
Dân-số Ký 5
Dân-số Ký 5 trình bày những luật lệ và nghi thức nhằm làm thanh sạch trại quân, duy trì sự thánh khiết và xử lý trường hợp người vợ bị nghi ngờ không chung thủy. Chương này nhấn mạnh sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với sự thanh sạch, công lý và sự thánh khiết của các mối quan hệ giữa dân Ngài. Chương tập trung vào ba vấn đề chính: đuổi những người ô-uế ra khỏi trại quân, bồi thường những điều sai phạm và nghi thức dành cho một người vợ bị nghi ngờ phạm tội ngoại tình.
Dân-số Ký 5:1-3 (VIE1934)
1 Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy biểu dân Y-sơ-ra-ên đuổi ra ngoài trại-quân hết thảy người phung, người có bịnh bạch-trược, và người vì cớ đụng đến một xác chết nào đã bị ô-uế.
3 Bất-luận nam hay nữ, các ngươi phải đuổi họ ra ngoài trại-quân, hầu cho họ không làm cho trại-quân bị ô-uế, là nơi ta ngự ở trong.
Dân Y-sơ-ra-ên được truyền phải đưa những người bị ô-uế vì bệnh tật, sự bài tiết hoặc vì tiếp xúc với người chết ra khỏi trại quân, để duy trì sự tinh sạch của dân sự. Sự phân cách này nhấn mạnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và mong muốn của Ngài rằng trại quân, là nơi sự hiện diện của Ngài ngự giữa dân sự, phải được giữ khỏi sự ô-uế. Điều này nhằm ngăn sự ô-uế thuộc nghi lễ lan rộng trong cộng đồng.
Dân-số Ký 5:4 (VIE1934)
4 Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, đuổi họ ra khỏi trại-quân, y như Đức Giê-hô-va đã truyền lịnh cho Môi-se vậy.
Dân Y-sơ-ra-ên vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời và đưa những người ô-uế ra khỏi trại quân. Điều này cho thấy sự tôn trọng của họ đối với thẩm quyền của Đức Chúa Trời và mong muốn duy trì sự thánh khiết trong trại quân. Sự vâng lời những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời là điều cần thiết cho mối quan hệ của họ với Ngài cũng như cho đời sống trật tự và lành mạnh của cộng đồng.
Dân-số Ký 5:5-7 (VIE1934)
5 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
6 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Khi một người nam hay nữ phạm một trong những tội người ta thường phạm, cho đến can-phạm cùng Đức Giê-hô-va, và vì cớ đó phải mắc tội,
7 thì người ấy phải xưng tội mình đã phạm ra, và trả tang-vật lại đủ, và thêm một phần năm giá vật mà giao cho người mình đã mắc tội cùng.
Khi một người làm điều sai phạm đối với người khác, người ấy không chỉ có tội trước mặt người bị tổn hại mà còn trước mặt Đức Chúa Trời. Người phạm tội phải xưng tội mình và hoàn trả đầy đủ điều đã lấy, đồng thời thêm một phần năm giá trị của nó để bồi thường. Luật này nhấn mạnh tầm quan trọng của công lý và sự phục hồi trong cộng đồng, bảo đảm rằng một mối quan hệ được sửa lại cả trước mặt Đức Chúa Trời lẫn trước mặt người bị làm sai.
Dân-số Ký 5:8 (VIE1934)
8 Nếu người nầy không còn, và không bà-con nào để lãnh tang-vật đó lại, thì vật ấy sẽ về Đức Giê-hô-va, tức là về thầy tế-lễ, ngoại trừ con chiên đực về lễ chuộc tội mà thầy tế-lễ sẽ dùng đặng chuộc tội cho người mắc tội đó.
Nếu người bị thiệt hại đã qua đời và không còn bà con nào để nhận sự bồi thường, khoản bồi thường đó phải thuộc về Đức Giê-hô-va, tức giao cho thầy tế lễ. Sự sắp đặt này bảo đảm công lý vẫn được thực hiện và người phạm lỗi vẫn có thể sửa lại điều sai trước mặt Đức Chúa Trời, ngay cả khi không còn người nào trên đất để nhận khoản bồi thường.
Dân-số Ký 5:9-10 (VIE1934)
9 Phàm lễ-vật chi biệt riêng ra thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho thầy tế-lễ, đều sẽ thuộc về người.
10 Những vật biệt riêng ra thánh mà mỗi người dâng sẽ thuộc về người; vật chi mỗi người ban cho thầy tế-lễ, chắc sẽ thuộc về người vậy.
