
Giô-suê 21
Giô-suê 21 ghi lại việc dân Y-sơ-ra-ên phân chia các thành cho người Lê-vi, theo điều Đức Chúa Trời đã truyền dặn qua Môi-se. Những thành này được lấy từ phần sản nghiệp của các chi phái khác, làm ứng nghiệm lời hứa của Đức Giê-hô-va về việc chu cấp cho người Lê-vi, là những người không nhận một lãnh thổ riêng như các chi phái khác. Chương này nhấn mạnh sự thành tín của Đức Chúa Trời trong việc giữ lời hứa, đồng thời cho thấy vai trò đặc biệt của người Lê-vi trong sự thờ phượng và đời sống của dân Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 21:1-5 (VIE1934)
1 Bấy giờ, các trưởng tộc của người Lê-vi đến gần thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai Nun, và các trưởng tộc của các chi phái dân Y-sơ-ra-ên.
2 Tại Si-lô, trong xứ Ca-na-an, họ nói cùng các người ấy rằng: Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền cho chúng tôi phải được các thành để ở, cùng các đồng cỏ chung quanh thành cho súc vật chúng tôi.
3 Vậy, theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va, dân Y-sơ-ra-ên lấy trong sản nghiệp mình ban cho người Lê-vi các thành ấy và đồng cỏ chung quanh.
4 Thăm thứ nhất nhằm về các gia tộc Kê-hát. Các con trai của A-rôn, thầy tế lễ, thuộc về người Lê-vi, được mười ba thành, theo thăm, trong chi phái Giu-đa, chi phái Si-mê-ôn, và chi phái Bên-gia-min.
5 Các con trai Kê-hát còn lại được mười thành, theo thăm, trong các gia tộc của chi phái Ép-ra-im, chi phái Đan, và phân nửa chi phái Ma-na-se.
Người Lê-vi đến gặp các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên và nhắc lại rằng Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se phải ban cho họ các thành để ở. Những thành này bao gồm các đồng cỏ chung quanh để nuôi súc vật và được phân chia bằng cách bắt thăm. Các Kê-hát là gia tộc đầu tiên nhận phần sản nghiệp. Các con cháu A-rôn, thuộc dòng tế lễ, được mười ba thành từ Giu-đa, Si-mê-ôn và Bên-gia-min. Những người Kê-hát còn lại nhận mười thành từ Ép-ra-im, Đan và phân nửa Ma-na-se. Việc này cho thấy tầm quan trọng của người Lê-vi và sự ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời đã phán.
Giô-suê 21:6 (VIE1934)
6 Con cháu Ghẹt-sôn được mười ba thành, theo thăm, trong các gia tộc của chi phái Y-sa-ca, chi phái A-se, chi phái Nép-ta-li, và phân nửa chi phái Ma-na-se ở Ba-san.
Người Ghẹt-sôn, một trong các gia tộc của người Lê-vi, được mười ba thành từ lãnh thổ của Y-sa-ca, A-se, Nép-ta-li và phân nửa chi phái Ma-na-se ở Ba-san. Việc phân bố các thành của người Lê-vi giữa nhiều chi phái khác nhau bảo đảm rằng họ hiện diện khắp xứ, để phục vụ, giảng dạy và hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên trong những vấn đề thuộc về Đức Chúa Trời.
Giô-suê 21:7 (VIE1934)
7 Con cháu Mê-ra-ri, tùy theo các gia tộc mình, được mười hai thành trong chi phái Ru-bên, chi phái Gát, và chi phái Sa-bu-lôn.
Mê-ra-ri là phân nhánh thứ ba của người Lê-vi. Họ nhận mười hai thành từ các chi phái Ru-bên, Gát và Sa-bu-lôn. Giống như các gia tộc Lê-vi khác, các thành của họ được phân bố giữa nhiều chi phái, giúp người Lê-vi hiện diện rộng khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 21:8 (VIE1934)
8 Dân Y-sơ-ra-ên dùng cách bắt thăm mà ban các thành nầy và đồng cỏ chung quanh cho người Lê-vi, y như Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền dặn.
