
Dân Số Ký 30
Dân Số Ký 30 nói về những lời khấn nguyện và lời thề mà một người đã hứa với Đức Giê-hô-va. Chương này nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc lập lời hứa và những điều kiện theo đó các cam kết ấy có thể được hủy bỏ, đặc biệt tập trung vào vai trò của người cha và người chồng đối với những lời khấn của người nữ dưới quyền mình. Chương này nhấn mạnh trách nhiệm, thẩm quyền và tầm quan trọng của việc giữ lời đã hứa với Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 30:1-3 (VIE1934)
1 Môi-se nói cùng các trưởng-tộc của các chi-phái Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là điều Đức Giê-hô-va đã phán:
2 Khi một người nam hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, hoặc thề một lời để ràng buộc mình, thì chớ nên nói sai lời mình; phải làm mọi điều đã ra khỏi miệng mình.
3 Khi một người nữ còn trẻ, ở nhà cha mình, hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, và ràng buộc mình bởi một lời,
Môi-se truyền cho các trưởng-tộc những mạng lịnh của Đức Chúa Trời liên quan đến các lời khấn nguyện. Một người nam khi đã khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va phải giữ lời mình, cho thấy tầm quan trọng của sự ngay thẳng trong những cam kết với Đức Chúa Trời. Nếu một người nữ lập lời khấn khi còn ở trong nhà cha mình, lời khấn ấy cũng có ý nghĩa và trách nhiệm, nhưng có những điều kiện khác liên quan đến hiệu lực của lời khấn, cho thấy cơ cấu thẩm quyền trong gia đình.
Dân Số Ký 30:4-5 (VIE1934)
4 mà cha nàng nghe lời nàng đã hứa nguyện và lời ràng buộc nàng đã tự buộc mình, mà cha nàng không nói chi cùng nàng, thì hết thảy lời nàng đã hứa nguyện và lời ràng buộc nàng đã tự buộc mình sẽ có hiệu lực.
5 Nhưng nếu cha nàng không cho phép nàng trong ngày người nghe, thì hết thảy lời nàng đã hứa nguyện và lời ràng buộc nàng đã tự buộc mình sẽ không có hiệu lực; Đức Giê-hô-va sẽ tha cho nàng, vì cha nàng đã không cho phép.
Nếu người cha nghe lời khấn của con gái mình mà không nói gì, lời khấn ấy được xem là có hiệu lực trước mặt Đức Giê-hô-va. Tuy nhiên, nếu người cha không cho phép, ông có thẩm quyền hủy bỏ lời khấn, và Đức Giê-hô-va giải phóng người nữ khỏi lời cam kết ấy. Điều khoản này cho thấy vai trò bảo vệ của người cha trong gia đình và tầm quan trọng của thẩm quyền gia đình trong việc giám sát những cam kết thuộc linh.
Dân Số Ký 30:6-8 (VIE1934)
6 Khi nàng lấy chồng, đang khi còn bị ràng buộc bởi lời hứa nguyện hay bởi lời nói vội vàng của môi mình mà nàng đã tự buộc mình,
7 nếu chồng nàng nghe, mà trong ngày nghe không nói chi cùng nàng, thì lời nàng hứa nguyện và lời ràng buộc nàng đã tự buộc mình sẽ có hiệu lực.
8 Nhưng nếu chồng nàng không cho phép trong ngày người nghe, thì người sẽ hủy lời nàng đã hứa nguyện và lời nàng đã nói ra khỏi môi mình mà tự buộc mình; Đức Giê-hô-va sẽ tha cho nàng.
Nếu một người nữ lập lời khấn rồi sau đó lấy chồng, người chồng có thẩm quyền xác nhận hoặc hủy bỏ những lời khấn trước đó của nàng. Nếu người chồng im lặng khi nghe về lời khấn, lời khấn ấy vẫn có hiệu lực. Nhưng nếu người chồng không cho phép, ông có thể hủy bỏ lời khấn, và Đức Giê-hô-va giải phóng người nữ khỏi lời cam kết ấy. Điều này nhấn mạnh cơ cấu lãnh đạo của người chồng trong gia đình và sự quy phục lẫn nhau giữa vợ chồng trong những vấn đề thuộc linh.
