
Dân Số Ký 33
Chương này ghi lại chi tiết hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ Ai Cập đến đồng bằng Mô-áp. Chương liệt kê từng nơi họ dừng chân, nhấn mạnh sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong suốt cuộc hành trình. Chương cũng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về cách dân Y-sơ-ra-ên phải đối xử với người Ca-na-an khi họ tiến vào Đất Hứa.
Dân Số Ký 33:1-3 (VIE1934)
1 Nầy là những chặng đường của dân Y-sơ-ra-ên, khi họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô từng đội ngũ, dưới quyền Môi-se và A-rôn.
2 Môi-se ghi lại những nơi khởi hành của họ theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va; đây là những chặng đường của họ theo nơi khởi hành.
3 Ngày rằm tháng giêng, họ ra đi từ Ra-mê-se; ngày sau lễ Vượt-qua, dân Y-sơ-ra-ên ra đi cách dạn-dĩ trước mắt mọi người Ê-díp-tô.
Môi-se cẩn thận ghi lại từng chặng đường của Y-sơ-ra-ên, vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Bản ghi chép này nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đức Chúa Trời trong suốt thời gian họ ở nơi đồng vắng. Cuộc hành trình bắt đầu sau lễ Vượt-qua, đánh dấu sự giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Việc họ ra đi cách dạn-dĩ trước mắt người Ê-díp-tô tượng trưng không chỉ cho sự tự do về thể chất mà còn cho sự giải cứu thuộc linh, khi họ rời khỏi Ai Cập sau khi người Ê-díp-tô đã phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời qua các tai vạ.
Dân Số Ký 33:4-5 (VIE1934)
4 Vì người Ê-díp-tô chôn những kẻ sanh đầu lòng mà Đức Giê-hô-va đã đánh giết giữa vòng chúng nó; Đức Giê-hô-va cũng làm sự đoán-phạt trên các thần chúng nó.
5 Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ra-mê-se đến đóng trại tại Su-cốt.
Khi Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai Cập, người Ê-díp-tô đang than khóc vì sự mất mát những con đầu lòng của họ. Câu này nhấn mạnh sự phán xét thiêng liêng đã giáng xuống Ai Cập, kể cả trên các thần của họ, cho thấy quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Điểm dừng chân đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là Su-cốt, đánh dấu sự khởi đầu của một hành trình hoàn toàn phụ thuộc vào sự chu cấp và dẫn dắt của Đức Chúa Trời, cho thấy sự chăm sóc và thành tín của Ngài đối với giao ước.
Dân Số Ký 33:6-8 (VIE1934)
6 Từ Su-cốt, họ đi đến Ê-tham, ở tại cuối đồng vắng.
7 Từ Ê-tham, họ trở lại về hướng Phi-ha-hi-rốt, ở trước Ba-anh-Xê-phôn, và đóng trại trước Mích-đôn.
8 Từ trước Phi-ha-hi-rốt, họ đi ngang qua giữa biển vào đồng vắng, đi ba ngày đường trong đồng vắng Ê-tham, rồi đóng trại tại Ma-ra.
Đoạn này trình bày những điểm dừng tiếp theo trong hành trình, với một sự kiện quan trọng xảy ra tại Phi-ha-hi-rốt, nơi dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua Biển Đỏ. Việc đi qua biển là một sự giải cứu kỳ diệu bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Sau đó, họ đi vào đồng vắng và đến Ma-ra, nơi nước đắng, tượng trưng cho những thử thách ban đầu trong hành trình đức tin và sự phụ thuộc của họ vào Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 33:9 (VIE1934)
9 Từ Ma-ra, họ đi đến Ê-lim; tại Ê-lim có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà-là, và họ đóng trại tại đó.
