
Lê-vi Ký 11
Lê-vi Ký 11 trình bày chi tiết các luật lệ về những loài vật tinh sạch và không tinh sạch, vốn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày và sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên thời xưa. Những luật này không chỉ quy định việc ăn uống mà còn tượng trưng cho sự thánh khiết và sự biệt riêng của dân Y-sơ-ra-ên khỏi các dân tộc khác. Chương này liệt kê những sinh vật được phép ăn và những sinh vật bị cấm, phân biệt giữa điều tinh sạch và điều ô uế trước mặt Đức Chúa Trời.
Lê-vi Ký 11:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2 Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong các loài vật trên mặt đất, nầy là những con các ngươi được phép ăn:
3 Hễ loài vật nào có móng rẽ ra, chân chia hai và nhơi, thì các ngươi được phép ăn.
Đức Chúa Trời ban những chỉ dẫn cho Môi-se và A-rôn liên quan đến các luật về thức ăn dành cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngài bắt đầu bằng việc xác định những loài vật trên đất nào có thể được ăn: những con vật vừa nhai lại vừa có móng chẻ. Những tiêu chuẩn này bảo đảm rằng dân sự chỉ ăn những loài được Đức Chúa Trời xem là tinh sạch, qua đó biệt họ ra khỏi các dân tộc khác. Sự biệt riêng này không chỉ mang những lợi ích thực tế về sức khỏe mà còn củng cố căn tính riêng biệt của họ là dân được Đức Chúa Trời chọn.
Lê-vi Ký 11:4-6 (VIE1934)
4 Nhưng chẳng nên ăn con nào chỉ nhơi không, hay là chỉ có móng rẽ không: con lạc-đà, nó nhơi, nhưng không có móng rẽ; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch;
5 con chuột đồng, nó nhơi, nhưng không có móng rẽ, nên hãy cầm nó là loài vật không sạch;
6 con thỏ rừng, nó nhơi nhưng không móng rẽ; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch;
Ở đây, Đức Chúa Trời chỉ rõ những trường hợp ngoại lệ đối với nguyên tắc chung. Mặc dù lạc-đà, chuột đồng và thỏ rừng nhơi lại, nhưng chúng không có móng rẽ, nên bị xem là không sạch. Sự phân biệt này dạy rằng việc chỉ vâng theo một phần mạng lịnh của Đức Chúa Trời là không đủ; con vật phải đáp ứng cả hai điều kiện thì mới được xem là tinh sạch. Qua việc tuân theo những giới hạn về thức ăn này, dân Y-sơ-ra-ên bày tỏ sự vâng lời và nhìn nhận quyền của Đức Chúa Trời trong mọi lĩnh vực của đời sống, kể cả những gì họ ăn.
Lê-vi Ký 11:7-8 (VIE1934)
7 con heo, nó có móng rẽ, chân chia hai, nhưng không nhơi; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch.
8 Các ngươi không nên ăn thịt và cũng không nên đụng đến thây các thú đó; phải cầm là vật không sạch.
Con heo được tuyên bố là không sạch vì mặc dù có móng rẽ và chân chia hai, nó không nhai lại. Dân Y-sơ-ra-ên bị cấm ăn thịt nó hoặc đụng đến xác nó. Sự cấm đoán này mở rộng khái niệm về sự tinh sạch theo nghi lễ, không chỉ liên quan đến việc ăn uống mà còn đến sự tiếp xúc về thể chất. Con heo trở thành biểu tượng của sự ô uế và là một ranh giới rõ ràng giúp dân Y-sơ-ra-ên biệt mình khỏi những nền văn hóa khác thường xuyên ăn thịt heo.
Lê-vi Ký 11:9-12 (VIE1934)
9 Những loài vật ở dưới nước mà các ngươi được phép ăn, là loài vật nào, hoặc ở dưới biển, hoặc ở dưới sông, có vây và có vảy.
10 Phàm vật nào hoặc dưới biển, hoặc dưới sông, tức các loài sanh-sản trong nước, mà không có vây và chẳng có vảy, thì các ngươi không nên ăn, phải lấy làm gớm-ghiếc cho các ngươi.
