 Đó là các họ của Giu-đa, tùy theo tu bộ: số là bảy mươi sáu ngàn năm trăm người.

Chi phái Giu-đa là chi phái đông nhất, với 76.500 người. Chi phái Giu-đa giữ một vai trò trung tâm trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, bao gồm dòng dõi của vua Đa-vít và cuối cùng là Đấng Mê-si. Bất chấp những thất bại trong quá khứ, chẳng hạn như cái chết của Ê-rơ và Ô-nan, sức mạnh và vị trí nổi bật của Giu-đa giữa Y-sơ-ra-ên được thể hiện rất rõ ràng.

Dân Số Ký 26:23-25 (VIE1934)
23 Các con trai Y-sa-ca, tùy theo họ hàng mình: do nơi Thô-la sanh ra họ Thô-la; do nơi Phu-va sanh ra họ Phu-va;
24 do nơi Gia-súp sanh ra họ Gia-súp; do nơi Sim-rôn sanh ra họ Sim-rôn.
25 Đó là các họ Y-sa-ca, tùy theo tu bộ: số là sáu mươi bốn ngàn ba trăm người.

Chi phái Y-sa-ca được tu bộ với 64.300 người, đánh dấu một sự gia tăng đáng kể so với cuộc tu bộ trước. Điều này cho thấy sức mạnh và tầm quan trọng ngày càng tăng của họ giữa các chi phái. Y-sa-ca về sau thường được liên hệ với sự khôn ngoan và khả năng hiểu biết thời thế, như được đề cập trong những phần Kinh Thánh về sau, nhấn mạnh vai trò của họ trong việc dẫn dắt Y-sơ-ra-ên với sự phân định.

Dân Số Ký 26:26-27 (VIE1934)
26 Các con trai Sa-bu-lôn, tùy theo họ hàng mình: do nơi Sê-rết sanh ra họ Sê-rết; do nơi Ê-lôn sanh ra họ Ê-lôn; do nơi Gia-lê-ên sanh ra họ Gia-lê-ên.
27 Đó là các họ của Sa-bu-lôn tùy theo tu bộ: số là sáu mươi ngàn năm trăm người.

Chi phái Sa-bu-lôn được tu bộ với 60.500 người. Con số này cũng cho thấy sự tăng trưởng ổn định so với cuộc tu bộ trước. Cơ nghiệp tương lai của Sa-bu-lôn sẽ bao gồm vùng đất gần biển, đem lại cho họ cơ hội giao thương, phù hợp với lời chúc phước của Gia-cốp trong Sáng-thế Ký 49:13, nói trước rằng Sa-bu-lôn sẽ ở gần biển.

Dân Số Ký 26:28-34 (VIE1934)
28 Các con trai Giô-sép, tùy theo họ hàng mình: là Ma-na-se và Ép-ra-im.
29 Các con trai Ma-na-se: do nơi Ma-ki sanh ra họ Ma-ki. Ma-ki sanh Ga-la-át: do nơi Ga-la-át sanh ra họ Ga-la-át.
30 Nầy là các con trai Ga-la-át: do nơi Giê-xe sanh ra họ Giê-xe; do nơi Hê-léc sanh ra họ Hê-léc;
31 do nơi Ách-ri-ên sanh ra họ Ách-ri-ên; do nơi Si-chem sanh ra họ Si-chem;
32 do nơi Sê-mi-đa sanh ra họ Sê-mi-đa; do nơi Hê-phe sanh ra họ Hê-phe.
33 Vả, Xê-lô-phát, con trai Hê-phe, không có con trai, nhưng có con gái. Tên các con gái Xê-lô-phát là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca, và Thiệt-sa.
34 Đó là các họ của Ma-na-se, tùy theo tu bộ: số là năm mươi hai ngàn bảy trăm người.