Tại Ê-lim, Đức Chúa Trời cung cấp cho họ một nơi nghỉ ngơi và được làm tươi mới, với nguồn nước dồi dào và bóng mát. Mười hai suối nước và bảy mươi cây chà-là có thể tượng trưng cho sự đầy đủ và trọn vẹn, cho thấy sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài ngay cả giữa đồng vắng. Điểm dừng chân này đem lại cho dân Y-sơ-ra-ên một khoảng nghỉ ngắn khỏi môi trường sa mạc khắc nghiệt và nhắc nhở họ về sự chu cấp của Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 33:10-11 (VIE1934)
10 Từ Ê-lim, họ đi và đóng trại bên Biển Đỏ.
11 Từ Biển Đỏ, họ đi và đóng trại trong đồng vắng Sin.
Sau khi rời Ê-lim, họ đi trở lại bờ Biển Đỏ, có lẽ như một lời nhắc nhở về sự giải cứu kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đã thực hiện. Sau đó, khi tiếp tục đi vào đồng vắng Sin, họ phải đối diện với những khó khăn khác, nơi Đức Chúa Trời về sau sẽ ban ma-na để nuôi sống họ. Chặng đường này phản ánh cả sự dẫn dắt liên tục của Đức Chúa Trời lẫn những thử thách ngày càng gia tăng của môi trường đồng vắng.
Dân Số Ký 33:12-14 (VIE1934)
12 Từ đồng vắng Sin, họ đi và đóng trại tại Đóp-ka.
13 Từ Đóp-ka, họ đi và đóng trại tại A-lúc.
14 Từ A-lúc, họ đi và đóng trại tại Rê-phi-đim, là nơi không có nước cho dân chúng uống.
Rê-phi-đim là một nơi thử thách, vì không có nước, khiến dân sự lằm bằm cùng Môi-se. Đức Chúa Trời đã cung cấp nước từ vầng đá, bày tỏ khả năng của Ngài trong việc chu cấp ngay cả trong những hoàn cảnh dường như không thể. Điểm dừng chân này nhấn mạnh cuộc đấu tranh của Y-sơ-ra-ên trong việc tin cậy và nương dựa nơi Đức Chúa Trời, ngay cả khi Ngài tiếp tục đáp ứng nhu cầu của họ bằng những cách kỳ diệu.
Dân Số Ký 33:15-17 (VIE1934)
15 Từ Rê-phi-đim, họ đi và đóng trại trong đồng vắng Si-na-i.
16 Từ đồng vắng Si-na-i, họ đi và đóng trại tại Kíp-rốt-Ha-ta-va.
17 Từ Kíp-rốt-Ha-ta-va, họ đi và đóng trại tại Hát-sê-rốt.
Đồng vắng Si-na-i là nơi Y-sơ-ra-ên nhận luật pháp và những chỉ dẫn để xây dựng đền tạm. Đây là một thời điểm thuộc linh quan trọng trong hành trình, hình thành căn tính của họ với tư cách là dân giao ước của Đức Chúa Trời. Kíp-rốt-Ha-ta-va, có nghĩa là “mồ-mả của sự thèm muốn”, là nơi Đức Chúa Trời phán xét những người than phiền về thức ăn, còn Hát-sê-rốt chứng kiến thêm những thử thách đối với quyền lãnh đạo của Môi-se. Những địa điểm này phản ánh cả những thời điểm thuộc linh cao trọng lẫn hậu quả của sự không vâng lời.
Dân Số Ký 33:18-20 (VIE1934)
18 Từ Hát-sê-rốt, họ đi và đóng trại tại Rít-ma.
19 Từ Rít-ma, họ đi và đóng trại tại Rim-môn-Phê-rết.
20 Từ Rim-môn-Phê-rết, họ đi và đóng trại tại Líp-na.
Những điểm dừng này đánh dấu sự tiếp tục của cuộc lang thang trong đồng vắng, với Rít-ma nằm trong đồng vắng Pha-ran, gần khu vực các thám tử được sai đi vào Ca-na-an. Mỗi điểm dừng đều là một phần trong bối cảnh rộng lớn hơn về việc Đức Chúa Trời dẫn dắt họ hướng đến Đất Hứa, ngay cả khi đức tin và sự kiên nhẫn của họ liên tục bị thử thách.