Câu này nhắc lại rằng các thành và đồng cỏ chung quanh được ban cho người Lê-vi đúng theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se. Việc phân chia được thực hiện bằng cách bắt thăm, cho thấy sự phân chia được đặt dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, bảo đảm trật tự và công bằng trong việc phân bổ sản nghiệp.
Giô-suê 21:9-12 (VIE1934)
9 Người ta lấy trong chi phái con cháu Giu-đa và chi phái con cháu Si-mê-ôn những thành nầy, có gọi tên ra đây,
10 tức là những thành dành cho con cháu A-rôn, thuộc về các gia tộc Kê-hát, là dòng dõi Lê-vi; vì họ được phần bắt thăm thứ nhất.
11 Người ta ban cho họ Ki-ri-át-A-ra-ba, tức Hếp-rôn, trên núi Giu-đa, cùng các đồng cỏ chung quanh nó. A-ra-ba là cha của A-nác.
12 Nhưng ruộng của thành và các làng phụ thuộc thì đã ban cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, làm sản nghiệp mình.
Phần đầu tiên dành cho các con cháu A-rôn, tức dòng tế lễ, là thành Hếp-rôn, cũng gọi là Ki-ri-át-A-ra-ba. Hếp-rôn nằm trong vùng núi của Giu-đa và có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, vì đây là khu vực gắn liền với dân A-nác. Thành Hếp-rôn và các đồng cỏ chung quanh được ban cho người Lê-vi, nhưng ruộng và các làng phụ thuộc thành được giữ lại cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, làm sản nghiệp. Điều này phù hợp với phần thưởng mà Ca-lép đã nhận được vì sự trung tín của ông đối với Đức Chúa Trời.
Giô-suê 21:13-16 (VIE1934)
13 Vậy, người ta ban cho con cháu A-rôn, thầy tế lễ, Hếp-rôn và đồng cỏ chung quanh nó, là thành ẩn náu cho kẻ giết người, lại ban Líp-na và đồng cỏ chung quanh,
14 Gia-thia và đồng cỏ chung quanh, Ê-thê-mô-a và đồng cỏ chung quanh,
15 Hô-lôn và đồng cỏ chung quanh, Đê-bia và đồng cỏ chung quanh,
16 A-in và đồng cỏ chung quanh, Giút-ta và đồng cỏ chung quanh, Bết-Sê-mết và đồng cỏ chung quanh: chín thành lấy trong hai chi phái ấy.
Các con cháu A-rôn nhận tổng cộng chín thành từ Giu-đa và Si-mê-ôn, trong đó có Hếp-rôn, một thành ẩn náu dành cho người vô ý giết người. Những thành này và các vùng đất chung quanh vừa cung cấp nơi ở cho các thầy tế lễ, vừa giúp phục vụ nhu cầu thuộc linh và đời sống của dân sự. Việc Đức Chúa Trời sắp đặt các thành ẩn náu cũng cho thấy sự kết hợp giữa công lý và lòng thương xót trong hệ thống mà Ngài thiết lập cho Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 21:17-19 (VIE1934)
17 Trong chi phái Bên-gia-min, người ta ban cho họ Ga-ba-ôn và đồng cỏ chung quanh, Ghê-ba và đồng cỏ chung quanh,
18 A-na-tốt và đồng cỏ chung quanh, An-môn và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
19 Tổng cộng các thành của con cháu A-rôn, tức các thầy tế lễ, là mười ba thành và đồng cỏ chung quanh.
Chi phái Bên-gia-min đóng góp bốn thành cho các con cháu A-rôn. Như vậy, các thầy tế lễ thuộc dòng A-rôn nhận tổng cộng mười ba thành. Việc các thành này đến từ nhiều chi phái khác nhau cho thấy người Lê-vi được phân bố khắp đất nước, giúp dân sự ở nhiều vùng khác nhau có thể tiếp cận sự phục vụ của các thầy tế lễ.
