top of page

Dân Số Ký 3

Dân Số Ký 3 trình bày chi tiết về người Lê-vi và những nhiệm vụ đặc biệt của họ trong việc phục vụ Đền-tạm. Chương này mô tả người Lê-vi được Đức Chúa Trời chọn để thay thế các con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên, đồng thời chia người Lê-vi thành ba gia tộc chính—Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri—và nêu rõ trách nhiệm của từng gia tộc trong việc chăm sóc và vận chuyển các phần khác nhau của Đền-tạm. Chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của chức vụ người Lê-vi trong việc duy trì sự thánh khiết của trại quân và hệ thống thờ phượng, cũng như quyền sở hữu của Đức Chúa Trời đối với họ thay cho các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên.

Dân Số Ký 3:1-3 (VIE1934)
1 Nầy là dòng dõi của A-rôn và Môi-se, về ngày Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại trên núi Si-na-i.
2 Nầy là tên các con trai A-rôn: Trưởng nam là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
3 Đó là tên các con trai A-rôn, tức những thầy tế-lễ đã chịu phép xức dầu, và được lập lên để làm chức tế-lễ.

Những câu này giới thiệu các con trai của A-rôn, là những thầy tế lễ đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên, đã được biệt riêng để phục vụ trong chức tế lễ. Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma là bốn người con trai của A-rôn. Việc nhắc đến Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se trên núi Si-na-i nhấn mạnh nguồn gốc từ Đức Chúa Trời của chức vụ tế lễ và tính thánh của những nhiệm vụ họ được giao phó. Các con trai của A-rôn đại diện cho sự tiếp nối của chức tế lễ, vốn cần thiết để duy trì mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài.

Dân Số Ký 3:4 (VIE1934)
4 Vả, Na-đáp và A-bi-hu đã thác trước mặt Đức Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va tại trong đồng vắng Si-na-i. Hai người nầy không có con. Còn Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm chức tế lễ trước mặt A-rôn, là cha mình.

Ở đây chúng ta được nhắc lại số phận bi thảm của Na-đáp và A-bi-hu, là những người đã chết vì dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cái chết của họ là một lời cảnh báo về sự thánh khiết cần có trong việc phục vụ Đức Chúa Trời. Vì Na-đáp và A-bi-hu không có con, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma tiếp tục thực hiện chức tế lễ dưới sự hiện diện của A-rôn, cha mình. Việc chức tế lễ tiếp tục qua Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma cho thấy sự chu cấp của Đức Chúa Trời trong việc duy trì dòng tế lễ.

Dân Số Ký 3:5-7 (VIE1934)
5 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
6 Hãy khiến chi phái Lê-vi lại gần, đặt trước thầy tế lễ A-rôn, để người Lê-vi phục sự người.
7 Người Lê-vi sẽ giữ chức phận của người và chức phận của cả hội chúng về trước hội mạc mà làm những công việc của đền tạm.

Những câu này nhấn mạnh mạng lệnh của Đức Chúa Trời truyền Môi-se biệt riêng chi phái Lê-vi cho chức vụ. Người Lê-vi phải giúp đỡ A-rôn và các con trai ông trong chức tế lễ, đồng thời phục vụ cả hội chúng bằng cách chăm sóc Đền-tạm. Vai trò của họ rất quan trọng đối với hệ thống thờ phượng của Y-sơ-ra-ên, bảo đảm nơi thánh được duy trì và sự thờ phượng của dân sự được thực hiện theo những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời. Người Lê-vi trở thành lực lượng hỗ trợ cho chức tế lễ, cho thấy vai trò thánh của họ giữa cộng đồng.