Dân Số Ký 33:21-23 (VIE1934)
21 Từ Líp-na, họ đi và đóng trại tại Ri-sa.
22 Từ Ri-sa, họ đi và đóng trại tại Kê-hê-la-tha.
23 Từ Kê-hê-la-tha, họ đi và đóng trại tại núi Sê-phe.
Tên của những địa điểm này đánh dấu các chặng đường trong hành trình qua địa hình khó khăn. Mặc dù không có nhiều chi tiết về những sự kiện xảy ra tại các điểm dừng này, sự lặp lại của chúng nhấn mạnh cuộc hành trình dài và gian khổ mà dân Y-sơ-ra-ên đã trải qua, khi họ từng bước tiến về phía trước dưới mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Mỗi điểm dừng đại diện cho sự tiến triển hướng đến mục tiêu cuối cùng là vào Đất Hứa.
Dân Số Ký 33:24-29 (VIE1934)
24 Từ núi Sê-phe, họ đi và đóng trại tại Ha-ra-đa.
25 Từ Ha-ra-đa, họ đi và đóng trại tại Mác-hê-lốt.
26 Từ Mác-hê-lốt, họ đi và đóng trại tại Tha-hát.
27 Từ Tha-hát, họ đi và đóng trại tại Tha-rách.
28 Từ Tha-rách, họ đi và đóng trại tại Mít-ca.
29 Từ Mít-ca, họ đi và đóng trại tại Hách-mô-na.
Những câu này liệt kê những cuộc di chuyển liên tục của dân Y-sơ-ra-ên qua nhiều địa điểm khác nhau trong đồng vắng. Mặc dù không có sự kiện cụ thể nào được đề cập, bản ghi chép chi tiết về hành trình nhấn mạnh sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời qua từng nơi, củng cố sự thành tín của Ngài đối với giao ước khi dẫn dắt họ từng bước đến đích.
Dân Số Ký 33:30-33 (VIE1934)
30 Từ Hách-mô-na, họ đi và đóng trại tại Mô-sê-rốt.
31 Từ Mô-sê-rốt, họ đi và đóng trại tại Bê-nê-Gia-can.
32 Từ Bê-nê-Gia-can, họ đi và đóng trại tại Hô-Ha-ghi-đát.
33 Từ Hô-Ha-ghi-đát, họ đi và đóng trại tại Giô-t-ba-tha.
Khi dân Y-sơ-ra-ên di chuyển từ điểm dừng này sang điểm dừng khác, hành trình của họ tiếp tục là một sự thử thách về sức chịu đựng và lòng tin cậy vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời. Những câu này phản ánh tầm quan trọng của từng bước trong hành trình, khi họ tiếp tục tiến về sự ứng nghiệm những lời hứa của Đức Chúa Trời; mỗi địa điểm đánh dấu một bước tiến trong cuộc hành trình qua đồng vắng.
Dân Số Ký 33:34-37 (VIE1934)
34 Từ Giô-t-ba-tha, họ đi và đóng trại tại Áp-rô-na.
35 Từ Áp-rô-na, họ đi và đóng trại tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36 Từ Ê-xi-ôn-Ghê-be, họ đi và đóng trại trong đồng vắng Xin, tức là Ka-đe.
37 Từ Ka-đe, họ đi và đóng trại tại núi Hô-rơ, trên biên giới xứ Ê-đôm.
Ê-xi-ôn-Ghê-be là một thành cảng quan trọng, có lẽ là nơi buôn bán và nghỉ ngơi, nằm gần Biển Đỏ. Sau khi rời khỏi đó, dân Y-sơ-ra-ên đến Ka-đe trong đồng vắng Xin, một nơi đã chứng kiến những thời điểm then chốt, bao gồm cái chết của Mi-ri-am và sự không vâng lời của Môi-se khi ông đập vầng đá. Từ Ka-đe, họ đi đến núi Hô-rơ, nơi A-rôn sẽ qua đời, đánh dấu một sự chuyển tiếp khác trong sự lãnh đạo.
