
Dân Số Ký 7
Dân Số Ký 7 trình bày việc khánh thành Đền-tạm sau khi đã được hoàn tất và những lễ vật của các quan trưởng Y-sơ-ra-ên dành cho sự phục vụ nơi đó. Mỗi quan trưởng của các chi phái đem dâng lễ vật, tượng trưng cho sự cam kết của họ với Đức Chúa Trời và với nơi Ngài ngự giữa dân sự. Chương này cũng cho thấy sự cẩn thận trong trật tự và nghi lễ thờ phượng, khi mỗi chi phái đều tham dự vào tiến trình khánh thành theo thứ tự Đức Chúa Trời đã truyền.
Dân Số Ký 7:1 (VIE1934)
1 Khi Môi-se đã dựng xong đền tạm, và đã xức dầu cùng biệt riêng ra thánh hết thảy đồ đạc của đền tạm, xức dầu và biệt riêng ra thánh bàn thờ và hết thảy đồ đạc của bàn thờ rồi,
Sau khi Đền-tạm được dựng hoàn tất, Môi-se xức dầu và biệt riêng nó cùng tất cả đồ đạc, bàn thờ và các đồ phụ tùng ra thánh cho Đức Chúa Trời. Hành động xức dầu biểu thị việc tất cả những điều này được biệt riêng cho mục đích thánh. Đền-tạm giờ đây đã sẵn sàng trở thành nơi thánh để Đức Chúa Trời gặp gỡ dân Ngài, và bàn thờ cùng các đồ dùng cũng được chuẩn bị cho hệ thống dâng tế lễ sẽ được thực hiện.
Dân Số Ký 7:2-3 (VIE1934)
2 thì các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên, tức là các quan trưởng về những chi phái mà đã cai trị cuộc tu bộ dân, đều đem dâng lễ vật của mình.
3 Vậy, các quan trưởng dẫn lễ vật mình đến trước mặt Đức Giê-hô-va: Sáu xe cộ, hình như cái kiệu, và mười hai con bò đực, nghĩa là mỗi hai quan trưởng đồng dâng một xe cộ, và mỗi một người dâng một con bò đực; họ dâng lễ vật đó trước đền tạm.
Mười hai quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên, đại diện cho dân sự, đem những lễ vật để hỗ trợ công việc nơi Đền-tạm. Họ đóng góp sáu xe cộ và mười hai con bò đực, là những phương tiện cần thiết để vận chuyển những vật nặng của Đền-tạm trong cuộc hành trình. Lễ vật chung này cho thấy trách nhiệm của toàn dân trong việc duy trì sự thờ phượng Đức Chúa Trời, đồng thời cung cấp những phương tiện thực tế để người Lê-vi thực hiện chức vụ của mình.
Dân Số Ký 7:4-5 (VIE1934)
4 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy thâu nhận các lễ vật của những người nầy, để dùng vào công việc hội mạc;
5 tức là cho mọi người tùy theo chức phận mình.
Đức Chúa Trời truyền Môi-se tiếp nhận các lễ vật của những quan trưởng và phân phát cho người Lê-vi. Mỗi gia tộc trong chi phái Lê-vi có những trách nhiệm riêng trong việc chăm sóc và vận chuyển Đền-tạm. Bằng cách phân phối xe cộ và bò đực theo từng chức phận, Đức Chúa Trời bảo đảm rằng người Lê-vi có đủ phương tiện cần thiết để thực hiện công việc của mình cách hiệu quả. Điều này cho thấy sự chu cấp của Đức Chúa Trời và sự tham dự của dân sự vào công việc thờ phượng.
Dân Số Ký 7:6-8 (VIE1934)
6 Vậy, Môi-se bèn nhận lấy các xe-cộ và những bò đực, giao cho người Lê-vi.
7 Người giao cho con cháu Ghẹt-sôn hai xe-cộ và bốn con bò đực, tùy theo chức phận của họ.
8 Người giao cho con cháu Mê-ra-ri bốn xe-cộ và tám con bò đực, tùy theo chức phận của họ, có Y-tha-ma, con trai thầy tế-lễ A-rôn, làm quản lý.
Môi-se làm theo chỉ dẫn của Đức Chúa Trời và phân phát xe cộ cùng bò đực cho các gia tộc Lê-vi. Con cháu Ghẹt-sôn, chịu trách nhiệm vận chuyển các tấm phủ và màn của Đền-tạm, nhận hai xe cộ và bốn con bò đực. Con cháu Mê-ra-ri, chịu trách nhiệm vận chuyển những khung và trụ nặng hơn, nhận bốn xe cộ và tám con bò đực. Sự phân chia cẩn thận này bảo đảm mỗi gia tộc có đủ phương tiện phù hợp với trọng lượng và tính chất của những vật họ phải vận chuyển.