Dân Số Ký 30:9 (VIE1934)
9 Còn lời hứa nguyện của một người đàn bà góa hoặc đàn bà bị chồng để, tức là lời nàng đã tự buộc mình, sẽ có hiệu lực.
Khác với những người nữ đang ở dưới quyền của cha hoặc chồng, người đàn bà góa hoặc người đàn bà bị chồng để phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời khấn của mình. Không có sự giám sát của người cha hoặc người chồng, lời khấn của nàng vẫn có hiệu lực, cho thấy nàng hoàn toàn chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời về bất cứ cam kết nào mình đã lập.
Dân Số Ký 30:10-12 (VIE1934)
10 Nếu nàng hứa nguyện trong nhà chồng, hoặc tự buộc mình bởi một lời thề,
11 mà chồng nàng nghe, không nói chi cùng nàng, và không ngăn cản nàng, thì hết thảy lời nàng đã hứa nguyện và lời ràng buộc nàng đã tự buộc mình sẽ có hiệu lực.
12 Nhưng nếu chồng nàng thật sự hủy bỏ những lời ấy trong ngày người nghe, thì bất cứ điều gì đã ra khỏi môi nàng liên quan đến lời hứa nguyện hay lời ràng buộc nàng, sẽ không có hiệu lực; chồng nàng đã hủy bỏ những lời ấy, và Đức Giê-hô-va sẽ tha cho nàng.
Nếu một người vợ lập lời khấn trong khi sống với chồng, người chồng có thẩm quyền giữ nguyên hoặc hủy bỏ lời khấn ấy. Nếu người chồng im lặng, lời khấn được giữ nguyên. Nếu người chồng quyết định hủy bỏ lời khấn ngay trong ngày nghe được, lời khấn được hủy bỏ, và Đức Giê-hô-va giải phóng người vợ khỏi cam kết ấy. Điều này phản ánh sự cân bằng giữa trách nhiệm cá nhân và thẩm quyền gia đình trong những vấn đề thuộc linh.
Dân Số Ký 30:13-15 (VIE1934)
13 Phàm lời hứa nguyện và lời thề buộc nàng phải ép linh hồn mình, thì chồng nàng có quyền làm cho vững chắc, hay có quyền hủy bỏ.
14 Nếu chồng nàng cứ im lặng từ ngày nầy qua ngày kia, thì người làm cho vững chắc hết thảy lời hứa nguyện của nàng, và hết thảy lời ràng buộc nàng; người làm cho vững chắc các lời ấy, vì trong ngày người nghe mà không nói chi cùng nàng.
15 Nhưng nếu sau khi đã nghe rồi, người hủy bỏ các lời ấy, thì người sẽ mang lấy sự gian ác của nàng.
Những câu này làm rõ rằng người chồng có thể xác nhận hoặc hủy bỏ những lời khấn của vợ mình. Nếu ông im lặng sau khi nghe lời khấn, sự im lặng của ông được xem là sự đồng ý, và lời khấn vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu sau đó ông tìm cách hủy bỏ lời khấn mà trước đó đã im lặng chấp thuận, chính ông sẽ mang lấy sự gian ác liên quan đến việc phá bỏ lời cam kết ấy. Điều này nhấn mạnh trách nhiệm của người chồng trong vấn đề này.
Dân Số Ký 30:16 (VIE1934)
16 Ấy là những luật lệ Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se, về việc giữa chồng và vợ, và giữa cha cùng con gái mình khi nàng còn trẻ, ở nhà cha mình.
Chương này kết thúc bằng một lời tổng kết. Những luật lệ về lời khấn nguyện điều chỉnh mối quan hệ giữa nam và nữ trong gia đình, đặc biệt liên quan đến thẩm quyền của người cha đối với con gái và của người chồng đối với vợ. Điều này cho thấy cơ cấu thẩm quyền và trách nhiệm trong gia đình, cũng như trách nhiệm đối với những cam kết thuộc linh trước mặt Đức Chúa Trời.

