
Giê-rê-mi 33
Chương 33 của sách Giê-rê-mi nói về sự khôi phục và niềm hy vọng. Đức Chúa Trời hứa sẽ giải cứu Giê-ru-sa-lem và Giu-đa khỏi cảnh phu tù, chữa lành và ban bình an cho dân sự. Chương này nhấn mạnh giao ước đời đời của Đức Chúa Trời với Đa-vít và lời bảo đảm rằng Ngài sẽ thực hiện những lời hứa của Ngài với Y-sơ-ra-ên. Chương này bày tỏ những phước lành sẽ đến với dân sự bất chấp những đau khổ hiện tại, khẳng định lòng thành tín và sự thương xót của Đức Chúa Trời.
Giê-rê-mi 33:1-10 (VIE1934)
1. Trong khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng người lần thứ hai rằng:
2. Đức Giê-hô-va là Đấng làm nên sự nầy, Đức Giê-hô-va là Đấng tạo và lập sự nầy, danh Ngài là Giê-hô-va, phán như vầy:
3. Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.
4. Về nhà cửa của thành nầy và cung điện của vua Giu-đa, mà người ta đã phá đi để ngự lại đồn lũy và gươm dao của giặc, thì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy:
5. Khi đi đánh cùng người Canh-đê, nhà cửa nầy sẽ đầy dẫy xác chết của những người mà ta đã giết trong cơn giận và thạnh nộ của ta; ấy là vì cớ dân nầy hung ác mà ta đã lánh mặt khỏi thành đó.
6. Nầy, ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật.
7. Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù Y-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước.
8. Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta; ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta, và đã phạm pháp nghịch cùng ta.
9. Thành nầy sẽ có danh vui vẻ, ngợi khen, vinh hiển cho ta ở trước mặt mọi dân thiên hạ; họ sẽ nghe mọi sự lành ta làm cho chúng nó, thì đều sợ hãi và run rẩy về mọi phước lành cùng mọi sự bình an mà ta sẽ ban cho chúng nó.
10. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong chốn nầy là nơi các ngươi nói: Ấy là một nơi hoang vu; không còn có loài người, cũng không có loài thú; trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem, tức những nơi đã bị hoang vu, không người, không dân ở, cũng không loài thú,
Đức Chúa Trời kêu gọi Giê-rê-mi chứng kiến những lời hứa của Ngài bất chấp cảnh tàn phá xung quanh. Khi đang ở trong tù, Giê-rê-mi nhận được một thông điệp đầy hy vọng, vì Đức Chúa Trời bảo ông hãy kêu cầu Ngài để được hiểu biết. Giê-ru-sa-lem, nơi từng đổ nát và đầy những thi thể của người chết trong chiến tranh, sẽ được phục hồi sức khỏe và chữa lành. Đức Chúa Trời hứa tha thứ tội lỗi cho dân sự, đưa cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trở về từ cảnh phu tù. Sự khôi phục này sẽ khiến các dân tộc xung quanh kinh ngạc. Họ sẽ nhận biết ân huệ của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài và sẽ chứng kiến Giê-ru-sa-lem một lần nữa trở thành nơi vinh dự và vui mừng.
Giê-rê-mi 33:11 (VIE1934)
11. thì người ta sẽ còn nghe tiếng kêu vui và reo mừng, tiếng của rể mới và dâu mới, tiếng của những kẻ nói rằng: Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vạn quân, vì Đức Giê-hô-va là nhân lành, sự nhân từ của Ngài còn đời đời! và của những kẻ đến dâng của lễ tạ ơn trong nhà Đức Giê-hô-va. Vì ta sẽ khiến những phu tù của đất nầy trở về, làm cho như trước, Đức Giê-hô-va đã phán.
Trong thời kỳ khôi phục sắp đến, Giê-ru-sa-lem sẽ tràn ngập sự vui mừng và những lời chúc tụng, thay thế cho cảnh buồn đau trước đó. Dân sự sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời vì lòng nhân từ đời đời của Ngài, đồng thời dâng những của lễ tạ ơn trong nhà Ngài. Sự thay đổi từ cảnh hoang tàn sang niềm vui này làm nổi bật quyền năng cứu chuộc của Đức Chúa Trời và quyết tâm của Ngài trong việc khôi phục dân sự về tình trạng phước hạnh ban đầu.
Giê-rê-mi 33:12-13 (VIE1934)
12. Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong chỗ nầy là chỗ bị hoang vu, không có loài người nữa, cũng không có loài thú, và trong mọi thành nó, lại sẽ có những gia cư của kẻ chăn chiên khiến bầy mình nằm nghỉ.
13. Trong những thành miền núi và những thành đồng bằng, trong những thành phương nam, trong đất Bên-gia-min, trong các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem và trong các thành Giu-đa, những bầy sẽ lại qua dưới tay kẻ đếm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Chúa Trời hứa rằng mọi vùng của Giu-đa, hiện đang hoang vu và trống vắng, sẽ trở thành những nơi bình an và thịnh vượng. Những người chăn chiên sẽ lại chăm sóc bầy chiên của mình một cách an toàn, tượng trưng cho sự sung túc và an ninh. Lời tiên tri này đưa ra một hình ảnh sống động về vùng đất được đổi mới, trong đó mọi khu vực đều được khôi phục, đem lại hy vọng cho cả dân sự lẫn đất đai.