Chi phái Ma-na-se, một trong hai con trai của Giô-sép, được tu bộ với 52.700 người. Việc nhắc đến các con gái của Xê-lô-phát báo trước một sự kiện quan trọng trong Dân Số Ký 27, khi các con gái này xin nhận cơ nghiệp mặc dù cha họ không có con trai. Điều này cho thấy luật pháp của Y-sơ-ra-ên có sự linh hoạt nhằm bảo tồn tên của gia đình và quyền sở hữu đất đai, kể cả trong trường hợp người thừa kế là phụ nữ, điều khá đặc biệt trong thế giới cổ đại.

Dân Số Ký 26:35-37 (VIE1934)
35 Nầy là các con trai Ép-ra-im: tùy theo họ hàng mình: do nơi Su-thê-lách sanh ra họ Su-thê-lách; do nơi Bê-ke sanh ra họ Bê-ke; do nơi Tha-chan sanh ra họ Tha-chan.
36 Nầy là con trai của Su-thê-lách: do nơi Ê-ran sanh ra họ Ê-ran.
37 Đó là họ của các con trai Ép-ra-im, tùy theo tu bộ: số là ba mươi hai ngàn năm trăm người. Ấy là các con trai Giô-sép, tùy theo họ hàng mình vậy.

Chi phái Ép-ra-im, người con trai kia của Giô-sép, được tu bộ với 32.500 người, thấp hơn Ma-na-se. Tuy nhiên, dù có số lượng thấp hơn, Ép-ra-im vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tương lai của Y-sơ-ra-ên và thường dẫn đầu các chi phái phía bắc. Cuộc tu bộ phản ánh sự cân bằng giữa hai con trai của Giô-sép, dù số lượng của họ khác nhau.

Dân Số Ký 26:38-41 (VIE1934)
38 Các con trai Bên-gia-min, tùy theo họ hàng mình: do nơi Bê-la sanh ra họ Bê-la; do nơi Ách-bên sanh ra họ Ách-bên; do nơi A-chi-ram sanh ra họ A-chi-ram;
39 do nơi Sê-phu-pham sanh ra họ Sê-phu-pham; do nơi Hu-pham sanh ra họ Hu-pham.
40 Các con trai Bê-la là A-rết và Na-a-man; do nơi A-rết sanh ra họ A-rết; do nơi Na-a-man sanh ra họ Na-a-man.
41 Đó là các con trai Bên-gia-min, tùy theo họ hàng và tùy theo tu bộ: số là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm người.

Chi phái Bên-gia-min được tu bộ với 45.600 người. Về sau Bên-gia-min trở thành một chi phái quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, đặc biệt vì Sau-lơ, vị vua đầu tiên, thuộc chi phái này. Mặc dù thường được xem là một trong những chi phái nhỏ hơn, Bên-gia-min có tầm quan trọng lớn, đặc biệt trong mối liên hệ với vương quốc phía nam và chi phái Giu-đa.

Dân Số Ký 26:42-43 (VIE1934)
42 Nầy là các con trai của Đan, tùy theo họ hàng mình: do nơi Su-cham sanh ra họ Su-cham. Đó là họ của Đan;
43 họ Su-cham, tùy theo tu bộ: số là sáu mươi bốn ngàn bốn trăm người.

Chi phái Đan được tu bộ với 64.400 người, khiến họ trở thành một trong những chi phái đông dân nhất. Mặc dù không nổi bật như một số chi phái khác trong vai trò lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, Đan vẫn có sự hiện diện và ảnh hưởng lâu dài, đặc biệt ở phía bắc. Sự tham gia về sau của Đan vào việc thờ hình tượng sẽ đem lại những hậu quả nghiêm trọng, nhưng tại thời điểm này họ vẫn là một chi phái mạnh và đông người.