Dân Số Ký 33:38-39 (VIE1934)
38 Thầy tế-lễ A-rôn lên núi Hô-rơ theo mạng-lịnh của Đức Giê-hô-va, và chết tại đó, vào năm thứ bốn mươi, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ngày mồng một tháng năm.
39 A-rôn được một trăm hai mươi ba tuổi khi chết tại núi Hô-rơ.
Những câu này ghi lại cái chết của A-rôn như một sự kiện quan trọng trong năm thứ bốn mươi của cuộc hành trình. Sự qua đời của A-rôn đánh dấu sự kết thúc chức vụ lãnh đạo của ông với tư cách là thầy tế lễ cả và sự hoàn tất một cuộc đời dài phục vụ. Cái chết của ông tại núi Hô-rơ vừa là một mất mát đau buồn đối với dân sự vừa là lời nhắc nhở về sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với sự không vâng lời, vì A-rôn sẽ không được vào Đất Hứa.
Dân Số Ký 33:40 (VIE1934)
40 Vua A-rát, người Ca-na-an ở về phía nam xứ Ca-na-an, hay tin dân Y-sơ-ra-ên đến.
Câu này giới thiệu một thử thách mới đối với dân Y-sơ-ra-ên. Người Ca-na-an, đặc biệt là vua A-rát, biết được Y-sơ-ra-ên đang tiến đến Đất Hứa. Điều này mở đầu cho những trận chiến mà Y-sơ-ra-ên sẽ phải đối diện khi họ chuẩn bị chiếm hữu xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho họ.
Dân Số Ký 33:41-44 (VIE1934)
41 Từ núi Hô-rơ, họ đi và đóng trại tại Xa-mô-na.
42 Từ Xa-mô-na, họ đi và đóng trại tại Phu-nôn.
43 Từ Phu-nôn, họ đi và đóng trại tại Ô-bốt.
44 Từ Ô-bốt, họ đi và đóng trại tại I-giê-A-ba-rim, gần biên giới Mô-áp.
Những câu này trình bày sự tiếp tục của hành trình dân Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng, tiến gần hơn đến biên giới Mô-áp. Mỗi bước đưa họ đến gần hơn với xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa ban, và những nơi họ đóng trại phản ánh quá trình chuẩn bị lâu dài để bước vào Ca-na-an. Những địa điểm này, phần lớn nằm trong vùng đồng vắng, nhấn mạnh sức chịu đựng mà dân sự cần có khi đi theo sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 33:45-47 (VIE1934)
45 Từ I-gim, họ đi và đóng trại tại Đi-bôn-Gát.
46 Từ Đi-bôn-Gát, họ đi và đóng trại tại A-môn-Đi-bla-tha-im.
47 Từ A-môn-Đi-bla-tha-im, họ đi và đóng trại trong các núi A-ba-rim, trước Nê-bô.
Dân Y-sơ-ra-ên đang đến gần Đất Hứa, với Đi-bôn-Gát và các núi A-ba-rim nằm trong lãnh thổ Mô-áp. Việc nhắc đến Nê-bô báo trước những ngày cuối cùng của Môi-se, vì núi Nê-bô là nơi về sau ông sẽ nhìn thấy Đất Hứa trước khi qua đời. Những địa điểm này biểu thị sự mong đợi và sự gần kề của cơ nghiệp mà dân sự đã chờ đợi từ lâu.
Dân Số Ký 33:48-49 (VIE1934)
48 Từ các núi A-ba-rim, họ đi và đóng trại trong đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
49 Họ đóng trại gần sông Giô-đanh, từ Bết-Giê-si-mốt cho đến A-bên-Si-tim trong đồng bằng Mô-áp.
Cuối cùng, dân Y-sơ-ra-ên đến đồng bằng Mô-áp, đối ngang Giê-ri-cô. Địa điểm này đánh dấu ngưỡng cửa của Đất Hứa. Việc vượt qua sông Giô-đanh sẽ sớm xảy ra, nhưng tại đây họ chuẩn bị bước vào xứ. Cuộc hành trình dài đang đi đến hồi kết, và nơi đóng trại này là một trong những điểm dừng cuối cùng trước khi họ chuyển từ đồng vắng vào xứ Ca-na-an.