Giô-suê 21:20-26 (VIE1934)
20 Còn về các gia tộc khác của con cháu Kê-hát, tức người Lê-vi, thì các thành thuộc về họ theo thăm lấy trong chi phái Ép-ra-im.
21 Người ta ban cho họ Si-chem và đồng cỏ chung quanh nó, trên núi Ép-ra-im, là thành ẩn náu cho kẻ giết người, lại ban Ghê-xe và đồng cỏ chung quanh,
22 Kíp-xa-im và đồng cỏ chung quanh, Bết-Hô-rôn và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
23 Trong chi phái Đan, người ta ban cho họ Ên-tê-kê và đồng cỏ chung quanh, Ghi-bê-thôn và đồng cỏ chung quanh,
24 A-gia-lôn và đồng cỏ chung quanh, Gát-Rim-môn và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
25 Trong phân nửa chi phái Ma-na-se, người ta ban cho họ Tha-a-nác và đồng cỏ chung quanh, Gát-Rim-môn và đồng cỏ chung quanh: hai thành.
26 Tổng cộng mười thành và đồng cỏ chung quanh được ban cho các gia tộc khác của con cháu Kê-hát.
Những người Kê-hát còn lại nhận mười thành từ ba chi phái Ép-ra-im, Đan và phân nửa chi phái Ma-na-se. Trong số đó có Si-chem, một thành ẩn náu. Như vậy, các gia tộc Lê-vi tiếp tục được phân bố rộng khắp giữa các chi phái Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê 21:27-33 (VIE1934)
27 Con cháu Ghẹt-sôn, thuộc các gia tộc người Lê-vi, được lấy trong phân nửa chi phái Ma-na-se ở Ba-san, ban cho Ga-lan trong Ba-san và đồng cỏ chung quanh nó, là thành ẩn náu cho kẻ giết người, và Bê-ết-tê-ra và đồng cỏ chung quanh: hai thành.
28 Trong chi phái Y-sa-ca, người ta ban cho họ Ki-si-ôn và đồng cỏ chung quanh, Đa-bê-rát và đồng cỏ chung quanh,
29 Giạt-mút và đồng cỏ chung quanh, Ên-Ga-nim và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
30 Trong chi phái A-se, người ta ban cho họ Mi-sa-ên và đồng cỏ chung quanh, Áp-đôn và đồng cỏ chung quanh,
31 Hên-cát và đồng cỏ chung quanh, Rê-hốp và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
32 Trong chi phái Nép-ta-li, người ta ban cho họ Kê-đe trong Ga-li-lê và đồng cỏ chung quanh, là thành ẩn náu cho kẻ giết người, Ham-mốt-Đô-rơ và đồng cỏ chung quanh, và Cạt-than và đồng cỏ chung quanh: ba thành.
33 Tổng cộng các thành của người Ghẹt-sôn, tùy theo các gia tộc họ, là mười ba thành và đồng cỏ chung quanh.
Người Ghẹt-sôn, một nhánh khác của người Lê-vi, nhận mười ba thành từ lãnh thổ của Ma-na-se, Y-sa-ca, A-se và Nép-ta-li. Trong số đó có Ga-lan ở Ba-san và Kê-đe trong Ga-li-lê, là những thành ẩn náu dành cho người vô ý gây chết người. Các thành này một lần nữa cho thấy vai trò đặc biệt của người Lê-vi trong việc duy trì công lý và lòng thương xót giữa dân Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi không chỉ phục vụ trong việc thờ phượng Đức Chúa Trời mà còn hiện diện trong những nơi có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống và trật tự của quốc gia.
