
Giô-suê 15
Giô-suê 15 trình bày lãnh thổ được chia cho chi phái Giu-đa, là chi phái lớn và nổi bật nhất của Y-sơ-ra-ên. Chương này mô tả chi tiết ranh giới sản nghiệp của Giu-đa, bắt đầu từ vùng cực nam gần Ê-đôm và kéo dài về phía tây đến Đại Hải (Địa Trung Hải). Chương cũng liệt kê nhiều thành quan trọng nằm trong lãnh thổ Giu-đa. Đặc biệt, Ca-lép nhận Hếp-rôn làm sản nghiệp và thành công đuổi dân A-na-kim ra khỏi đó. Chương này nhấn mạnh sự rộng lớn và tầm quan trọng của lãnh thổ Giu-đa cả về địa lý lẫn lịch sử.
Giô-suê 15:1-5 (VIE1934)
1 Phần đất của chi phái con cháu Giu-đa, theo các họ hàng mình, bắt thăm được là từ miền nam, giáp đồng vắng Xin và biên giới Ê-đôm.
2 Vậy, biên giới phía nam chạy từ đầu Biển Muối, từ vịnh quay về phía nam,
3 đi qua phía nam dốc Ạc-ráp-bim, qua Xin, lên phía nam Ca-đe-Ba-nê-a, qua Hết-rôn, lên A-đa, rồi vòng đến Ca-rơ-ca,
4 từ đó đi qua Át-môn, đến suối Ê-díp-tô, và chạy ra biển. Đó là biên giới phía nam của các ngươi.
5 Biên giới phía đông là Biển Muối cho đến cửa sông Giô-đanh. Biên giới phía bắc bắt đầu từ vịnh biển, nơi cửa sông Giô-đanh.
Những câu này mô tả ranh giới phía nam và phía đông của lãnh thổ được chia cho chi phái Giu-đa. Ranh giới phía nam bắt đầu từ Biển Muối (Biển Chết) và kéo dài qua các vùng hoang mạc, bao gồm những địa danh quan trọng như Ca-đe-Ba-nê-a và suối Ê-díp-tô. Ranh giới phía đông là Biển Muối, kéo dài đến sông Giô-đanh. Sự mô tả địa lý chi tiết này nhấn mạnh lãnh thổ rộng lớn và có vị trí chiến lược của Giu-đa, bao gồm cả những vùng sa mạc và những khu vực gần các nguồn nước quan trọng.
Giô-suê 15:6-8 (VIE1934)
6 Biên giới lên đến Bết-Hốt-la, đi qua phía bắc Bết-A-ra-ba, rồi lên đến hòn đá Bô-han, con trai Ru-bên.
7 Biên giới lên về phía Đê-bia, từ trũng A-cô, rồi xây về phía bắc đến Ghinh-ganh, đối ngang dốc A-đu-mim, về phía nam trũng; lại đi qua nước Ên-Sê-mết, và ra tại Ên-Rô-ghên.
8 Biên giới lên theo trũng con trai Hi-nôm, về phía nam sườn thành Giê-bu-sít, tức là Giê-ru-sa-lem; rồi biên giới lên đỉnh núi ở trước trũng Hi-nôm, về phía tây, là nơi cuối cùng của trũng Rê-pha-im về phía bắc.
Ranh giới phía bắc của lãnh thổ Giu-đa đi qua nhiều địa điểm, gồm Bết-Hốt-la, Bết-A-ra-ba và Ghinh-ganh, trước khi đến trũng con trai Hi-nôm, gần Giê-ru-sa-lem. Khu vực này có ý nghĩa lịch sử và thuộc linh quan trọng, vì bao gồm Giê-ru-sa-lem, nơi sau này trở thành trung tâm thờ phượng của Y-sơ-ra-ên. Mô tả về những ranh giới này cho thấy tầm quan trọng của vùng đất này cả về địa lý lẫn lịch sử đối với sự phát triển sau này của quốc gia Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 15:9-11 (VIE1934)
9 Biên giới từ đỉnh núi chạy đến suối nước Nép-thô-a, rồi đến các thành của núi Ép-rôn; biên giới vòng đến Ba-a-la, tức Ki-ri-át-Giê-a-rim.