Dân Số Ký 26:44-47 (VIE1934)
44 Các con trai A-se, tùy theo họ hàng mình: do nơi Di-ma sanh ra họ Di-ma; do nơi Dích-vi sanh ra họ Dích-vi; do nơi Bê-ri-a sanh ra họ Bê-ri-a.
45 Các con trai Bê-ri-a: do nơi Hê-be sanh ra họ Hê-be; do nơi Manh-ki-ên sanh ra họ Manh-ki-ên.
46 Tên của con gái A-se là Sê-rách.
47 Đó là những họ của các con trai A-se, tùy theo tu bộ: số là năm mươi ba ngàn bốn trăm người.

Chi phái A-se được tu bộ với 53.400 người. Sự nhắc đến Sê-rách, con gái của A-se, rất đáng chú ý vì bà là một trong số ít phụ nữ được nêu tên trong những bảng gia phả này. Con cháu A-se về sau sẽ định cư tại những vùng đất màu mỡ và đóng một vai trò trong nền kinh tế của Y-sơ-ra-ên thông qua nông nghiệp và thương mại.

Dân Số Ký 26:48-50 (VIE1934)
48 Các con trai Nép-ta-li, tùy theo họ hàng mình: do nơi Giát-sê-ên sanh ra họ Giát-sê-ên; do nơi Gu-ni sanh ra họ Gu-ni;
49 do nơi Dít-se sanh ra họ Dít-se; do nơi Si-lem sanh ra họ Si-lem.
50 Đó là các họ của Nép-ta-li, tùy theo họ hàng và tu bộ mình: số là bốn mươi lăm ngàn bốn trăm người.

Chi phái Nép-ta-li được liệt kê với bốn dòng họ chính. Tổng số của họ là 45.400 người, thấp hơn một chút so với cuộc tu bộ trước. Con cháu Nép-ta-li về sau sẽ cư trú tại vùng phía bắc của Y-sơ-ra-ên, một vùng đất trở nên quan trọng trong chức vụ của Giê-su, vì bao gồm những khu vực như Ga-li-lê. Dù có quy mô trung bình, chi phái này vẫn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, đặc biệt trong sự ứng nghiệm lời tiên tri.

Dân Số Ký 26:51 (VIE1934)
51 Đó là những người trong dân Y-sơ-ra-ên mà người ta tu bộ lại: số là sáu trăm một ngàn bảy trăm ba mươi người.

Câu này đưa ra tổng số những người nam được tu bộ: 601.730 người. Con số này thấp hơn một chút so với cuộc tu bộ trước, khi có 603.550 người. Bất chấp những năm tháng lang thang trong đồng vắng và những tai vạ, Y-sơ-ra-ên vẫn là một dân tộc đông đảo và mạnh mẽ, sẵn sàng nhận lãnh cơ nghiệp tương lai tại Ca-na-an.

Dân Số Ký 26:52-56 (VIE1934)
52 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
53 Phải tùy theo số các danh mà chia xứ ra cho những người nầy làm sản nghiệp;
54 chi phái nào số dân đông thì ngươi phải cho một sản nghiệp lớn hơn, chi phái nào số dân ít, thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn, tức là phải cho mỗi chi phái sản nghiệp mình cân phân cùng số tu bộ.
55 Nhưng phải bắt thăm mà chia xứ ra; dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình theo tên của các chi phái tổ tông.
56 Phải tùy sự bắt thăm mà chia sản nghiệp ra cho mỗi chi phái, hoặc số dân đông hay ít.

Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se phân chia đất đai dựa trên cuộc tu bộ. Quy mô của mỗi chi phái sẽ quyết định kích thước phần cơ nghiệp của họ. Tuy nhiên, đất cuối cùng sẽ được chia bằng cách bắt thăm, bảo đảm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong việc phân chia. Phương pháp này kết hợp sự công bằng với quyền tể trị của Đức Chúa Trời, vì các chi phái phải tin cậy vào sự phân chia mà Ngài đã định.

