
Lê-vi Ký 1
Lê-vi Ký 1 trình bày những luật lệ về của lễ thiêu, là một trong những của lễ chính trong hệ thống tế lễ của dân Y-sơ-ra-ên. Của lễ thiêu được dâng để chuộc tội và bày tỏ sự tận hiến đối với Đức Chúa Trời. Toàn thể con sinh bị thiêu trên bàn thờ, tượng trưng cho sự đầu phục hoàn toàn theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Chương này đưa ra những chỉ dẫn chi tiết về cách dâng các loại sinh vật khác nhau, tùy theo khả năng của người dâng.
Lê-vi Ký 1:1-2 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va từ trong hội mạc gọi Môi-se mà phán rằng:
2 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi người nào trong vòng các ngươi dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, thì phải dâng súc vật, hoặc bò, hoặc chiên.
Đức Chúa Trời gọi Môi-se từ trong hội mạc, nhấn mạnh rằng những chỉ dẫn về các của lễ đến trực tiếp từ Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên phải đem của lễ từ súc vật của mình, cho thấy những của lễ phải có giá trị và là biểu tượng của sự tận tâm đối với Đức Chúa Trời. Việc nhắc đến “bò, hoặc chiên” cho thấy các của lễ phải đến từ những loài vật nuôi quen thuộc, vốn là những tài sản quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên.
Lê-vi Ký 1:3 (VIE1934)
3 Nếu lễ vật của người là của lễ thiêu bằng bò, thì phải dùng con đực không tì vít, dâng lên tại cửa hội mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài đẹp lòng nhậm lấy.
Của lễ thiêu phải là con đực không tì vít, tượng trưng cho sự tinh sạch và trọn vẹn. Điều quan trọng là của lễ phải được dâng cách tự nguyện, bày tỏ tấm lòng tận hiến và sự sẵn lòng tôn kính Đức Chúa Trời của người thờ phượng. Của lễ được dâng tại cửa hội mạc, là nơi biểu thị sự hiện diện của Đức Chúa Trời và ước muốn của người thờ phượng được đến gần Ngài.
Lê-vi Ký 1:4-5 (VIE1934)
4 Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người.
5 Đoạn, người sẽ giết bò tơ trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ, sẽ dâng huyết lên, và rưới chung quanh trên bàn thờ tại nơi cửa hội mạc.
Người thờ phượng đặt tay mình trên đầu con sinh, tượng trưng cho sự đồng nhất của người dâng với con sinh và sự chuyển giao tội lỗi sang con sinh. Sau đó con vật bị giết, biểu thị hình phạt của tội lỗi được gánh chịu qua sự chết của một sinh vật thay thế. Các thầy tế lễ lấy huyết và rưới chung quanh bàn thờ, biểu thị sự chuộc tội và sự làm sạch mà huyết đem lại.
Lê-vi Ký 1:6-9 (VIE1934)
6 Kế đó, lột da con sinh, và sả thịt ra từng miếng.
7 Các con trai thầy tế lễ A-rôn sẽ châm lửa trên bàn thờ chất củi chụm lửa;
8 rồi các con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ sắp các miếng thịt, đầu và mỡ lên trên củi đã chụm lửa nơi bàn thờ.
9 Người sẽ lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi thầy tế lễ đem hết mọi phần xông nơi bàn thờ; ấy là của lễ thiêu, tức một của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Quá trình chuẩn bị con sinh được mô tả rất chi tiết, phản ánh sự cẩn thận và lòng kính trọng cần có trong sự thờ phượng. Mỗi phần của con sinh được đặt trên bàn thờ, và toàn thể đều bị thiêu bằng lửa, tượng trưng cho sự dâng mình hoàn toàn cho Đức Chúa Trời. Việc rửa bộ lòng và giò nhấn mạnh nhu cầu phải có sự tinh sạch trong mọi phần của của lễ. Của lễ được mô tả là “có mùi thơm”, cho thấy nó đẹp lòng Đức Chúa Trời không phải chỉ vì con vật, nhưng vì tấm lòng của người thờ phượng và sự vâng lời đối với mạng lịnh của Ngài.
Lê-vi Ký 1:10-13 (VIE1934)
10 Nếu lễ vật người là của lễ thiêu bằng súc vật nhỏ, hoặc chiên hay dê, thì phải dâng một con đực không tì vít,
11 giết nó nơi hướng bắc của bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va; rồi các con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ, sẽ rưới huyết chung quanh trên bàn thờ;
12 sả thịt từng miếng, để riêng đầu và mỡ ra; thầy tế lễ sẽ chất các phần đó trên củi đã chụm lửa nơi bàn thờ.
13 Người sẽ lấy nước rửa bộ lòng và giò; đoạn thầy tế lễ dâng và xông hết mọi phần trên bàn thờ; ấy là của lễ thiêu, tức một của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Thủ tục dâng một con chiên hoặc con dê làm của lễ thiêu rất giống với việc dâng con bò, một lần nữa nhấn mạnh rằng con sinh phải không tì vít, tượng trưng cho sự tinh sạch cần có nơi của lễ. Huyết được rưới chung quanh bàn thờ, và toàn thể con sinh được thiêu, biểu thị sự dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Việc lặp lại câu “có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va” nhấn mạnh rằng những của lễ như vậy, khi được thực hiện với tấm lòng đúng đắn, thì đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Lê-vi Ký 1:14-17 (VIE1934)
14 Nếu lễ vật người dâng cho Đức Giê-hô-va là một của lễ thiêu bằng chim, thì phải dùng cu đất hay là bồ câu con.
15 Thầy tế lễ sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn rứt đầu ra, rồi xông trên bàn thờ; vắt huyết chảy nơi cạnh bàn thờ.
16 Người sẽ gỡ lấy cái diều và nhổ lông, liệng gần bàn thờ, về hướng đông, là chỗ đổ tro;
17 đoạn xé nó ra tại nơi hai cánh, nhưng không cho rời, rồi thầy tế lễ sẽ đem xông trên bàn thờ, tại trên củi đã chụm lửa; ấy là của lễ thiêu, tức một của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Đối với những người không thể dâng súc vật lớn, chim có thể được dùng làm của lễ thiêu, cho thấy Đức Chúa Trời đã mở đường để mọi người đều có thể tham dự vào sự thờ phượng, bất kể hoàn cảnh kinh tế của họ. Thầy tế lễ thực hiện nghi thức dâng của lễ thay cho người thờ phượng, và con chim được xử lý với cùng sự tôn kính như những con vật lớn hơn. Mặc dù loại của lễ khác nhau, kết quả vẫn giống nhau—một “của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va”, tượng trưng rằng Đức Chúa Trời coi trọng tấm lòng của người dâng hơn là kích thước hay loại lễ vật.