Dân Số Ký 3:8-10 (VIE1934)
8 Cũng phải coi sóc hết thảy đồ đạc của hội mạc và mọi vật chi dân Y-sơ-ra-ên giao cho đặng dùng làm công việc của đền tạm.
9 Vậy, ngươi phải giao người Lê-vi cho A-rôn và cho các con trai người; vì đã lấy họ từ trong vòng dân Y-sơ-ra-ên mà ban trọn cho A-rôn rồi.
10 Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Người Lê-vi được giao trách nhiệm chăm sóc mọi phương diện liên quan đến hoạt động của Đền-tạm, từ các đồ đạc cho đến công việc chung. Đức Chúa Trời nhấn mạnh rằng người Lê-vi được ban trọn cho A-rôn và các con trai ông, để họ có thể tập trung vào những trách nhiệm đặc biệt của chức tế lễ. Lời cảnh báo rằng người ngoại đến gần sẽ bị xử tử cho thấy mức độ nghiêm trọng trong việc bảo vệ sự thánh khiết của nơi thánh. Điều đó củng cố sự phân biệt giữa những nhiệm vụ thánh của người Lê-vi và dân sự nói chung.

Dân Số Ký 3:11-13 (VIE1934)
11 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
12 Nầy, từ giữa dân Y-sơ-ra-ên ta chọn lấy người Lê-vi thế cho hết thảy con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, người Lê-vi sẽ thuộc về ta.
13 Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta; ngày xưa khi ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta đã biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật; chúng nó đều sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.

Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Ngài đã chọn người Lê-vi thay cho các con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên. Hành động này nhắc lại biến cố Xuất Ê-díp-tô, khi Đức Chúa Trời bảo tồn các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên trong lúc Ngài giáng tai vạ trên các con đầu lòng của người Ê-díp-tô. Vì vậy, người Lê-vi được biệt riêng cho sự phục vụ Đức Chúa Trời thay cho các con đầu lòng, tượng trưng cho sự cứu chuộc của Y-sơ-ra-ên và mối quan hệ giao ước tiếp tục với Ngài. Điều này nhấn mạnh quyền sở hữu của Đức Chúa Trời và sự biệt riêng dân Ngài cho chính Ngài, đặc biệt được thể hiện qua việc biệt riêng người Lê-vi.

Dân Số Ký 3:14-16 (VIE1934)
14 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se tại trong đồng vắng Si-na-i mà rằng:
15 Hãy kê sổ con cháu Lê-vi, tùy theo tông tộc và họ hàng chúng nó, kê hết thảy nam đinh từ một tháng sắp lên.
16 Môi-se bèn kê sổ người Lê-vi theo mạng của Đức Giê-hô-va, y như Ngài đã phán dặn người vậy.

Ở đây, Đức Chúa Trời truyền Môi-se kiểm kê người Lê-vi, tính tất cả nam đinh từ một tháng tuổi trở lên. Điều này cho thấy người Lê-vi được biệt riêng cho Đức Chúa Trời ngay từ giai đoạn rất sớm của đời sống. Sự vâng lời của Môi-se trong việc kiểm kê đúng theo mạng lệnh Đức Chúa Trời phản ánh tính trật tự và chính xác cần có trong việc duy trì hệ thống thờ phượng của Y-sơ-ra-ên.

Dân Số Ký 3:17-20 (VIE1934)
17 Đây là các con trai của Lê-vi kể từng tên: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
18 Đây là tên của các con trai Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng mình: Líp-ni và Si-mê-y.
19 Đây là các con trai của Kê-hát tùy theo họ hàng mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn, và U-xi-ên;
20 và các con trai của Mê-ra-ri, tùy theo họ hàng mình, là: Mách-li và Mu-si. Đó là những họ hàng của người Lê-vi, tùy theo tông tộc của họ.

Những câu này giới thiệu ba sự phân chia chính trong chi phái Lê-vi: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri, được đặt tên theo ba người con của Lê-vi. Mỗi gia tộc có những nhiệm vụ riêng liên quan đến Đền-tạm, được trình bày trong các câu tiếp theo. Sự phân chia này bảo đảm rằng các trách nhiệm được tổ chức rõ ràng và mỗi gia tộc đều có một vai trò cụ thể trong việc phục vụ Đức Giê-hô-va.

