
Giô-suê 19
Giô-suê 19 ghi lại việc phân chia đất đai cho các chi phái còn lại của Y-sơ-ra-ên. Sau khi Giu-đa, Ép-ra-im và Ma-na-se đã nhận phần của mình, các chi phái còn lại, gồm Si-mê-ôn, Sa-bu-lôn, Y-sa-ca, A-se, Nép-ta-li và Đan, lần lượt nhận sản nghiệp bằng cách bắt thăm. Chương kết thúc khi chính Giô-suê cũng nhận được sản nghiệp của mình, đánh dấu việc hoàn tất quá trình phân chia đất đai. Sản nghiệp của mỗi chi phái phản ánh số lượng của họ và sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Việc phân chia được tiến hành tại Si-lô dưới sự giám sát của Giô-suê, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và các trưởng tộc.
Giô-suê 19:1-5 (VIE1934)
1 Cái thăm thứ hai trúng nhằm Si-mê-ôn, cho chi phái con cháu Si-mê-ôn tùy theo gia tộc mình; phần sản nghiệp của họ ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa.
2 Họ có trong sản nghiệp mình Bê-e-Sê-ba, hoặc Sê-ba, Mô-la-đa,
3 Hát-sa-Su-anh, Ba-la, Ê-xem,
4 Ên-Tô-lát, Bê-thu-ên, Họt-ma,
5 Xiếc-lác, Bết-Mác-ca-bốt, Hát-sa-Su-sa,
Đất được ban cho Si-mê-ôn nằm bên trong lãnh thổ rộng lớn hơn của Giu-đa, vì phần đất của Giu-đa quá lớn. Sự sắp đặt này cho thấy sự hiệp nhất giữa các chi phái, khi một chi phái chia sẻ một phần sản nghiệp của mình với chi phái khác. Những thành được liệt kê ở đây trở thành một phần sản nghiệp của Si-mê-ôn, trong đó có Bê-e-Sê-ba, một địa điểm nổi bật. Việc Si-mê-ôn nhận sản nghiệp ở giữa Giu-đa cho thấy ngay cả những chi phái nhỏ hơn cũng có một chỗ đứng có ý nghĩa giữa dân Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 19:6-8 (VIE1934)
6 Bết-Lê-ba-ốt, và Sa-ru-hen: mười ba thành cùng các làng của chúng;
7 A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san: bốn thành cùng các làng của chúng;
8 và hết thảy các làng ở chung quanh những thành ấy cho đến Ba-a-lát-Bê-e, về hướng Ra-ma miền nam. Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu Si-mê-ôn tùy theo gia tộc mình.
Sản nghiệp của Si-mê-ôn gồm mười ba thành và nhiều làng. Việc liệt kê các thành này nhấn mạnh phạm vi lãnh thổ được ban cho Si-mê-ôn. Mặc dù là một chi phái nhỏ hơn, Si-mê-ôn vẫn nhận đủ đất để duy trì bản sắc riêng của mình. Việc nhắc đến “miền nam” cho thấy vị trí địa lý của họ gần vùng Nê-ghép, tức khu vực phía nam của Đất Hứa.
Giô-suê 19:9 (VIE1934)
9 Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần của con cháu Giu-đa; vì phần của con cháu Giu-đa quá lớn cho chúng nó. Vậy, con cháu Si-mê-ôn nhận sản nghiệp ở giữa sản nghiệp của họ.
Phần đất của Giu-đa quá lớn nên Si-mê-ôn nhận một phần trong đó. Câu này cho thấy sự phân chia đất đai có tính thực tế và thích hợp với hoàn cảnh của từng chi phái. Dù Si-mê-ôn là một chi phái nhỏ hơn, Đức Chúa Trời vẫn bảo đảm rằng họ có phần sản nghiệp thích hợp. Điều này cũng cho thấy tính chất hợp tác của Y-sơ-ra-ên như một cộng đồng cùng sống dưới sự lãnh đạo của Đức Chúa Trời.
Giô-suê 19:10-16 (VIE1934)
10 Cái thăm thứ ba trúng nhằm con cháu Sa-bu-lôn, tùy theo gia tộc mình; và bờ cõi sản nghiệp chúng nó chạy đến Sa-rít.
11 Bờ cõi chúng nó lên về phía tây đến Ma-ra-la, chạy đến Đáp-ba-sết, và đến khe trước Giô-cơ-nê-am.
12 Từ Sa-rít trở về phía đông, về hướng mặt trời mọc, đến bờ cõi Kít-lốt-Ta-bô, rồi đi ra Đa-bê-rát, và chạy đến Gia-phia.