Giê-rê-mi 33:14-16 (VIE1934)
14. Đức Giê-hô-va lại phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm ứng nghiệm lời tốt lành mà ta đã phán về nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.
15. Trong những ngày ấy và kỳ đó ta sẽ khiến nẩy lên một Nhánh của sự công bình cho Đa-vít; Đấng ấy sẽ làm ra sự công bình chánh trực trong đất nầy.
16. Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được cứu; Giê-ru-sa-lem sẽ ở an ổn; danh nó sẽ được xưng rằng: Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta.
Đức Chúa Trời bảo đảm với dân sự rằng những lời hứa của Ngài dành cho Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sẽ được thực hiện. Ngài nói về “Nhánh của sự công bình”, một lời tiên tri về Đấng Mê-si sắp đến, là hậu tự của Đa-vít, Đấng sẽ đem lại sự công chính và công bình. Trong thời kỳ bình an ấy, cả Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ được an toàn, và Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là “Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta”, phản ánh sự hiện diện và bình an của Đức Chúa Trời trên thành.
Giê-rê-mi 33:17-18 (VIE1934)
17. Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà Y-sơ-ra-ên;
18. các thầy tế lễ, tức là người Lê-vi, sẽ cũng không thiếu một người trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, đốt của lễ chay, và dâng của lễ hằng ngày.
Đức Chúa Trời tái khẳng định giao ước của Ngài với Đa-vít, hứa rằng dòng dõi ông sẽ tiếp tục. Tương tự, các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò trong việc thờ phượng và dâng tế lễ. Sự tiếp nối này phản ánh lòng thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài, bởi dòng dõi Đa-vít và chức tế lễ Lê-vi tượng trưng cho sự ổn định và mối liên hệ liên tục với Đức Chúa Trời.
Giê-rê-mi 33:19-22 (VIE1934)
19. Có lời Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi rằng:
20. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi có thể phá giao ước ban ngày của ta và giao ước ban đêm của ta, đến nỗi chẳng có ngày và đêm trong kỳ nó nữa,
21. thì mới có thể phá giao ước của ta với Đa-vít, tôi tớ ta, mà người sẽ không có con cháu trị vì trên ngai mình nữa, và phá giao ước ta với các thầy tế lễ, tức người Lê-vi, kẻ hầu việc ta.
22. Người ta không thể đếm được cơ binh trên trời, và lường cát dưới biển: ta cũng sẽ ban cho Đa-vít, tôi tớ ta, và cho người Lê-vi hầu việc ta, được dòng dõi đông nhiều như vậy.
Đức Chúa Trời dùng chu kỳ ngày và đêm không thể bị phá vỡ để minh họa tính bền vững của giao ước Ngài với Đa-vít và người Lê-vi. Cũng như ngày và đêm tiếp tục diễn ra không sai lệch, những lời hứa của Ngài về dòng dõi Đa-vít và chức tế lễ cũng sẽ được duy trì. Con cháu của Đa-vít và người Lê-vi sẽ đông vô số như các ngôi sao trên trời, cho thấy Đức Chúa Trời luôn thành tín với dân sự và những lời hứa đời đời của Ngài.
Giê-rê-mi 33:23-26 (VIE1934)
23. Có lời của Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi như vầy:
24. Ngươi há chẳng xét dân nầy nói hay sao? Chúng nó nói: Hai họ mà Đức Giê-hô-va đã kén chọn, thì Ngài bỏ rồi. Như vậy, chúng nó khinh dể dân ta, coi dân nầy chẳng thành một nước nữa!
25. Nhưng, nầy là lời Đức Giê-hô-va phán: Nếu giao ước của ta về ngày và đêm chẳng đứng, và nếu ta đã chẳng định luật phép cho trời và đất,
26. thì cũng vậy, ta sẽ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và dòng dõi của Đa-vít, tôi tớ ta, đến nỗi ta sẽ chẳng lấy trong vòng dòng dõi người những kẻ cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Gia-cốp. Vì ta sẽ đem những phu tù trở về, và thương xót chúng nó.
Đức Chúa Trời đáp lại những nghi ngờ của dân sự, là những người cảm thấy mình đã bị bỏ rơi, bằng cách bảo đảm rằng Ngài không từ bỏ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giao ước của Ngài đáng tin cậy như trật tự của công cuộc sáng tạo. Lời hứa của Đức Chúa Trời với Gia-cốp, Đa-vít và dòng dõi của họ không thể bị phá vỡ. Ngài trấn an dân sự rằng Ngài sẽ đưa họ trở về từ cảnh phu tù, bày tỏ lòng thương xót và khôi phục họ thành dân tộc được Ngài lựa chọn.