Dân Số Ký 3:21-23 (VIE1934)
21 Họ hàng Líp-ni và họ hàng Si-mê-y thuộc về Ghẹt-sôn. Đó là hai họ hàng của Ghẹt-sôn vậy.
22 Những người trong họ Ghẹt-sôn được tu bộ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là bảy ngàn năm trăm người.
23 Các họ hàng của Ghẹt-sôn đóng trại về phía tây, sau đền tạm.

Ghẹt-sôn là một trong ba gia tộc Lê-vi được kiểm kê, với tổng số 7.500 nam đinh. Gia tộc này được chỉ định đóng trại về phía tây, phía sau Đền-tạm, cho thấy một vị trí cụ thể trong toàn bộ trại quân. Việc họ đóng trại gần Đền-tạm cho thấy mối liên hệ chặt chẽ của họ với sự thờ phượng và chức vụ Đức Chúa Trời, đặc biệt trong việc duy trì cấu trúc của Đền-tạm.

Dân Số Ký 3:24-26 (VIE1934)
24 Quan trưởng của tông tộc Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
25 Chức phận của con cháu Ghẹt-sôn trong hội mạc là coi sóc mọi vật chi can đến đền tạm và Trại, tức là tấm bong của Trại và bức màn của cửa hội mạc,
26 Các bố vi của hành lang, và bức màn của cửa hành lang bao phủ chung quanh đền tạm và bàn thờ, cùng dây chạc về các việc của đền tạm.

Ê-li-a-sáp là quan trưởng của gia tộc Ghẹt-sôn, và trách nhiệm của họ được mô tả rõ ràng. Họ chịu trách nhiệm chăm sóc và vận chuyển những phần bên ngoài của Đền-tạm, như các tấm phủ, các bức màn và những vật liên quan đến hành lang. Những công việc này rất cần thiết cho việc dựng lên và tháo xuống Đền-tạm, vốn là một công trình di động trong suốt cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên nơi đồng vắng. Sự mô tả tỉ mỉ về chức phận của họ cho thấy cách có tổ chức mà Đức Chúa Trời đã thiết lập để duy trì sự thánh khiết của Đền-tạm.

Dân Số Ký 3:27-28 (VIE1934)
27 Họ hàng Am-ram, họ hàng Dít-sa, họ hàng Hếp-rôn và họ hàng U-xi-ên thuộc về Kê-hát. Đó là những họ hàng của Kê-hát.
28 Cứ kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là tám ngàn sáu trăm người có chức phận săn sóc nơi thánh.

Kê-hát là gia tộc tiếp theo được kiểm kê, với tổng số 8.600 nam đinh. Chức phận của họ là săn sóc nơi thánh, cho thấy họ trực tiếp liên quan đến những phần thánh nhất trong công việc của Đền-tạm. Số lượng đông hơn của họ phản ánh vai trò quan trọng trong việc chăm sóc trung tâm của hệ thống thờ phượng Y-sơ-ra-ên, bao gồm những vật thánh ở bên trong Đền-tạm.

Dân Số Ký 3:29-31 (VIE1934)
29 Các họ hàng của con cháu Kê-hát đóng trại bên hông đền tạm về phía nam.
30 Quan trưởng của tông tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
31 Người Kê-hát coi sóc hòm bảng chứng, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, và những đồ đạc của nơi thánh để dùng về việc thờ phượng, luôn với bức màn và các vật chi can đến.

Các gia tộc Kê-hát được chỉ định đóng trại về phía nam của Đền-tạm, với Ê-li-sa-phan làm quan trưởng. Trách nhiệm của họ có ý nghĩa đặc biệt vì họ chăm sóc những vật thánh quan trọng nhất trong Đền-tạm, bao gồm hòm bảng chứng, cái bàn, chân đèn và các bàn thờ. Công việc của họ bao gồm việc bảo quản và vận chuyển những vật thánh này, là những vật ở trung tâm của sự thờ phượng Y-sơ-ra-ên. Tầm quan trọng của chức vụ này nhấn mạnh nhu cầu phải kính sợ và hết sức chính xác khi xử lý những vật thánh.