13 Từ đó đi qua về phía đông Gát-Hê-phe, đến Ết-Ca-xin, rồi chạy đến Rim-môn, vòng về phía Nê-a.
14 Bờ cõi lại vòng về phía bắc Hạt-thô-na, và chạy đến thung lũng Giíp-tha-Ên.
15 Có Ca-ta, Na-ha-lan, Sim-rôn, Gi-đa-la, và Bết-lê-hem: mười hai thành cùng các làng của chúng.
16 Đó là sản nghiệp của con cháu Sa-bu-lôn tùy theo gia tộc mình, gồm các thành và các làng của chúng.
Sản nghiệp của Sa-bu-lôn nằm ở khu vực phía bắc của Y-sơ-ra-ên, trải dài từ vùng biên giới gần Sa-rít đến thung lũng Giíp-tha-Ên. Các ranh giới được mô tả qua những thành phố và địa danh tự nhiên quan trọng xác định lãnh thổ của Sa-bu-lôn. Chi phái này được ban mười hai thành cùng các làng của chúng. Lãnh thổ của họ bao gồm nhiều địa hình khác nhau, từ các thung lũng đến những vùng cao gần núi Ta-bô. Những ranh giới cụ thể này bảo đảm cho chi phái có đất đai và các nguồn tài nguyên cần thiết.
Giô-suê 19:17-23 (VIE1934)
17 Cái thăm thứ tư trúng nhằm Y-sa-ca, cho con cháu Y-sa-ca tùy theo gia tộc mình.
18 Bờ cõi chúng nó đến Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem,
19 Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-ha-rát,
20 Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết,
21 Rê-mết, Ên-Ga-nim, Ên-Ha-đa, và Bết-Phát-sết.
22 Bờ cõi lại đến Ta-bô, Sa-ha-xu-ma, và Bết-Sê-mết, rồi chấm dứt tại sông Giô-đanh: mười sáu thành cùng các làng của chúng.
23 Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu Y-sa-ca tùy theo gia tộc mình, gồm các thành và các làng của chúng.
Lãnh thổ của Y-sa-ca nằm trong vùng thung lũng Gít-rê-ên màu mỡ, một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng ở phía bắc Y-sơ-ra-ên. Việc liệt kê mười sáu thành cho thấy đất đai của Y-sa-ca vừa giàu về nông nghiệp vừa có tầm quan trọng đối với các tuyến đường giao thương. Một số thành như Gít-rê-ên và Su-nem về sau đóng những vai trò đáng kể trong các sự kiện Kinh Thánh. Việc nhắc đến các địa danh như núi Ta-bô và sông Giô-đanh cho thấy vị trí quan trọng của lãnh thổ Y-sa-ca trong địa lý của Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 19:24-31 (VIE1934)
24 Cái thăm thứ năm trúng nhằm chi phái con cháu A-se, tùy theo gia tộc mình.
25 Bờ cõi chúng nó có Hên-cát, Ha-li, Bê-tên, Ạc-sáp,
26 A-la-mê-léc, A-mát, và Mi-sê-anh; chạy đến Cạt-mên về phía tây, và đến Si-hô-Líp-nát.
27 Rồi trở về phía đông, đến Bết-Đa-gôn, chạy đến Sa-bu-lôn và thung lũng Giíp-tha-Ên; về phía bắc đến Bết-Ê-méc, Nê-i-ên, chạy qua bên trái Ca-bun,
28 đến Hê-bôn, Rê-hốp, Ha-môn, và Ca-na, cho đến Si-đôn lớn.
29 Bờ cõi lại trở về Ra-ma, đến thành Ty-rơ kiên cố; rồi trở về Hô-sa, và chấm dứt tại biển, gần A-cơ-xíp.
30 Có cả U-ma, A-phê, và Rê-hốp: hai mươi hai thành cùng các làng của chúng.
31 Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu A-se tùy theo gia tộc mình, gồm các thành và các làng của chúng.
Lãnh thổ của A-se trải dài dọc theo bờ biển Địa Trung Hải, bao gồm những thành quan trọng như Ty-rơ và Si-đôn, vốn có tầm quan trọng về thương mại và quốc phòng. Việc nhắc đến núi Cạt-mên và những vùng ven biển cho thấy sự phong phú của vùng đất được ban cho A-se. Hai mươi hai thành cùng các làng cho thấy chi phái này có một khu vực định cư đáng kể ở phía bắc Y-sơ-ra-ên. Vị trí gần biển cũng tạo cho A-se một vị trí thuận lợi về kinh tế và giao thương.
Giô-suê 19:32-39 (VIE1934)
32 Cái thăm thứ sáu trúng nhằm con cháu Nép-ta-li, cho con cháu Nép-ta-li tùy theo gia tộc mình.
33 Bờ cõi chúng nó bắt đầu từ Hê-lép, từ cây sồi tại Xa-a-na-nim, chạy qua A-đa-mi-Nê-kếp, Gia-bê-nê-ên, đến La-cu-mê, và chấm dứt tại sông Giô-đanh.