Những gì dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Chúa Trời và giao cho thầy tế lễ đều thuộc về thầy tế lễ theo sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Điều này cung cấp sự chu cấp cho các thầy tế lễ, những người dành đời mình cho sự phục vụ Đức Chúa Trời và dân sự. Đồng thời, nó khẳng định nguyên tắc rằng những vật đã được biệt riêng cho Đức Chúa Trời là những vật thánh và không còn được xem như vật thông thường.
Dân-số Ký 5:11-13 (VIE1934)
11 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
12 Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu một người đờn-bà lỗi đạo và phạm tội bất-chánh cùng chồng,
13 nếu có một người nam gian-dâm cùng nàng mà việc nhẹm khuất mắt chồng; nếu nàng bị ô-uế kín-nhiệm, không có chứng-cớ đối cùng nàng, và nàng không bị bắt tại trận;
Phần này giới thiệu nghi thức dành cho trường hợp một người vợ bị nghi ngờ phạm tội ngoại tình. Nếu người nữ bị nghi là không chung thủy nhưng không có nhân chứng hoặc bằng chứng rõ ràng, một thủ tục đặc biệt được đặt ra để xác định nàng có tội hay vô tội. Luật này bảo vệ cả hai phía, vì nó ngăn những lời cáo buộc sai lầm hoặc những nghi ngờ không có căn cứ làm tổn hại đến hôn nhân.
Dân-số Ký 5:14-15 (VIE1934)
14 nếu tánh ghen phát nơi người chồng ghen vợ mình, hoặc đã thật bị ô-uế, hoặc không có bị ô-uế,
15 thì người nầy phải dẫn vợ mình đến trước mặt thầy tế-lễ, và vì nàng đem theo một phần mười ê-pha bột mạch-nha dùng làm của tế-lễ. Người chớ nên chế dầu vào, và cũng chẳng nên bỏ nhũ-hương lên trên, vì là một của-lễ chay về sự ghen-tương, một của-lễ chay kỷ-niệm đặng nhắc tội gian-ác.
Nếu người chồng nổi lòng ghen và nghi ngờ vợ mình không chung thủy, ông phải đưa nàng đến trước mặt thầy tế lễ cùng với một của-lễ chay. Việc không thêm dầu và nhũ hương, vốn thường được dùng trong các của-lễ khác, nhấn mạnh tính nghiêm trọng và u buồn của hoàn cảnh này. Nghi thức bảo đảm rằng vấn đề được đưa ra trước mặt Đức Chúa Trời theo một thủ tục thánh và công bằng, thay vì được giải quyết chỉ bằng sự nghi ngờ của con người.
Dân-số Ký 5:16-18 (VIE1934)
16 Thầy tế-lễ sẽ biểu người nữ đến gần, đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
17 Kế đó thầy tế-lễ lấy nước thánh đổ vào chậu đất, hốt bụi ở trên đất của đền-tạm mà bỏ trong nước.
18 Đoạn, thầy tế-lễ phải biểu người nữ đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, lột trần đầu nàng, để của-lễ kỷ-niệm trên lòng bàn tay nàng, nghĩa là của-lễ chay về sự ghen-tương; và thầy tế-lễ phải có nước đắng giáng rủa-sả trong tay mình.
Thầy tế lễ đưa người nữ đến trước mặt Đức Giê-hô-va, tượng trưng cho việc vấn đề được đặt dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nước thánh được pha với bụi lấy từ đất của đền-tạm, trong khi đầu người nữ được để trần trước mặt Đức Chúa Trời. Của-lễ kỷ-niệm được đặt trên tay nàng, còn thầy tế lễ cầm nước đắng giáng rủa-sả. Toàn bộ nghi thức cho thấy vấn đề không còn nằm trong tay sự nghi ngờ của người chồng, nhưng được đặt trước sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Dân-số Ký 5:19-22 (VIE1934)
19 Thầy tế-lễ phải bắt người nữ thề, và nói cùng nàng rằng: Nếu chẳng một người nam nào nằm cùng ngươi, và nếu đương dưới quyền chồng ngươi không có lỗi đạo và không bị ô-uế, thì chẳng phải mắc một đều hại nào của nước đắng giáng rủa-sả nầy.
20 Còn nếu đương dưới quyền chồng, mà ngươi lỗi đạo; nếu ngươi bị ô-uế, và nếu một người nào khác hơn chồng đã nằm cùng ngươi —
21 bấy giờ thầy tế-lễ phải bắt người nữ lấy một lời thề trù-ẻo mà thề, và nói cùng nàng rằng: Cầu Đức Giê-hô-va khiến cho ngươi trở nên một mầm rủa-sả và trù-ẻo giữa vòng dân-sự ngươi, làm cho ngươi ốm lòi hông và phình bụng lên;
22 nước đắng giáng rủa-sả nầy khá chun vào ruột gan làm cho bụng ngươi phình lên và ốm lòi hông. Người nữ sẽ nói rằng: A-men, a-men!