Dân Số Ký 3:32 (VIE1934)
32 Tổng trưởng của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con trai của thầy tế lễ A-rôn, được đặt lên quản trị những người coi sóc nơi thánh.

Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, được giao một vai trò giám sát đối với những người Lê-vi. Trách nhiệm của ông bao gồm việc quản trị các công việc liên quan đến nơi thánh, bảo đảm rằng mỗi gia tộc đều thực hiện đúng chức phận Đức Chúa Trời đã giao. Vị trí của Ê-lê-a-sa cho thấy mối liên hệ giữa chức tế lễ và người Lê-vi, duy trì trật tự và sự thánh khiết cần thiết cho sự thờ phượng trong Đền-tạm.

Dân Số Ký 3:33-35 (VIE1934)
33 Họ hàng Mách-li và họ hàng Mu-si thuộc về Mê-ra-ri. Đó là hai họ hàng của Mê-ra-ri vậy.
34 Những người trong bọn Mê-ra-ri được tu bộ kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là sáu ngàn hai trăm người.
35 Quan trưởng của tông tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Con cháu Mê-ra-ri đóng trại bên hông đền tạm về phía bắc,

Gia tộc Mê-ra-ri có 6.200 nam đinh và được chỉ định đóng trại về phía bắc của Đền-tạm. Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai, là quan trưởng của họ. Cũng như các gia tộc Lê-vi khác, Mê-ra-ri có một chức phận cụ thể trong việc chăm sóc Đền-tạm, và vị trí đóng trại của họ cho thấy sự tổ chức rõ ràng của toàn bộ trại quân xung quanh Đền-tạm.

Dân Số Ký 3:36-37 (VIE1934)
36 có phần coi sóc các tấm ván của đền tạm, cây xà ngang, trụ, lỗ trụ, những đồ đạc, và mọi việc thuộc về đó,
37 những trụ ở chung quanh hành lang và lỗ trụ, những nọc và dây chạc của trụ.

Người Mê-ra-ri chịu trách nhiệm về các thành phần cấu trúc của Đền-tạm, bao gồm các tấm ván, cây xà ngang, các trụ, lỗ trụ và các vật phụ thuộc. Những vật này tạo nên khung và sự vững chắc của Đền-tạm, khiến công việc của họ rất quan trọng đối với việc dựng và vận chuyển công trình thánh. Công việc của họ có thể không trực tiếp liên quan đến những vật thánh nổi bật như công việc của người Kê-hát, nhưng vẫn thiết yếu để Đền-tạm có thể hoạt động như trung tâm thờ phượng của trại quân.

Dân Số Ký 3:38 (VIE1934)
38 Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Môi-se, A-rôn và các con trai ông đóng trại ở phía đông của Đền-tạm, tức phía trước lối vào. Đây là vị trí nổi bật, và chức phận của họ là chăm sóc nơi thánh thay cho dân Y-sơ-ra-ên. Lời cảnh báo rằng người ngoại đến gần sẽ bị xử tử nhấn mạnh sự thánh khiết của Đền-tạm và nhu cầu phải có những ranh giới nghiêm ngặt để bảo vệ nơi Đức Chúa Trời hiện diện. Điều này cho thấy sự nghiêm túc mà Đức Chúa Trời đòi hỏi dân sự phải có đối với sự hiện diện thánh của Ngài.

Dân Số Ký 3:39 (VIE1934)
39 Hết thảy người Lê-vi mà Môi-se và A-rôn vâng mạng Đức Giê-hô-va tu bộ, tùy theo họ hàng của họ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là hai mươi hai ngàn người.

Tổng số người Lê-vi được kiểm kê là 22.000 nam đinh từ một tháng tuổi trở lên. Cuộc kiểm kê này được thực hiện theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời và cho thấy quy mô của chi phái được biệt riêng cho công việc của Đền-tạm. Người Lê-vi đông đủ về số lượng, và chức vụ của họ trong việc duy trì Đền-tạm cũng như trợ giúp các thầy tế lễ là một phần quan trọng trong đời sống thuộc linh của Y-sơ-ra-ên.