Dân Số Ký 33:50-53 (VIE1934)
50 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, rằng:
51 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên và truyền cho chúng nó rằng: Khi các ngươi đã đi qua sông Giô-đanh vào xứ Ca-na-an,
52 thì phải đuổi hết thảy dân cư trong xứ khỏi trước mặt các ngươi, phá hủy hết thảy hình chạm bằng đá của chúng nó, phá hủy hết thảy hình đúc của chúng nó, và đánh đổ hết thảy các nơi cao của chúng nó;
53 phải chiếm lấy xứ và ở tại đó, vì ta đã ban xứ cho các ngươi đặng làm sản-nghiệp.
Đức Chúa Trời ban cho Môi-se những chỉ dẫn rõ ràng về điều dân Y-sơ-ra-ên phải làm khi họ bước vào Đất Hứa. Y-sơ-ra-ên phải loại bỏ mọi dấu vết của sự thờ hình tượng Ca-na-an bằng cách phá hủy các hình tượng, các đá chạm và các nơi cao của chúng. Mạng lịnh này nhấn mạnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và nhu cầu dân Ngài phải duy trì sự thanh sạch, không để những tập tục bại hoại của người Ca-na-an tồn tại giữa họ. Đất này là một món quà từ Đức Chúa Trời, nhưng để chiếm hữu và sống trong đó, họ phải trung tín với các mạng lịnh của Ngài.
Dân Số Ký 33:54 (VIE1934)
54 Các ngươi phải chia xứ cho các gia tộc mình bằng cách bắt thăm; gia tộc lớn thì phải cho phần lớn, gia tộc nhỏ thì phải cho phần nhỏ; phần đất nào bắt thăm nhằm cho ai, thì sẽ thuộc về người ấy. Các ngươi sẽ nhận sản-nghiệp tùy theo các chi-phái của tổ-phụ mình.
Đức Chúa Trời chỉ thị rằng đất phải được chia cho các chi phái bằng cách bắt thăm, bảo đảm sự công bằng trong việc phân chia. Các chi phái lớn hơn sẽ nhận phần đất lớn hơn, còn các chi phái nhỏ hơn nhận phần nhỏ hơn. Phương thức phân chia này nhấn mạnh quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong việc giao phần cơ nghiệp cho mỗi chi phái, và cơ nghiệp sẽ được truyền lại qua dòng dõi của mỗi gia đình như một sản nghiệp lâu dài.
Dân Số Ký 33:55-56 (VIE1934)
55 Nhưng nếu các ngươi không đuổi dân cư trong xứ khỏi trước mặt mình, thì những kẻ các ngươi để lại sẽ như gai trong mắt và như chông nơi hông các ngươi, chúng nó sẽ khuấy rối các ngươi trong xứ mà các ngươi ở;
56 lại, ta sẽ làm cho các ngươi như ta đã định làm cho chúng nó.
Đức Chúa Trời cảnh báo dân Y-sơ-ra-ên về hậu quả của sự không vâng lời. Nếu họ không đuổi dân cư trong xứ đi, những người còn lại sẽ trở thành nguồn gây rắc rối và cám dỗ thường xuyên. Lời cảnh báo này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vâng theo mạng lịnh Đức Chúa Trời để tránh ảnh hưởng của những tập tục ngoại giáo. Sự phán xét của Đức Chúa Trời không thiên vị; nếu Y-sơ-ra-ên cho phép những ảnh hưởng này tồn tại giữa họ, họ cũng sẽ phải đối diện với hậu quả tương tự như người Ca-na-an, cho thấy mức độ nghiêm trọng của mối quan hệ giao ước giữa họ với Ngài.