11 Những loài nầy, khá lấy làm gớm-ghiếc cho mình, chớ nên ăn thịt nó, và hãy cầm thây nó là điều gớm-ghiếc.
12 Các loài vật nào ở trong nước không có vây và chẳng có vảy, thì phải lấy làm gớm-ghiếc cho các ngươi.
Đức Chúa Trời đưa ra những quy định về các loài vật sống dưới nước, tuyên bố rằng chỉ những loài có cả vây lẫn vảy mới được phép ăn. Những sinh vật không có vây hoặc vảy, chẳng hạn như các loài có vỏ hoặc những sinh vật biển khác, bị xem là đáng gớm-ghiếc và không thích hợp để làm thức ăn. Những sự phân biệt này không chỉ nhằm mục đích sức khỏe mà còn tượng trưng cho sự tinh sạch thuộc linh, nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên phải biệt mình khỏi những điều Đức Chúa Trời xem là ô uế. Việc lặp lại từ “gớm-ghiếc” nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc tuân theo những luật về thức ăn này.
Lê-vi Ký 11:13-19 (VIE1934)
13 Trong các loài chim, những giống các ngươi phải cầm bằng gớm-ghiếc, không nên ăn, là chim ưng, chim ngạc, ó biển;
14 chim lão-ưng và con diều, tùy theo loại chúng nó;
15 các thứ quạ,
16 chim đà-điểu, chim ụt, chim thủy-kê, chim bò-cắc và các loại giống chúng nó;
17 chim mèo, chim thằng-cộc, con cò-quắm,
18 con hạc, chim thằng-bè, con cồng-cộc,
19 con cò, con diệc và các loại giống chúng nó; chim rẽ-quạt và con dơi.
Đức Chúa Trời liệt kê những loài chim được xem là không sạch và không được ăn, nhiều trong số đó là chim săn mồi hoặc chim ăn xác chết. Những loài chim này ăn xác chết hoặc các loài động vật khác, và việc xếp chúng vào nhóm không sạch có thể tượng trưng cho sự chết và sự ô uế về mặt đạo đức. Bằng cách tránh những loài chim này, dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa được nhắc nhở phải tránh xa sự băng hoại, cả về thể chất lẫn thuộc linh. Sự chú ý đến từng loài chim cụ thể nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thánh khiết trong mọi phương diện của đời sống.
Lê-vi Ký 11:20-23 (VIE1934)
20 Hễ côn-trùng nào hay bay, đi bốn cẳng, thì các ngươi hãy lấy làm gớm-ghiếc.
21 Nhưng trong loại côn-trùng nào hay bay và đi bốn cẳng, các ngươi được ăn con nào có cẳng đặng nhảy trên đất;
22 là con cào-cào tùy theo loại nó, con ve tùy theo loại nó, châu-chấu tùy theo loại nó, con dế tùy theo loại nó.
23 Các loài côn-trùng khác hay bay và có bốn cẳng, thì các ngươi phải lấy làm gớm-ghiếc.
Đức Chúa Trời mở rộng luật về thức ăn đến các loài côn trùng có cánh. Hầu hết các loài côn trùng đều bị xem là không sạch, nhưng có những ngoại lệ dành cho cào-cào, ve, châu-chấu và dế, là những loài có thể ăn được. Những loài côn trùng được phép này có lẽ được xem là tinh sạch vì chúng ăn thực vật thay vì vật chất đang phân hủy hoặc những côn trùng khác. Sự phân biệt này phản ánh nguyên tắc chung rằng những sinh vật tinh sạch là những loài sinh tồn theo cách phù hợp với trật tự tự nhiên mà Đức Chúa Trời đã thiết lập.
Lê-vi Ký 11:24-28 (VIE1934)
24 Các ngươi sẽ vì loại đó mà bị ô-uế; ai đụng đến xác chết loài đó sẽ bị ô-uế cho đến chiều tối.
25 Ai mang xác chết loài đó phải giặt áo-xống mình, và bị ô-uế cho đến chiều tối.
26 Các thú nào có móng rẽ ra, nhưng không có chân chia hai và không nhơi, tất phải lấy làm ô-uế cho các ngươi; ai đụng đến sẽ bị ô-uế.
27 Trong giống đi bốn cẳng, hễ con nào đi trên bàn cẳng, thì kể là không sạch cho các ngươi; ai đụng đến xác chết nó sẽ bị ô-uế đến chiều tối;
28 còn ai mang xác chết nó sẽ giặt áo-xống mình, và bị ô-uế đến chiều tối; các loài đó là không sạch cho các ngươi.
Ở đây, Đức Chúa Trời thiết lập các quy định liên quan đến việc tiếp xúc với những loài vật không sạch. Chỉ cần đụng vào xác của một con vật không sạch cũng khiến một người bị ô uế theo nghi lễ cho đến chiều tối và phải giặt áo xống. Mạng lịnh này nhấn mạnh tầm quan trọng mang tính biểu tượng của sự sạch sẽ, vì sự ô uế về thể chất do chạm vào xác chết tượng trưng cho sự ô uế về mặt đạo đức và thuộc linh. Việc thanh tẩy theo nghi lễ là một lời nhắc nhở về nhu cầu giữ mình tinh sạch và biệt khỏi những ảnh hưởng ô uế, cả trong lĩnh vực thể chất lẫn thuộc linh.