10 Từ Ba-a-la, biên giới vòng về phía tây đến núi Sê-i-rơ, đi qua sườn phía bắc núi Giê-a-rim, tức là Kê-sa-lôn, xuống Bết-Sê-mết, và qua Thim-na.
11 Biên giới chạy đến sườn Éc-rôn về phía bắc, vòng đến Si-kê-rôn, đi qua núi Ba-a-la, đến Gia-bơ-nê-ên, và chạy ra biển.
Những câu này tiếp tục mô tả ranh giới phía bắc của Giu-đa, từ đỉnh núi đến nhiều thành và địa danh khác nhau. Ranh giới đi qua những nơi như Ba-a-la (Ki-ri-át-Giê-a-rim), Bết-Sê-mết và Éc-rôn. Nhiều nơi trong số này sau đó đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, đặc biệt trong những cuộc giao tranh với người Phi-li-tin. Lãnh thổ bao gồm cả địa hình gồ ghề và những vùng đất màu mỡ, thích hợp cho việc phòng thủ cũng như canh tác.
Giô-suê 15:12 (VIE1934)
12 Biên giới phía tây là bờ Đại Hải. Đó là biên giới của con cháu Giu-đa, theo các họ hàng mình, ở bốn phía.
Ranh giới phía tây của lãnh thổ Giu-đa khá rõ ràng: đó là bờ Đại Hải, tức Địa Trung Hải. Ranh giới này đem lại cho Giu-đa lối tiếp cận biển, vốn có thể rất quan trọng đối với việc giao thương và tiếp xúc với các dân tộc khác. Sự rộng lớn của lãnh thổ Giu-đa cho thấy tầm quan trọng mà chi phái này sẽ có trong tương lai đối với dân Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 15:13-14 (VIE1934)
13 Giô-suê theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va, ban cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, một phần giữa con cháu Giu-đa, tức là Ki-ri-át-A-ra-ba, nghĩa là Hếp-rôn; A-ra-ba là cha của A-nác.
14 Ca-lép đuổi ba con trai A-nác ra khỏi đó, tức là Sê-sai, A-hi-man, và Tanh-mai, là con cháu A-nác.
Những câu này tập trung vào Ca-lép, một nhân vật quan trọng đã được hứa ban sản nghiệp vì lòng trung tín của ông. Ông được ban Hếp-rôn, một thành quan trọng, và can đảm đuổi dân A-na-kim, vốn nổi tiếng là những người khổng lồ, ra khỏi đó. Đức tin và sự quyết tâm của Ca-lép được bày tỏ rõ ràng khi ông nhận lấy sản nghiệp và hoàn thành lời hứa mà Đức Chúa Trời đã dành cho mình.
Giô-suê 15:15-17 (VIE1934)
15 Từ đó người đi lên đánh dân Đê-bia; tên trước kia của Đê-bia là Ki-ri-át-Sê-phe.
16 Ca-lép nói rằng: Ai đánh Ki-ri-át-Sê-phe và chiếm được nó, ta sẽ gả Ạc-sa, con gái ta, cho người ấy làm vợ.
17 Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, em Ca-lép, chiếm được thành; Ca-lép bèn gả Ạc-sa, con gái mình, cho người.
Ca-lép đưa con gái mình là Ạc-sa làm phần thưởng cho người chiếm được thành Đê-bia. Ốt-ni-ên, cháu của Ca-lép, đã chiếm được thành và được gả Ạc-sa làm vợ. Đoạn này làm nổi bật mối quan hệ gia đình và vai trò của phần thưởng trong việc khích lệ những chiến công quân sự. Sau này, Ốt-ni-ên trở thành một quan xét của Y-sơ-ra-ên, đánh dấu sự khởi đầu trong vai trò lãnh đạo của ông.