Dân Số Ký 7:9 (VIE1934)
9 Nhưng người không có giao chi cho con cháu Kê-hát, vì họ mắc phần công việc về những vật thánh, và gánh vác những vật đó trên vai mình.
Con cháu Kê-hát không nhận xe cộ hay bò đực vì chức phận của họ là mang những vật thánh của Đền-tạm trên vai. Điều này cho thấy tính thánh của công việc họ được giao, vì những vật như hòm giao ước và các vật thánh khác phải được xử lý với sự kính sợ và cẩn thận đặc biệt, chứ không được đặt lên xe như những vật khác.
Dân Số Ký 7:10-11 (VIE1934)
10 Trong ngày bàn thờ được xức dầu, các quan trưởng dâng lễ vật mình trước bàn thờ về cuộc khánh thành nó.
11 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Các quan trưởng phải đem lễ vật mình về cuộc khánh thành bàn thờ, người nầy thì ngày nay, người kia thì ngày kia.
Sau khi bàn thờ được xức dầu, mỗi một trong mười hai quan trưởng đem lễ vật của mình dâng lên, mỗi ngày một người. Cách thức này bảo đảm mỗi chi phái đều được ghi nhận cách riêng biệt và lễ khánh thành được thực hiện trong mười hai ngày. Điều này biểu thị sự hiệp một của cả dân Y-sơ-ra-ên và sự cẩn thận trong việc làm theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Những lễ vật cũng bày tỏ sự tận hiến đối với bàn thờ, nơi các của-lễ sẽ được dâng để chuộc tội và bày tỏ lòng thờ phượng Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 7:12-17 (VIE1934)
12 Người dâng lễ vật mình ngày đầu, là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp, thuộc về chi phái Giu-đa.
13 Lễ vật người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
14 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
15 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
16 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
17 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp.
Na-ha-sôn, thuộc chi phái Giu-đa, là người đầu tiên dâng lễ vật khánh thành. Lễ vật của ông gồm những vật bằng bạc và vàng chứa bột và thuốc thơm, cùng các con sinh dùng cho nhiều loại của-lễ khác nhau. Của-lễ thiêu tượng trưng cho sự tận hiến, của-lễ chuộc tội cho sự chuộc tội, và của-lễ thù-ân cho sự tương giao. Lễ vật của Na-ha-sôn không chỉ phong phú mà còn trở thành khuôn mẫu cho các quan trưởng khác.
Dân Số Ký 7:18-23 (VIE1934)
18 Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a, quan trưởng Y-sa-ca, dâng lễ vật mình.
19 Người dâng một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
20 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
21 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
22 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
23 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Na-tha-na-ên, con trai Xu-a.
Vào ngày thứ hai, Na-tha-na-ên của Y-sa-ca dâng cùng loại lễ vật như Na-ha-sôn. Sự giống nhau hoàn toàn giữa các lễ vật của các quan trưởng bảo đảm sự bình đẳng trong việc tham dự của các chi phái. Mỗi chi phái đều bày tỏ sự cam kết với Đức Chúa Trời, cùng nhu cầu liên tục về sự chuộc tội, sự tận hiến và mối tương giao với Ngài.
Mẫu thức này tiếp tục trong những ngày kế tiếp, khi mỗi quan trưởng của các chi phái lần lượt đem một lễ vật giống nhau vào ngày được chỉ định. Sự lặp lại này tượng trưng cho sự hiệp một và địa vị bình đẳng của các chi phái trước mặt Đức Chúa Trời. Mỗi lễ vật phản ánh tầm quan trọng của sự hy sinh, sự biệt riêng và sự tham dự chung trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 7:24-29 (VIE1934)
24 Ngày thứ ba, đến quan trưởng của con cháu Sa-bu-lôn, là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn.
25 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
26 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
27 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
28 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
29 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Ê-li-áp, con trai Hê-lôn.
Vào ngày thứ ba, Ê-li-áp thuộc Sa-bu-lôn dâng cùng lễ vật như những quan trưởng trước đó. Lễ vật của ông theo đúng khuôn mẫu đã được thiết lập, nhấn mạnh sự nhất quán trong sự thờ phượng và sự dâng hiến, bảo đảm rằng mọi chi phái đều được đại diện cách bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Những lễ vật gồm bột, thuốc thơm và các con sinh cho những mục đích khác nhau, bao gồm của-lễ thù-ân, chuộc tội và thiêu.