Lê-vi Ký 11:29-31 (VIE1934)
29 Trong loài đi bò trên mặt đất, nầy là những loài lấy làm không sạch cho các ngươi: con chuột nhủi, con chuột lắt, con rắn mối, tùy theo loại chúng nó;
30 con cắc-kè, kỳ-đà, con thạch-sùng, con kỳ-nhông và con cắc-ké.
31 Trong các loài côn-trùng, những loài đó lấy làm không sạch cho các ngươi; ai đụng đến xác chết nó sẽ bị ô-uế cho đến chiều tối.
Phần này đề cập đến tình trạng không sạch của nhiều sinh vật nhỏ bò trên mặt đất, như chuột và một số loài thằn lằn. Đức Chúa Trời tuyên bố những loài này là không sạch, củng cố nguyên tắc rằng những sinh vật có cách di chuyển thấp hoặc lén lút có thể tượng trưng cho sự ô uế. Bất cứ ai đụng đến xác của chúng cũng bị ô uế theo nghi lễ cho đến chiều tối và cần được thanh tẩy. Quy định này càng nhấn mạnh khái niệm biệt riêng khỏi mọi hình thức ô nhiễm, kể cả qua sự tiếp xúc gián tiếp.
Lê-vi Ký 11:32-35 (VIE1934)
32 Bất luận vật nào, hễ loài nầy chết rớt nhằm trên, thì đều bị ô-uế, hoặc đồ bằng cây, áo-xống, da, bao, tức các vật người ta thường dùng; phải ngâm đồ đó trong nước, sẽ bị ô-uế cho đến chiều tối, rồi mới tinh-sạch lại.
33 Nếu vật chi của nó rớt nhằm đồ sành, các vật chi đựng ở trong đều sẽ bị ô-uế; phải đập bể đồ sành đó đi.
34 Phàm đồ ăn nào và các vật uống, mặc dầu để trong đồ sành nào mà bị nước đồ sành đó nhểu vào, sẽ lây ô-uế.
35 Phàm vật nào bị một vài miếng xác chết nó rớt nhằm, sẽ lây ô-uế; dầu lò, dầu bếp, cũng phải phá tan; nó đã bị ô-uế; các ngươi phải cầm nó là ô-uế vậy.
Những câu này trình bày chi tiết cách những vật tiếp xúc với xác của các loài vật không sạch cũng trở nên ô uế. Những vật như gỗ, áo xống hoặc da có thể được làm sạch bằng nước và vẫn bị ô uế cho đến chiều tối, trong khi những đồ bằng đất như bình đất phải bị đập vỡ, tượng trưng cho sự nhiễm bẩn không thể tiếp tục sử dụng. Ý tưởng ở đây là sự thánh khiết bao trùm mọi phương diện của đời sống, kể cả những vật dụng vật chất, và sự nhiễm bẩn từ những loài vật không sạch phải được xem xét nghiêm túc. Điều này cũng tượng trưng cho tính lan truyền của sự ô uế và sự cần thiết phải cẩn thận để duy trì sự tinh sạch.
Lê-vi Ký 11:36-38 (VIE1934)
36 Còn một cái suối, hoặc một hồ chứa nhiều nước, đều cứ được kể tinh-sạch; nhưng hễ ai đụng đến xác chết nó thì sẽ lây ô-uế.
37 Nếu vật chi của xác chết nó rớt nhằm trên hột giống nào người ta gieo, thì hột giống đó cứ kể tinh-sạch.
38 Nhưng nếu người ta có đổ nước trên hột giống đó và nếu vật gì của xác chết rớt nhằm, thì hột giống đó sẽ bị ô-uế cho các ngươi.
Các nguồn nước, như suối hoặc hồ chứa nhiều nước, được kể là tinh sạch ngay cả khi có xác của một con vật rơi vào, có thể vì tính chất của nước chảy mang ý nghĩa thanh tẩy. Tuy nhiên, bất cứ ai trực tiếp chạm đến xác đó sẽ bị ô uế. Hột giống dùng để gieo vẫn được xem là tinh sạch nếu xác của một con vật rơi nhằm, nhưng nếu hột giống đã được làm ướt bằng nước thì chúng trở nên ô uế khi tiếp xúc với xác. Những luật này cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến sự cân bằng giữa tính thực tế và sự tinh sạch, để đời sống có thể tiếp tục trong khi vẫn tuân theo các mạng lịnh của Ngài.