Giô-suê 15:18-19 (VIE1934)
18 Khi nàng đến cùng Ốt-ni-ên, nàng xui người xin cha mình một đám ruộng. Nàng xuống khỏi lừa, và Ca-lép hỏi rằng: Con muốn chi?
19 Nàng thưa rằng: Xin cha ban phước cho con; vì cha đã cho con đất phương nam, xin cũng cho con những suối nước. Ca-lép bèn cho nàng các suối trên và các suối dưới.
Ạc-sa, con gái Ca-lép, bày tỏ sự khôn ngoan và chủ động khi xin thêm những nguồn tài nguyên để hỗ trợ vùng đất mình đã nhận. Nước rất quan trọng đối với năng suất của đất đai, và Ca-lép rộng rãi ban cho nàng cả các suối trên lẫn các suối dưới. Cuộc trao đổi này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý nguồn tài nguyên cũng như các mối quan hệ gia đình trong việc nhận lãnh và sử dụng sản nghiệp.
Giô-suê 15:20 (VIE1934)
20 Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu Giu-đa, tùy theo các họ hàng mình.
Câu này là phần tóm lược, xác nhận rằng vùng đất được mô tả trong các câu trước là sản nghiệp của chi phái Giu-đa. Những ranh giới được mô tả chi tiết nhấn mạnh tầm quan trọng của vùng đất này cả về diện tích lẫn vị trí chiến lược đối với tương lai của Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 15:21-32 (VIE1934)
21 Các thành ở cực nam, gần biên giới Ê-đôm, thuộc về chi phái con cháu Giu-đa, là Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua,
22 Ki-na, Đi-mô-na, A-đa-đa,
23 Kê-đét, Hát-so, Ít-nan,
24 Xi-phơ, Tê-lem, Bê-a-lốt,
25 Hát-so-Ha-đa-tha, Kê-ri-ốt-Hết-rôn, tức là Hát-so,
26 A-ma-mam, Sê-ma, Mô-la-đa,
27 Hát-sa-Ga-đa, Hết-môn, Bết-Pê-lê,
28 Hát-sa-Su-a, Bê-e-Sê-ba, Bi-si-ô-thia,
29 Ba-a-la, I-im, Ê-xem,
30 Ên-tô-lát, Kê-sinh, Họt-ma,
31 Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na,
32 Lê-ba-ốt, Si-lhim, A-in, và Rim-môn: hết thảy hai mươi chín thành cùng các làng của chúng.
Những câu này liệt kê các thành phía nam thuộc về Giu-đa, tổng cộng hai mươi chín thành. Những thành này nằm rải rác trong vùng cực nam của lãnh thổ chi phái, gần Ê-đôm. Nhiều thành sau đó được nhắc đến trong Kinh Thánh trong những bối cảnh khác nhau, phản ánh tầm quan trọng của chúng trong lịch sử Giu-đa. Số lượng các thành cho thấy quy mô và tầm quan trọng của phần lãnh thổ phía nam của Giu-đa.
Giô-suê 15:33-36 (VIE1934)
33 Trong đồng bằng có Ê-tao, Xô-rê-a, Ách-na,
34 Xa-nô-a, Ên-Ga-nim, Táp-phu-a, Ê-na,
35 Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca,
36 Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đe-ra, và Ghê-đe-rô-tha-im: mười bốn thành cùng các làng của chúng.
Những câu này liệt kê các thành nằm trong vùng đồng bằng, là một phần sản nghiệp của Giu-đa. Vùng đồng bằng, còn được gọi là Sê-phê-la, là một khu vực màu mỡ và có tầm quan trọng chiến lược. Những thành như Ê-tao và Xô-rê-a được nhắc đến, và sau này đóng vai trò nổi bật trong câu chuyện về Sam-sôn. Tổng cộng mười bốn thành cho thấy sự phân chia lãnh thổ có tổ chức và được xác định rõ ràng cho chi phái Giu-đa.