Dân Số Ký 7:30-35 (VIE1934)
30 Ngày thứ tư, đến quan trưởng của con cháu Ru-bên, là Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
31 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
32 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
33 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
34 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
35 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
Ê-lít-su, đại diện cho chi phái Ru-bên, dâng cùng một loại lễ vật vào ngày thứ tư. Khi mỗi quan trưởng lần lượt dâng lễ vật, sự lặp lại càng nhấn mạnh sự hiệp một của các chi phái trong sự thờ phượng và sự nhìn nhận sự chu cấp của Đức Chúa Trời. Mỗi chi phái đều dâng ngang nhau, cho thấy không có chi phái nào được xem là cao hơn chi phái khác trong sự tận hiến cho Đức Chúa Trời.
Dân Số Ký 7:36-41 (VIE1934)
36 Ngày thứ năm, đến quan trưởng của con cháu Si-mê-ôn, là Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
37 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
38 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
39 Một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
40 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
41 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
Sê-lu-mi-ên của Si-mê-ôn tiếp tục theo cùng khuôn mẫu lễ vật. Sự đồng nhất trong những gì mỗi chi phái dâng lên cho thấy không chỉ sự hiệp một mà còn lòng kính trọng đối với mạng lệnh của Đức Chúa Trời, bảo đảm rằng mỗi chi phái đều dự phần ngang nhau vào việc khánh thành bàn thờ và Đền-tạm.
Dân Số Ký 7:42-47 (VIE1934)
42 Ngày thứ sáu, đến quan trưởng của con cháu Gát, là Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên.
43 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
44 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
45 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
46 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
47 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên.
Vào ngày thứ sáu, Ê-li-a-sáp thuộc Gát dâng lễ vật phù hợp với các quan trưởng trước. Việc mỗi ngày đều có cùng loại lễ vật nhấn mạnh trách nhiệm chung và đức tin chung của toàn dân Y-sơ-ra-ên trong việc hỗ trợ công việc Đền-tạm. Mỗi chi phái dù khác nhau vẫn góp phần ngang nhau vào sự thờ phượng Đức Chúa Trời, phản ánh sự cam kết chung trong việc duy trì sự hiện diện của Ngài giữa dân sự.
Dân Số Ký 7:48-53 (VIE1934)
48 Ngày thứ bảy, đến quan trưởng của con cháu Ép-ra-im, là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
49 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
50 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
51 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
52 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
53 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
Ê-li-sa-ma của Ép-ra-im dâng lễ vật theo tiêu chuẩn vào ngày thứ bảy. Mỗi chi phái đem lễ vật giống nhau về thành phần và giá trị, củng cố sự tận hiến chung đối với công việc của Đức Chúa Trời. Lễ vật của Ép-ra-im cũng bao gồm những của-lễ chuộc tội, thù-ân và thiêu, cho thấy sự thờ phượng bao gồm sự chuộc tội, sự hòa thuận với Đức Chúa Trời và sự tận hiến liên tục.
Dân Số Ký 7:54-59 (VIE1934)
54 Ngày thứ tám, đến quan trưởng của con cháu Ma-na-se, là Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
55 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
56 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
57 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
58 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
59 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
Vào ngày thứ tám, Ga-ma-li-ên của Ma-na-se tiếp tục cùng khuôn mẫu dâng lễ. Tính đồng nhất của những lễ vật có ý nghĩa vì cho thấy không có sự phân biệt thứ bậc giữa các chi phái; mỗi chi phái đều góp phần vào việc thiết lập và duy trì Đền-tạm. Những lễ vật phản ánh mục tiêu chung là tôn kính sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa dân sự qua sự hy sinh và tận hiến.
Dân Số Ký 7:60-65 (VIE1934)
60 Ngày thứ chín, đến quan trưởng của con cháu Bên-gia-min, là A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
61 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
62 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
63 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
64 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
65 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
A-bi-đan, quan trưởng của Bên-gia-min, dâng lễ vật vào ngày thứ chín. Như trước, lễ vật được quy định giống nhau, phản ánh sự hiệp một của các chi phái trong sự thờ phượng và phục vụ Đức Chúa Trời. Mỗi lễ vật mang nhiều ý nghĩa, từ sự chuộc tội đến sự hòa thuận với Đức Chúa Trời, bày tỏ sự tận hiến của họ đối với mối quan hệ với Ngài qua hệ thống tế lễ.
Dân Số Ký 7:66-71 (VIE1934)
66 Ngày thứ mười, đến quan trưởng của con cháu Đan, là A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
67 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
68 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
69 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
70 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
71 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
A-hi-ê-xe của Đan dâng lễ vật vào ngày thứ mười theo cùng một khuôn mẫu. Việc các lễ vật được dâng lần lượt từng ngày nhấn mạnh cả sự tận hiến riêng của từng chi phái lẫn sự hiệp một của toàn dân trong việc phục vụ Đức Chúa Trời. Mỗi chi phái đều góp phần ngang nhau, cho thấy trách nhiệm duy trì Đền-tạm và chức vụ nơi đó thuộc về toàn thể Y-sơ-ra-ên.