34 Bờ cõi từ Hê-lép chạy về phía tây đến A-xa-nốt-Ta-bô, từ đó chạy đến Hu-cốc; phía nam giáp Sa-bu-lôn, phía tây giáp A-se, và phía đông giáp Giu-đa, tại sông Giô-đanh.
35 Những thành kiên cố là Xi-đim, Xê, Ham-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết,
36 A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so,
37 Kê-đết, Ê-đrây, Ên-Hát-so,
38 Y-rôn, Mích-đa-ên, Hô-rê, Bết-A-nát, và Bết-Sê-mết: mười chín thành cùng các làng của chúng.
39 Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu Nép-ta-li tùy theo gia tộc mình, gồm các thành và các làng của chúng.
Lãnh thổ của Nép-ta-li nằm ở phía bắc Y-sơ-ra-ên và trải đến sông Giô-đanh. Những thành kiên cố như Hát-so và Kê-đết cho thấy tầm quan trọng về mặt phòng thủ của vùng đất này. Mười chín thành được ban cho Nép-ta-li tạo đủ không gian cho chi phái phát triển. Lãnh thổ cũng bao gồm khu vực quanh Ki-nê-rết, tức vùng biển Ga-li-lê, cung cấp nguồn nước và đất đai thuận lợi. Khu vực này về sau trở nên đặc biệt quan trọng trong chức vụ của Giê-su.
Giô-suê 19:40-48 (VIE1934)
40 Cái thăm thứ bảy trúng nhằm chi phái con cháu Đan, tùy theo gia tộc mình.
41 Bờ cõi sản nghiệp chúng nó có Xô-ra, Ê-tào, Ir-Sê-mết,
42 Sa-a-la-bin, A-gia-lôn, Dít-la,
43 Ê-lôn, Thim-na, Éc-rôn,
44 Ên-tê-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-a-lát,
45 Giê-hút, Bê-nê-Bê-rác, Gát-Rim-môn,
46 Mê-Giạt-côn, Ra-côn, và vùng đất gần Giốp-bê.
47 Nhưng bờ cõi con cháu Đan vượt ra ngoài những nơi ấy; vì con cháu Đan đi lên đánh Lê-sem, chiếm lấy thành ấy, đánh nó bằng lưỡi gươm, chiếm làm sản nghiệp và ở tại đó. Họ gọi Lê-sem là Đan, theo tên của Đan, tổ phụ mình.
48 Đó là sản nghiệp của chi phái con cháu Đan tùy theo gia tộc mình, gồm các thành và các làng của chúng.
Lãnh thổ của Đan bao gồm cả những thành ven biển và các vùng ở phía trong. Chi phái này gặp những khó khăn trong việc chiếm giữ toàn bộ phần đất được chỉ định, nên họ đi xa hơn ranh giới ban đầu để đánh chiếm thành Lê-sem. Sự mở rộng này cho thấy quyết tâm của họ trong việc thiết lập sản nghiệp của mình. Việc đổi tên Lê-sem thành Đan phản ánh mong muốn gìn giữ tên tuổi của tổ phụ mình và khẳng định bản sắc của chi phái. Mặc dù Đan là một trong những chi phái nhỏ hơn, họ vẫn giữ một vai trò trong việc hoàn tất sự phân chia lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 19:49-51 (VIE1934)
49 Khi dân Y-sơ-ra-ên đã chia xong xứ làm sản nghiệp theo bờ cõi mình, họ ban cho Giô-suê, con trai của Nun, một sản nghiệp ở giữa họ.
50 Theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va, họ ban cho người thành mà người đã xin, là Thim-na-Sê-rách, trong núi Ép-ra-im; người xây lại thành ấy và ở tại đó.
51 Đó là những sản nghiệp mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng tộc của các chi phái con cháu Y-sơ-ra-ên chia bằng cách bắt thăm tại Si-lô, trước mặt Đức Giê-hô-va, nơi cửa hội mạc. Vậy, họ chia xong xứ.
Sau khi tất cả các chi phái đã nhận sản nghiệp, Giô-suê, người lãnh đạo đã dẫn dắt Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, cũng nhận được phần của mình. Ông chọn Thim-na-Sê-rách trong vùng núi Ép-ra-im và xây dựng thành ấy rồi cư trú tại đó. Toàn bộ quá trình phân chia đất diễn ra tại Si-lô, trước mặt Đức Giê-hô-va, nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là Đấng tối cao giám sát việc ban sản nghiệp này. Đây là dấu mốc hoàn tất việc phân chia đất đai cho Y-sơ-ra-ên, làm trọn lời hứa mà Đức Chúa Trời đã ban cho các tổ phụ.