Giô-suê 15:37-41 (VIE1934)
37 Xê-na, Ha-đa-sa, Mích-đanh-Gát,
38 Đi-lê-an, Mích-bê, Giốc-thê-ên,
39 La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn,
40 Cáp-bôn, La-ma, Kít-lít,
41 Ghê-đe-rốt, Bết-Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: mười sáu thành cùng các làng của chúng.
Nhóm câu này tiếp tục liệt kê các thành trong lãnh thổ Giu-đa, cụ thể là mười sáu thành trong vùng đồng bằng. Trong số đó có La-ki, một thành sau này trở nên quan trọng như một thành kiên cố trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, đặc biệt trong thời kỳ các vua. Việc liệt kê những thành này làm nổi bật tầm quan trọng chiến lược của Giu-đa trong việc kiểm soát các tuyến đường thương mại và những vùng nông nghiệp quan trọng.
Giô-suê 15:42-44 (VIE1934)
42 Líp-na, Ê-the, A-san,
43 Giếp-thê, Ách-na, Nê-xíp,
44 Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: chín thành cùng các làng của chúng.
Những câu này liệt kê thêm chín thành trong lãnh thổ Giu-đa. Kê-i-la sau này được nhắc đến trong cuộc đời Đa-vít, là nơi ông từng tìm đến để bảo vệ dân thành và tránh khỏi Sau-lơ. Những thành này thuộc sản nghiệp của Giu-đa và cho thấy lãnh thổ rộng lớn của chi phái, bao gồm cả những vùng nông nghiệp và những thành trì kiên cố.
Giô-suê 15:45-47 (VIE1934)
45 Éc-rôn cùng các thành và làng thuộc về nó;
46 từ Éc-rôn đến biển, hết thảy những nơi gần Ách-đốt cùng các làng của chúng;
47 Ách-đốt cùng các thành và làng thuộc về nó, Ga-xa cùng các thành và làng thuộc về nó, cho đến suối Ê-díp-tô và Đại Hải cùng bờ biển.
Những câu này mô tả các thành dọc theo ranh giới phía tây của Giu-đa, gồm những thành quan trọng của người Phi-li-tin như Éc-rôn, Ách-đốt và Ga-xa. Mặc dù những thành này phần lớn vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của người Phi-li-tin trong nhiều thời kỳ của lịch sử Y-sơ-ra-ên, chúng vẫn được kể trong phần lãnh thổ được phân cho Giu-đa. Việc đề cập đến những khu vực này phản ánh vị trí chiến lược của vùng duyên hải và cuộc tranh chấp kéo dài giữa Giu-đa và người Phi-li-tin để kiểm soát khu vực.
Giô-suê 15:48-51 (VIE1934)
48 Trong miền núi có Sa-mia, Gia-thia, Sô-cô,
49 Đa-na, Ki-ri-át-Sa-na, tức là Đê-bia,
50 A-náp, Ê-sê-thê-mô, A-nim,
51 Gô-sen, Hô-lôn, và Ghinh-lô: mười một thành cùng các làng của chúng.
Những câu này chuyển sang liệt kê các thành trong vùng núi của lãnh thổ Giu-đa. Vùng này tạo ra những pháo đài tự nhiên và dù ít màu mỡ hơn, lại có giá trị chiến lược. Việc nhắc đến những thành như Đê-bia, nơi Ca-lép đã chinh phục trước đó, làm nổi bật tầm quan trọng tiếp tục của các thành này trong sản nghiệp Giu-đa. Mười một thành trong khu vực này cho thấy lãnh thổ Giu-đa trải dài từ đồng bằng lên đến vùng núi.
Giô-suê 15:52-54 (VIE1934)
52 A-ráp, Đu-ma, Ê-sê-an,
53 Gia-num, Bết-Táp-phu-a, A-phê-ca,
54 Hum-ta, Ki-ri-át-A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, và Xi-o: chín thành cùng các làng của chúng.
Những câu này tiếp tục liệt kê các thành trong vùng núi, trong đó có Hếp-rôn (Ki-ri-át-A-ra-ba), là nơi Ca-lép nhận làm sản nghiệp. Hếp-rôn có ý nghĩa lịch sử và tôn giáo đặc biệt, vì đây là nơi các tổ phụ Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp được chôn cất. Danh sách này tiếp tục cho thấy sự rộng lớn và đa dạng của lãnh thổ Giu-đa.