Lê-vi Ký 11:39-40 (VIE1934)
39 Khi một con thú nào các ngươi được dùng làm vật-thực chết đi, hễ ai đụng đến xác nó sẽ bị ô-uế đến chiều tối.
40 Kẻ nào ăn thịt của xác nó phải giặt áo-xống mình, và bị lây ô-uế cho đến chiều tối; còn ai khiêng xác nó sẽ giặt áo-xống, và bị ô-uế cho đến chiều tối.
Ngay cả những con vật tinh sạch, khi chết tự nhiên, cũng trở thành nguồn gây ô uế. Những người đụng đến hoặc khiêng xác của một con vật tinh sạch chết tự nhiên, hoặc thậm chí ăn thịt của xác đó, đều bị ô uế cho đến chiều tối. Họ phải giặt áo xống như một phần của tiến trình thanh tẩy. Điều này nhấn mạnh rằng sự chết, ngay cả nơi một con vật tinh sạch, cũng là một lực gây ô uế. Việc giặt áo xống tượng trưng cho nhu cầu thanh tẩy thuộc linh sau khi tiếp xúc với sự băng hoại gắn liền với sự chết.
Lê-vi Ký 11:41-43 (VIE1934)
41 Phàm loài côn-trùng nào bò trên mặt đất đều là sự gớm-ghiếc, không nên ăn thịt nó.
42 Vậy, không nên ăn thịt các loài côn-trùng đi bò trên mặt đất, là con nào bò bằng bụng, con nào đi bốn cẳng hay là đi nhiều cẳng, vì chúng nó là một sự gớm-ghiếc.
43 Các ngươi chớ vì một con nào trong loài côn-trùng mà lây cho thân mình phải gớm-ghiếc, không tinh-sạch hay là ô-uế.
Đức Chúa Trời nhắc lại tình trạng không sạch của tất cả các loài côn trùng bò trên mặt đất, đặc biệt là những loài bò bằng bụng như rắn hoặc có nhiều chân như rết. Những sinh vật này bị xem là đáng gớm-ghiếc, và việc ăn chúng sẽ khiến người ta bị ô uế. Mạng lịnh này nhắc nhở rằng sự tinh sạch trước mặt Đức Chúa Trời đòi hỏi phải tránh không chỉ sự nhiễm bẩn về thể chất mà còn những thực hành và hành vi được biểu tượng hóa qua những loài vật không sạch này. Điều đó dạy dân Y-sơ-ra-ên rằng sự thánh khiết là toàn diện và đòi hỏi sự chú ý đến từng chi tiết.
Lê-vi Ký 11:44-45 (VIE1934)
44 Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh. Các ngươi chớ vì một con nào của loại côn-trùng trên mặt đất mà làm lây ô-uế cho thân mình.
45 Vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi phải nên thánh, vì ta là thánh.
Tại đây, Đức Chúa Trời bày tỏ lý do nền tảng của những luật về thức ăn: sự thánh khiết của chính Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên được kêu gọi phản chiếu sự thánh khiết của Đức Chúa Trời bằng cách biệt mình ra thánh và tránh sự ô uế từ những loài vật không sạch. Căn tính độc đáo của họ với tư cách là dân của Đức Chúa Trời, là những người đã được Ngài đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô, đòi hỏi họ phải duy trì sự tinh sạch trong mọi lãnh vực của đời sống, kể cả việc ăn uống. Bản tính của Đức Chúa Trời trở thành tiêu chuẩn cho dân Y-sơ-ra-ên, và sự vâng lời những luật này biểu thị mối quan hệ giao ước của họ với Ngài.
Lê-vi Ký 11:46-47 (VIE1934)
46 Đó là luật-lệ về loài súc-vật, loài chim trời, các sinh-vật động dưới nước và các loài côn-trùng trên mặt đất,
47 để phân-biệt con không tinh sạch với con tinh sạch, con thú ăn được cùng con thú không ăn được.
Những câu kết luận này tóm tắt mục đích của các luật về thức ăn. Đức Chúa Trời ban những luật này để giúp dân Y-sơ-ra-ên phân biệt giữa điều tinh sạch và điều không tinh sạch, giữa loài được phép ăn và loài không được phép ăn. Sự phân biệt này không chỉ liên quan đến thức ăn mà còn đến khái niệm rộng lớn hơn về sự thánh khiết và sự tinh sạch trước mặt Đức Chúa Trời. Bằng việc tuân giữ những quy định này, dân Y-sơ-ra-ên bày tỏ sự tận hiến đối với ý muốn của Đức Chúa Trời và mong muốn duy trì sự ngay thẳng thuộc linh lẫn thể chất trong mối quan hệ giao ước với Ngài.