Trong nghi thức này, người nữ phải thề trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu nàng vô tội, nàng sẽ không chịu sự tổn hại từ nước đắng giáng rủa-sả. Nhưng nếu nàng đã phạm tội ngoại tình, những hậu quả thể chất sẽ xảy ra như một dấu hiệu của sự phán xét thiêng liêng. Qua đó, sự thật được đặt dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời thay vì chỉ dựa trên sự cáo buộc của con người.
Dân-số Ký 5:23-24 (VIE1934)
23 Kế đó, thầy tế-lễ phải viết các lời trù-ẻo nầy trong một cuốn sách, rồi lấy nước đắng bôi đi.
24 Thầy tế-lễ sẽ biểu người nữ uống nước đắng giáng rủa-sả, nước đắng giáng rủa-sả sẽ vào trong mình nàng đặng làm cay-đắng cho nàng.
Thầy tế lễ viết những lời trù-ẻo liên quan đến lời thề rồi lấy nước đắng bôi đi. Sau đó, người nữ phải uống nước này. Nếu nàng phạm tội, nước ấy sẽ trở thành một phần của sự phán xét mà Đức Chúa Trời đã tuyên bố. Hành động trang nghiêm này nhằm đặt sự xác định tội lỗi hay sự vô tội hoàn toàn dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Dân-số Ký 5:25-26 (VIE1934)
25 Đoạn, thầy tế-lễ sẽ lấy khỏi tay người nữ của-lễ chay về sự ghen-tương, đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng lên trên bàn-thờ.
26 Rồi lấy một nắm của-lễ chay kỷ-niệm và xông trên bàn-thờ; kế biểu người nữ uống nước đắng.
Của-lễ chay được đưa ra trước mặt Đức Giê-hô-va như một phần của nghi thức, biểu thị tình trạng ghen-tương và sự nghi ngờ trong mối quan hệ. Sau khi dâng của-lễ, người nữ uống nước, tiếp tục đặt chính mình dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nghi thức không chỉ liên quan đến hành động thể chất mà còn nhằm đưa sự thật ra ánh sáng trước mặt Đức Giê-hô-va.
Dân-số Ký 5:27-28 (VIE1934)
27 Vả, khi nào thầy tế-lễ biểu người uống nước đắng rồi, nếu quả người có bị ô-uế và phạm tội bất-chánh cùng chồng mình, thì nước đắng giáng rủa-sả sẽ vào mình làm cay-đắng cho nàng, bụng nàng sẽ phình lên, hông nàng ốm lòi, và người nữ nầy sẽ làm một mầm rủa-sả giữa vòng dân-sự mình.
28 Còn nếu người nữ không bị ô-uế, vẫn thanh-sạch, thì nàng sẽ chẳng bị một đều hại nào, và sẽ sanh con.
Kết quả của nghi thức được xem là do sự phán xét của Đức Chúa Trời quyết định. Nếu người nữ có tội, nàng sẽ chịu những hậu quả của lời rủa-sả. Nhưng nếu nàng vô tội và thanh sạch, nàng sẽ không bị tổn hại và sẽ có thể sanh con, qua đó chứng tỏ sự trung thành của mình. Điều này bảo đảm rằng vấn đề được giải quyết dưới sự phán xét thiêng liêng thay vì chỉ dựa trên sự nghi ngờ hoặc cáo buộc của người chồng.
Dân-số Ký 5:29-31 (VIE1934)
29 Đó là luật-lệ về sự ghen-tương khi một người đờn-bà, ở dưới quyền chồng mình, lỗi đạo và bị ô-uế;
30 hoặc khi nào tánh ghen phát sanh nơi người chồng mà ghen vợ mình: người phải đem vợ đến trước mặt Đức Giê-hô-va, và thầy tế-lễ sẽ làm cho nàng hết thảy đều chi luật-lệ nầy truyền dạy.
31 Người chồng sẽ vô-tội, còn người đờn-bà đó sẽ mang lấy tội mình.
Chương kết thúc bằng cách tóm tắt luật về sự ghen-tương. Khi một người chồng nghi ngờ vợ mình không chung thủy, nghi thức này cung cấp một phương cách để đem vấn đề đến trước mặt Đức Giê-hô-va để Ngài phán xét. Luật này nhằm giải quyết sự tranh chấp trong gia đình bằng cách đặt sự thật trước mặt Đức Chúa Trời, để tội lỗi được bày tỏ và người vô tội được minh oan.