Dân Số Ký 3:40-42 (VIE1934)
40 Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy kê sổ hết thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, từ một tháng sắp lên, và hãy dựng sổ tên chúng nó.
41 Ta là Đức Giê-hô-va. Ngươi phải chọn lấy cho ta người Lê-vi thế cho các con trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên; cũng phải bắt súc vật của người Lê-vi thế cho mọi con súc vật đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
42 Vậy, Môi-se kê sổ các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn người.

Đức Chúa Trời truyền Môi-se kiểm kê tất cả các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên từ một tháng tuổi trở lên. Sau đó, người Lê-vi được dùng để thay thế cho các con trưởng nam ấy. Cả người Lê-vi lẫn súc vật của họ đều được biệt riêng làm vật thay thế. Điều này phản ánh quyền sở hữu của Đức Chúa Trời đối với các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên, một quyền bắt nguồn từ biến cố Lễ Vượt Qua. Người Lê-vi vì thế được biệt riêng cho sự phục vụ Đức Chúa Trời với tư cách là những người thay thế cho các con trưởng nam của cả dân Y-sơ-ra-ên.

Dân Số Ký 3:43-45 (VIE1934)
43 Hết thảy những con trưởng nam kể từng tên, từ tuổi một tháng sắp lên, theo sự kê sổ họ, là hai mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba người.
44 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
45 Hãy chọn lấy những người Lê-vi thế cho hết thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, và súc vật của người Lê-vi thế cho súc vật của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, các người Lê-vi sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.

Tổng số các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên là 22.273 người, nhiều hơn số người Lê-vi. Một lần nữa, người Lê-vi được xác nhận là những người thay thế cho các con trưởng nam, cho thấy Đức Chúa Trời đã nhận họ làm của riêng Ngài. Câu “các người Lê-vi sẽ thuộc về ta” nhấn mạnh mối quan hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời và người Lê-vi, những người được biệt riêng cho sự phục vụ Ngài thay mặt cho cả Y-sơ-ra-ên.

Dân Số Ký 3:46-48 (VIE1934)
46 Còn về sự chuộc lại con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, kê sổ hơn số người Lê-vi hai trăm bảy mươi ba,
47 thì ngươi phải thâu mỗi người năm siếc-lơ, tùy theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ là hai chục ghê ra.
48 Ngươi phải giao bạc cho A-rôn và các con trai người; ấy là bạc chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn.

Vì số con trưởng nam nhiều hơn số người Lê-vi 273 người, Đức Chúa Trời thiết lập một phương cách chuộc lại số người vượt quá này. Mỗi người phải được chuộc bằng năm siếc-lơ bạc, tính theo siếc-lơ của nơi thánh. Số bạc này được giao cho A-rôn và các con trai ông. Khoản tiền chuộc này tượng trưng cho sự trao đổi được Đức Chúa Trời quy định và duy trì nguyên tắc rằng các con trưởng nam vốn thuộc về Ngài.

Dân Số Ký 3:49-51 (VIE1934)
49 Vậy, Môi-se thâu bạc chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn số người Lê-vi đã chuộc lại.
50 Bạc mà người thâu về những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, cọng được một ngàn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
51 Môi-se vâng mạng Đức Giê-hô-va, giao bạc chuộc lại cho A-rôn và các con trai người, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

Môi-se thu số bạc chuộc lại từ những con trưởng nam vượt quá số người Lê-vi, tổng cộng 1.365 siếc-lơ. Sau đó ông giao số bạc ấy cho A-rôn và các con trai ông, đúng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Hành động này hoàn tất tiến trình thay thế, trong đó người Lê-vi đảm nhận vị trí của các con trưởng nam trong việc phục vụ Đức Giê-hô-va. Khoản tiền chuộc nhấn mạnh rằng mọi con trưởng nam đều thuộc về Đức Chúa Trời và người Lê-vi phục vụ thay cho họ, duy trì mối quan hệ thánh giữa Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời.

bottom of page