Giô-suê 21:34-40 (VIE1934)
34 Các gia tộc của con cháu Mê-ra-ri, tức những người Lê-vi còn lại, được lấy trong chi phái Sa-bu-lôn, ban cho Giốc-nê-am và đồng cỏ chung quanh, Cạt-ta và đồng cỏ chung quanh,
35 Đim-na và đồng cỏ chung quanh, Na-ha-la và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
36 Trong chi phái Ru-bên, người ta ban cho họ Bết-xe và đồng cỏ chung quanh, Gia-hát và đồng cỏ chung quanh,
37 Kê-đê-mốt và đồng cỏ chung quanh, Mê-pha-át và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
38 Trong chi phái Gát, người ta ban cho họ Ra-mốt tại Ga-la-át và đồng cỏ chung quanh, là thành ẩn náu cho kẻ giết người, Ma-ha-na-im và đồng cỏ chung quanh,
39 Hết-bôn và đồng cỏ chung quanh, Gia-xe và đồng cỏ chung quanh: bốn thành.
40 Tổng cộng các thành được ban cho các gia tộc Mê-ra-ri, tức những gia tộc còn lại của người Lê-vi, là mười hai thành, theo thăm.
Mê-ra-ri, là phân nhánh cuối cùng của người Lê-vi, nhận mười hai thành từ Sa-bu-lôn, Ru-bên và Gát. Trong số đó có Bết-xe và Ra-mốt tại Ga-la-át, cũng là những thành ẩn náu. Giống như các thành được ban cho những gia tộc Lê-vi khác, các thành của Mê-ra-ri được phân bố rộng khắp giữa dân Y-sơ-ra-ên. Điều này bảo đảm rằng người Lê-vi hiện diện trong mọi khu vực, góp phần vào đời sống thuộc linh và trật tự xã hội của toàn dân.
Giô-suê 21:41-42 (VIE1934)
41 Hết thảy các thành của người Lê-vi ở giữa sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám thành, cùng đồng cỏ chung quanh.
42 Mỗi thành ấy đều có đồng cỏ chung quanh mình; các thành ấy đều như vậy.
Tổng cộng có bốn mươi tám thành được ban cho người Lê-vi từ sản nghiệp của các chi phái khác. Mỗi thành đều có đồng cỏ chung quanh để cung cấp nơi chăn nuôi và đáp ứng những nhu cầu sinh sống của người Lê-vi. Sự phân bố này bảo đảm rằng người Lê-vi có phương tiện để sinh sống, đồng thời được đặt giữa các chi phái khác để thực hiện trách nhiệm phục vụ Đức Chúa Trời và hướng dẫn dân sự.
Giô-suê 21:43-45 (VIE1934)
43 Vậy, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên hết thảy xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ họ; họ lấy xứ đó làm sản nghiệp và ở tại đó.
44 Đức Giê-hô-va ban cho họ được bình an bốn phía, y như Ngài đã thề cùng tổ phụ họ; chẳng một kẻ thù nào trong các kẻ thù của họ đứng nổi trước mặt họ; Đức Giê-hô-va phó hết thảy kẻ thù của họ vào tay họ.
45 Trong các lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào không ứng nghiệm; hết thảy đều thành.
Những câu cuối cùng của chương này là một lời chứng mạnh mẽ về sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va đã hoàn thành lời hứa ban xứ mà Ngài đã thề với tổ phụ họ. Ngài cũng ban cho họ sự nghỉ ngơi khỏi những kẻ thù chung quanh. Câu 45 đặc biệt nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng: không một lời tốt lành nào Đức Chúa Trời đã phán cùng Y-sơ-ra-ên mà không được ứng nghiệm. Mọi điều Ngài đã hứa đều thành tựu. Điều này bày tỏ rằng Đức Chúa Trời luôn thành tín và giữ trọn lời Ngài. Sự phân chia đất đai, việc chu cấp cho người Lê-vi, và sự bình an mà Y-sơ-ra-ên nhận được đều là những bằng chứng cụ thể rằng Đức Chúa Trời hoàn thành những gì Ngài đã hứa.