Dân Số Ký 7:72-77 (VIE1934)
72 Ngày thứ mười một, đến quan trưởng của con cháu A-se, là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran.
73 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
74 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ đầy thuốc thơm;
75 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
76 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
77 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran.
Pha-ghi-ên của A-se dâng lễ vật vào ngày thứ mười một. Sự nhất quán trong các lễ vật nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân theo trật tự thờ phượng mà Đức Chúa Trời đã quy định. Mỗi chi phái, bất kể quy mô hay vị trí, đều có trách nhiệm ngang nhau trong việc hỗ trợ chức vụ nơi Đền-tạm và đời sống thuộc linh của dân tộc.
Dân Số Ký 7:78-83 (VIE1934)
78 Ngày thứ mười hai, đến quan trưởng của con cháu Nép-ta-li, là A-hi-ra, con trai Ê-nan.
79 Lễ vật của người là một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
80 một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
81 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
82 một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
83 và về của lễ thù-ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con giáp năm.
Đó là lễ vật của A-hi-ra, con trai Ê-nan.
A-hi-ra của Nép-ta-li hoàn tất mười hai ngày dâng lễ thay cho chi phái mình. Mỗi chi phái đều góp phần theo cùng một cách, phản ánh sự cam kết chung đối với sự thờ phượng và phục vụ Đức Chúa Trời. Sự vâng lời trong việc dâng đúng các lễ vật được quy định bày tỏ lòng kính trọng đối với những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời và ước muốn hiệp một trong sự tận hiến.
Dân Số Ký 7:84-88 (VIE1934)
84 Ấy là những lễ vật của các quan trưởng dân Y-sơ-ra-ên dâng về cuộc khánh thành bàn thờ, khi bàn thờ được xức dầu: Mười hai dĩa bạc, mười hai chậu bạc, mười hai chén vàng;
85 mỗi cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, và mỗi cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ. Tổng cộng số bạc của các dĩa và chậu là hai ngàn bốn trăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
86 Mười hai cái chén vàng đầy thuốc thơm, mỗi cái mười siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; tổng cộng số vàng của chén nặng được một trăm hai mươi siếc-lơ.
87 Tổng cộng số bò đực về của lễ thiêu là mười hai con, với mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con giáp năm, cùng những của lễ chay cặp theo, và mười hai con dê đực dùng về của lễ chuộc tội.
88 Tổng cộng số bò đực về của lễ thù-ân là hai mươi bốn con, với sáu mươi con chiên đực, sáu mươi con dê đực, và sáu mươi con chiên con giáp năm. Ấy là lễ vật dâng về cuộc khánh thành bàn thờ, sau khi bàn thờ được xức dầu rồi.
Phần này tổng kết tất cả các lễ vật mà mười hai chi phái đem dâng cho việc khánh thành bàn thờ. Quy mô lớn của các lễ vật phản ánh mức độ tận hiến của dân sự. Những con số mười hai—mười hai chi phái, mười hai con bò đực và mười hai dĩa bạc—nhấn mạnh tính biểu tượng của sự hiệp một trong dân Y-sơ-ra-ên. Sự đóng góp chung của mọi chi phái bảo đảm rằng Đền-tạm và bàn thờ được khánh thành với lòng tôn kính thích đáng và có đầy đủ sự chu cấp cho sự thờ phượng tiếp theo.
Dân Số Ký 7:89 (VIE1934)
89 Khi Môi-se vào hội mạc đặng hầu chuyện cùng Đức Giê-hô-va, thì người nghe tiếng nói cùng mình từ trên nắp thi ân để trên hòm bảng chứng ở giữa hai chê-ru-bim; người hầu chuyện cùng Đức Giê-hô-va vậy.
Sau khi Đền-tạm được khánh thành, Môi-se bước vào hội-mạc và nghe tiếng của Đức Chúa Trời phán với mình từ trên nắp thi ân, ở giữa hai chê-ru-bim. Đây là đỉnh điểm của việc biệt riêng Đền-tạm ra thánh: sự hiện diện của Đức Chúa Trời không chỉ được biểu thị qua các nghi lễ mà còn được thể hiện bằng việc Ngài trực tiếp phán với Môi-se. Nắp thi ân trên hòm bảng chứng trở thành nơi đặc biệt Đức Chúa Trời giao tiếp với dân Ngài qua Môi-se, cho thấy Ngài đã ngự giữa họ và sẵn sàng hướng dẫn họ.