Giô-suê 15:55-57 (VIE1934)
55 Ma-ôn, Cạt-mên, Xi-phơ, Giê-tha,
56 Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-a,
57 Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: mười thành cùng các làng của chúng.
Những câu này liệt kê mười thành trong các vùng phía nam và miền núi của Giu-đa. Cạt-mên, Ma-ôn và Xi-phơ đáng chú ý vì là những nơi Đa-vít từng ẩn trốn khỏi vua Sau-lơ trong thời gian ông bị truy đuổi. Những thành này không chỉ có giá trị chiến lược mà còn đóng vai trò trong lịch sử tương lai của Y-sơ-ra-ên, đặc biệt trong cuộc đời Đa-vít.
Giô-suê 15:58-59 (VIE1934)
58 Hanh-hun, Bết-Xu-rơ, Ghê-đo,
59 Ma-a-rát, Bết-A-nốt, và Ên-Tê-côn: sáu thành cùng các làng của chúng.
Những câu này liệt kê thêm sáu thành trong vùng núi của Giu-đa. Bết-Xu-rơ đáng chú ý vì sau này được củng cố thành trì trong thời kỳ người Ma-ca-bê. Việc đề cập đến các thành này cho thấy mức độ định cư rộng lớn trên vùng cao nguyên, nơi địa hình tự nhiên tạo ra những vị trí phòng thủ khó bị chinh phục.
Giô-suê 15:60 (VIE1934)
60 Ki-ri-át-Ba-anh, tức là Ki-ri-át-Giê-a-rim, và Ráp-ba: hai thành cùng các làng của chúng.
Câu này liệt kê Ki-ri-át-Ba-anh, còn gọi là Ki-ri-át-Giê-a-rim, một địa điểm quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, nơi Hòm Giao Ước được giữ trong một thời gian. Việc thành này được kể vào lãnh thổ Giu-đa phản ánh tầm quan trọng của nó như một địa điểm tôn giáo và mối liên hệ của nó với sản nghiệp của chi phái Giu-đa.
Giô-suê 15:61-62 (VIE1934)
61 Trong đồng vắng có Bết-A-ra-ba, Mít-đin, Sê-ca-ca,
62 Níp-san, thành Muối, và Ên-Ghê-đi: sáu thành cùng các làng của chúng.
Những câu này mô tả các thành nằm trong vùng đồng vắng, đặc biệt là khu vực gần Biển Chết. Ên-Ghê-đi, nổi tiếng với các suối nước và hang động, sau này trở thành nơi Đa-vít ẩn náu khi chạy trốn Sau-lơ. Thành Muối có lẽ chỉ một thành gần Biển Muối (Biển Chết), phản ánh tính khắc nghiệt nhưng đồng thời có giá trị chiến lược của khu vực này.
Giô-suê 15:63 (VIE1934)
63 Còn về dân Giê-bu-sít, tức là dân ở Giê-ru-sa-lem, thì con cháu Giu-đa không đuổi được chúng nó; dân Giê-bu-sít ở với con cháu Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.
Chương kết thúc bằng việc ghi nhận rằng mặc dù Giê-ru-sa-lem được phân cho Giu-đa, họ không thể đuổi dân Giê-bu-sít đang cư trú tại đó. Người Giê-bu-sít tiếp tục ở Giê-ru-sa-lem cho đến nhiều thế kỷ sau, khi Đa-vít chinh phục thành này và biến nó thành thủ đô của Y-sơ-ra-ên. Câu này cho thấy những thách thức mà Giu-đa phải đối mặt trong việc hoàn toàn chiếm hữu sản nghiệp đã được ban cho mình.