Dân Số Ký 26:57-58 (VIE1934)
57 Nầy là người Lê-vi mà người ta tu bộ lại, tùy theo họ hàng mình: do nơi Ghẹt-sôn sanh ra họ Ghẹt-sôn; do nơi Kê-hát sanh ra họ Kê-hát; do nơi Mê-ra-ri sanh ra họ Mê-ra-ri.
58 Nầy là các họ Lê-vi: họ Líp-ni, họ Hếp-rôn, họ Mách-li, họ Mu-si, họ Cô-rê. Vả, Kê-hát sanh Am-ram.

Người Lê-vi, không giống như các chi phái khác, không được tu bộ nhằm mục đích phân chia cơ nghiệp đất đai, vì vai trò chính của họ là phục vụ trong công việc thánh. Họ sẽ không nhận một phần lãnh thổ như các chi phái khác. Các dòng họ của họ được liệt kê, bao gồm dòng Kê-hát, từ đó Môi-se và A-rôn xuất thân. Điều này nhấn mạnh vai trò đặc biệt của người Lê-vi, là chi phái được Đức Chúa Trời biệt riêng cho công việc phục vụ nơi đền tạm và chức vụ thầy tế lễ.

Dân Số Ký 26:59-61 (VIE1934)
59 Tên vợ Am-ram là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi sanh trong xứ Ê-díp-tô; nàng sanh cho Am-ram, A-rôn, Môi-se, và chị của hai người là Mi-ri-am.
60 Còn A-rôn sanh Na-đáp và A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
61 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu chết trong khi dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va.

Gia phả của Môi-se và A-rôn được nhấn mạnh, đồng thời nhắc lại cái chết của Na-đáp và A-bi-hu vì sự bất tuân khi dâng lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va (Lê-vi Ký 10). Điều này là lời cảnh báo về tầm quan trọng của sự vâng lời nghiêm ngặt đối với Đức Chúa Trời, đặc biệt đối với những người giữ chức vụ lãnh đạo. Ê-lê-a-sa, con trai còn sống của A-rôn, hiện đang phục vụ với tư cách thầy tế lễ thượng phẩm và tiếp tục dòng dõi chức tế lễ.

Dân Số Ký 26:62 (VIE1934)
62 Những nam đinh mà người ta tu bộ từ một tháng sắp lên, cộng được hai mươi ba ngàn; vì người Lê-vi không được kể vào số tu bộ của dân Y-sơ-ra-ên, bởi người Lê-vi không được phần sản nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.

Người Lê-vi được tu bộ riêng, tổng cộng 23.000 người nam từ một tháng tuổi trở lên. Họ không nhận một phần cơ nghiệp đất đai vì vai trò của họ là phục vụ Đức Giê-hô-va tại đền tạm và về sau tại đền thờ. Sự chu cấp cho họ đến từ các của dâng và phần mười của những chi phái khác.

Dân Số Ký 26:63-65 (VIE1934)
63 Đó là sự tu bộ mà Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm về dân Y-sơ-ra-ên trong đồng bằng Mô-áp gần Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
64 Trong các người nầy không có một ai thuộc về bọn mà Môi-se và A-rôn, thầy tế lễ, đã kiểm soát khi hai người tu bộ dân Y-sơ-ra-ên tại đồng vắng Si-na-i.
65 Vì Đức Giê-hô-va có phán về bọn đó rằng: Chúng nó hẳn sẽ chết trong đồng vắng! Vậy, chẳng còn lại một tên, trừ ra Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai Nun.

Cuộc tu bộ này xác nhận rằng không còn người nam nào thuộc cuộc tu bộ đầu tiên tại Si-na-i còn sống, ngoại trừ Ca-lép và Giô-suê. Điều này làm ứng nghiệm sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với thế hệ cũ, những người đã phản nghịch và bị định phải chết trong đồng vắng. Chỉ Ca-lép và Giô-suê, là những người vẫn trung tín, được phép tiến vào Đất Hứa. Điều này nhấn mạnh chủ đề về sự trung tín và vâng lời Đức Chúa Trời.

bottom of page