
Lê-vi Ký 12
Lê-vi Ký 12 trình bày những luật lệ liên quan đến sự thanh sạch sau khi sanh đẻ. Chương này tập trung vào sự ô-uế theo nghi lễ của người đàn bà sau khi sanh con và những của-lễ cần phải dâng để được thanh sạch. Thời gian ô-uế khác nhau tùy theo việc sanh con trai hay con gái, phản ánh những sự phân biệt về văn hóa và tôn giáo trong thời kỳ đó. Chương này cho thấy sự quan tâm đến sự thanh sạch và nhu cầu mang tính biểu tượng về sự thanh tẩy trong sự thờ phượng.
Lê-vi Ký 12:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào một người đờn-bà thọ-thai và sanh một con trai, thì phải bị ô-uế trong bảy ngày, như trong kỳ kinh-nguyệt.
3 Qua ngày thứ tám, người ta phải làm phép cắt-bì cho đứa trẻ.
Đoạn này giải thích rằng khi một người đàn bà sanh một con trai, nàng bị kể là ô-uế trong bảy ngày, giống như trong kỳ kinh-nguyệt. Đến ngày thứ tám, đứa trẻ trai phải chịu phép cắt-bì, là dấu hiệu của giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Điều này nhấn mạnh ý nghĩa tôn giáo của phép cắt-bì và sự thanh tẩy cần thiết sau khi sanh con để duy trì sự thanh sạch theo nghi lễ.
Lê-vi Ký 12:4 (VIE1934)
4 Đoạn, người đờn-bà phải kiêng trong ba mươi ba ngày đương khi huyết mình được sạch, không nên đụng một vật thánh nào hay là đi tới nơi thánh cho đến kỳ làm thanh-sạch được trọn rồi.
Sau bảy ngày ô-uế ban đầu, người mẹ tiếp tục ở trong thời kỳ làm thanh sạch thêm ba mươi ba ngày. Trong thời gian này, nàng không được đụng đến vật thánh hoặc đi vào nơi thánh. Thời gian kéo dài này giúp nhấn mạnh tính thánh của sự sống và sự cần thiết phải duy trì sự thanh sạch giữa người mẹ cũng như cộng đồng.
Lê-vi Ký 12:5 (VIE1934)
5 Còn nếu người sanh con gái, thì sẽ bị ô-uế trong hai tuần, như trong kỳ kinh-nguyệt; phải kiêng trong sáu mươi sáu ngày hầu cho huyết mình được sạch.
Các quy định đối với việc sanh con gái nghiêm khắc hơn. Người mẹ bị ô-uế trong hai tuần thay vì một tuần, và thời gian làm thanh sạch cũng dài gấp đôi, kéo dài sáu mươi sáu ngày. Mặc dù đoạn này không giải thích lý do cho sự khác biệt đó, nó phản ánh những sự phân biệt về văn hóa và tôn giáo giữa việc sanh con trai và con gái trong thời kỳ ấy.
Lê-vi Ký 12:6 (VIE1934)
6 Khi kỳ làm mình cho thanh-sạch về đứa trai hay gái đã trọn rồi, người đờn-bà phải dâng cho thầy tế-lễ tại cửa hội-mạc một chiên con một tuổi, đặng làm của-lễ thiêu, và một bò-câu con hoặc một cu con đặng làm của-lễ chuộc tội.
Khi thời kỳ làm thanh sạch hoàn tất, người đàn bà phải đem các của-lễ đến dâng: một chiên con làm của-lễ thiêu và một con chim làm của-lễ chuộc tội. Của-lễ này cho thấy người đàn bà trở lại với sự tham dự đầy đủ trong cộng đồng thờ phượng và tượng trưng cho sự phục hồi địa vị thanh sạch theo nghi lễ. Của-lễ chuộc tội nhìn nhận sự ô-uế theo nghi lễ gắn liền với việc sanh đẻ.
Lê-vi Ký 12:7-8 (VIE1934)
7 Thầy tế-lễ sẽ dâng con sinh đó trước mặt Đức Giê-hô-va, làm lễ chuộc tội cho người; sự lưu-huyết người sẽ được sạch. Đó là luật-lệ về người đờn-bà sanh con trai hay là con gái.
8 Còn nếu người không thế lo cho có một chiên con, thì phải bắt hai chim cu, hoặc hai con bò-câu con, con nầy dùng làm của-lễ thiêu, con kia dùng làm của-lễ chuộc tội; thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người, thì người sẽ được sạch.
Thầy tế-lễ thực hiện các của-lễ để làm lễ chuộc tội cho người đàn bà, nhờ đó nàng được thanh sạch khỏi sự ô-uế của mình. Nếu người đàn bà không có khả năng dâng một chiên con, nàng có thể đem hai con chim thay thế, cho thấy Đức Chúa Trời đã ban một sự sắp đặt thích hợp cho những người có hoàn cảnh kinh tế thấp hơn. Điều này hoàn tất tiến trình làm thanh sạch, tượng trưng rằng người đàn bà nay đã được kể là thanh sạch theo nghi lễ và có thể trở lại với những sinh hoạt thờ phượng bình thường. Sự linh động trong loại của-lễ cho thấy luật pháp có sự chu cấp cho mọi người, để người đàn bà bất kể hoàn cảnh tài chính đều có thể đáp ứng những yêu cầu đã được Đức Chúa Trời ban.

